Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Vai trò đình, chùa, miếu (ThS Tạ Đức Tú)
Vai trò đình, chùa, miếu (ThS Tạ Đức Tú) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

 VAI TRÒ ĐÌNH, CHÙA, MIẾU TRONG ĐỜI SỐNG CỦA CƯ DÂN LÚA NƯỚC NAM BỘ

* ThS. Tạ Đức Tú

Trường Đại học Cần Thơ

1. Đình, chùa ngoài chức năng thực hiện các nghi lễ tôn giáo và tín ngưỡng, nó còn là nơi tiến hành các lễ hội truyền thống ở mỗi địa phương. Mỗi ngôi đình làng được xem như mái nhà chung của một cộng đồng người nhất định. Đây vừa là nơi thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh có trách nhiệm “Hộ quốc tí dân”, đem lại cảnh “quốc thới dân an”, “phong điều vũ thuận” và sự bình yên no ấm cho mỗi làng. Mái đình còn là nơi tụ hội của đông đảo bà con và thu hút khách thập phương trong mỗi dịp tế lễ. Công việc đình là việc ở làng, việc của những người nông dân “tay lấm”. Họ tự thành lập, tự tổ chức, quản lý và điều hành mọi việc, không chịu sự chi phối nào từ bên ngoài hay của các cấp chính quyền, đoàn thể. Người xưa đã từng nói “Phép vua thua lệ làng” là vậy! Trong bối cảnh hiện nay, khái niệm “làng” không còn rõ như trước, nhưng ngôi đình vẫn mang tên ngôi làng hiện hữu. Đình vẫn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung.

Nơi người dân không chỉ tụ họp đông đúc trong mỗi kỳ cúng đình – Thượng điền và Hạ điền – được xem múa lân, hát bội sau một vụ mùa cực nhọc. Đình còn là chốn họp hành, sinh hoạt văn nghệ, học cách ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, cùng học hỏi kinh nghiệm để phát triển kinh tế gia đình. Thậm chí, đình là nơi phân xử, hoà giải những tranh chấp, vướng mắc trong làng. Thiết thực hơn, sân đình còn là sân phơi, bãi “tập kết” tạm vật tư nông nghiệp, nông sản của người dân. Như vậy, công năng của đình xưa nay không hề thay đổi: Đình vẫn là mái nhà chung cho các việc làng 1.


Chùa cũng vậy, ngoài chức năng chính là thờ Phật, sinh hoạt tôn giáo thông thường, ngôi chùa cũng là nơi tổ chức các lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương tham gia. Đồng thời cũng thu hút du khách gần xa tham quan, vãng cảnh. Bên cạnh đó, nhiều chùa còn là cơ sở giáo dục, y tế, tổ từ thiện chăm lo bồi đắp tinh thần và sức khoẻ của nhân dân, đặc biệt là người dân nghèo. Đó là những giá trị, những đóng góp rất thiết thực mà mỗi ngôi chùa thực hiện.


Ngoài những công năng như đã nói, đình, chùa ở Nam bộ trong chiến tranh còn là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng, quân lương, là nơi thành lập nhiều chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên, nơi phát động nhiều cuộc vũ trang khởi nghĩa giành thắng lợi chung cho cách mạng. Cho nên, có rất nhiều đình, chùa ở Nam bộ đã được công nhận là di tích lịch sử, di tích cách mạng.


2. Ở Nam bộ, tự thuở sơ khai đã có sự cộng cư chủ yếu của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khơ me. Các dân tộc có phong tục tập quán, tín ngưỡng khác nhau nhưng sống rất chan hoà, gần gũi và ít nhiều đã có sự hoà trộn trong không gian văn hoá và môi trường tự nhiên nơi đây.


Người Kinh có đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, phối thờ Tiền hiền, Hậu hiền, Tiên sư, Tiên giác, các anh hùng dân tộc, liệt sĩ trận vong… có chùa thờ chư Phật, chư Bồ tát và vong linh những người quá cố. Người Hoa có chùa Ông, chùa Bà theo cách gọi dân gian, thực ra đó là miếu hoặc cung. Chùa Ông chủ yếu thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Vân Trường – một nhân vật trung liệt nổi tiếng thời Tam Quốc), ông Bổn (Trịnh Hoà – một Thái giám triều Minh, từng chu du nhiều nước khám phá địa lý, phát triển thương nghiệp, thúc đẩy di dân và giúp đỡ Hoa kiều). Chùa Bà thường thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu hoặc Kim (Diêu) Trì Thánh Mẫu. Cả chùa Ông lẫn chùa Bà thường phối thờ Bồ tát Quán Thế Âm (Phật mẹ Nam Hải) – vị Bồ tát cứu khổ, cứu nạn thế gian. Chùa của người Hoa ngoài chức năng thờ tự còn là nơi sinh hoạt tập trung của cộng đồng người Hoa sang Việt Nam định cư (còn gọi là Hội quán), nên người đứng đầu, tổ chức và quản lý chùa luôn là Hội trưởng. Chùa của người Khơ me chỉ có duy nhất thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng chùa của người Khơ me Nam bộ rất thu hút bởi lối kiến trúc, những lễ hội lớn và kiểu sinh hoạt tôn giáo độc đáo.


Nam bộ xưa và một bộ phận lớn ngày nay là lao động nông nghiệp, mà điển hình hơn hết là trồng lúa nước. Cho nên các phong tục, tập quán và lễ hội của người dân Nam bộ thường gắn liền với lúa nước. Cư dân làm lúa nước Nam bộ có thói quen sống khá phân tán, thường ở các vàm sông lớn (sau do tiện giao thông nên thành chợ), men theo kinh rạch hay lộ giới 2. Nhưng một bộ phận lớn hơn là những cư dân định cư theo địa hình đất canh tác. Nghĩa là đất đai có ở chỗ nào thì đào ao lên liếp, cất nhà ở khoảng cao chính giữa. Ao thả cá, liếp trồng hoa màu, bìa liếp trồng cây to chắn bớt nắng gió, mép liếp trồng cây ăn trái như chuối, dừa hoặc cây thuốc nam để tận thu các nguồn lợi từ đất nông nghiệp. Ngoài ra còn có khoảng sân tách biệt với khu trồng trọt dùng để nuôi gà, vịt, heo làm thực phẩm, trâu bò lấy sức kéo. Xung quanh không gian nhà ở là ruộng lúa, rất tiện trong việc chăm sóc đồng ruộng.


Với lối định cư như vậy, trong khu vực nông thôn, ít có mảng nhà liền vách nên nhu cầu trao đổi thông tin và hàng hoá giữa các hộ với nhau là rất lớn. Từ đó, nhu cầu có nơi sinh hoạt chung là bức bách. Đối với người Kinh, đình làng là nơi thuận tiện nhất, bởi theo lệ thường, đình bao giờ cũng ở vàm sông, thuận tiện cho giao thông thuỷ đặc trưng Nam bộ, xung quanh đình cũng có nhiều hộ buôn bán nhỏ phục vụ khách vãng lai (hình thành chợ nhỏ - thị tứ). Người Khơ me thường sống theo đất giồng, hình thành các phum, sóc. Mỗi sóc thường có một ngôi chùa riêng do chính người trong sóc quyên góp tài vật xây dựng, trùng tù. Ngày ngày các sư trong chùa đến cửa từng nhà quyên cơm canh (hoặc các sản vật nông nghiệp khác) về cúng Phật, các Phật tử cũng đều đặn đến chùa nghe giảng kinh và gửi con trai vào chùa tu học, nên ngôi chùa chính là ngôi nhà chung của đồng bào dân tộc Khơ me.


Do đặc tính dân tộc và ảnh hưởng của các cuộc di cư, đồng bào người Hoa thường sống tập trung nơi phố thị, họ thường làm đầu mối thu mua sản phẩm nông nghiệp và phân phối các nhu yếu phẩm, vật tư nông nghiệp cho người Kinh và Khơ me. Trên khắp các thị trấn và thành phố lớn ở Nam bộ, kể cả Thành phố Hồ Chí Minh, đều có đông người Hoa sinh sống. Họ thường không có hoặc có ít ruộng đất, sinh nhai chủ yếu là trao đổi thương phẩm hàng hoá. Mỗi cộng đồng người Hoa có thành lập Hội đồng hương riêng, lấy Hội quán là các miếu thờ làm nơi sinh hoạt. Do vậy, miếu (chùa ông hay chùa bà) vừa là nơi thờ tự theo tín ngưỡng của dân tộc, vừa là nơi hội tụ cộng đồng để san sẻ, nắm bắt thông tin nhằm phát triển kinh tế thương nghiệp. Đây cũng là một sự phân công tương đối điển hình của cư dân lao động lúa nước Nam bộ. Và mái đình, ngôi chùa tự thuở khai hoang mở cõi đến nay đã không thể thiếu ở nơi này.


Ngày nay, tuy dân cư đông đúc, tốc độ đô thị hoá nông thôn diễn ra nhanh chóng nhưng lối phân công lao động như trên vẫn còn khá điển hình. Có thể nói, mỗi dân tộc ở Nam bộ có phong tục tập quán, tín ngưỡng và khu vực sống khác nhau, sở hữu kiến trúc thờ tự cũng khác nhau. Nhưng từ lâu họ đã sống cởi mở chan hoà từ thực tế sản xuất và sinh hoạt. Hầu hết các lễ hội được tổ chức ở đình, chùa cả ba dân tộc từ thành thị tới nông thôn đều chật ních người tham dự, đặc biệt là sự giao lưu qua lại giữa các dân tộc với nhau. Từ lễ rước kiệu chùa Ông, chùa Bà của người Hoa, lễ thỉnh sắc Thần ở đình của người Kinh cho đến các lễ hội cúng của riêng người Khơ me như lễ Dâng bông, lễ Phước biển, lễ rước nước (đua ghe ngo)… đều có sự tham gia giúp sức và chung vui của cả ba dân tộc, trở thành những ngày hội lớn thu hút đông đảo du khách đến thăm.


3. Từ Bắc tới Nam, từ thành thị tới nông thôn, có thể nói, hình ảnh mái đình, ngôi chùa luôn là điểm nhấn quan trọng của cả chiều sâu văn hoá lẫn kiến trúc. Như đã nói, đình, chùa từ khi xây cất đã là mái nhà chung của một cộng đồng, được cộng đồng xây dựng và bảo vệ, mang dáng dấp, bộ mặt của một làng nên kiến trúc xây dựng luôn lộng lẫy, trang hoàng, nổi bậc và toạ lạc ở những vị trí “đắc địa”. Nếu một làng được tính là một mái nhà chung thì đình, chùa ở mỗi làng chính là gian trang trọng nhất để thờ phụng thần phật, tổ tông. Đó là bản chất văn hoá hiếu đạo người Việt Nam. Đình, chùa ở Nam bộ ngoài ý nghĩa chủ đạo bồi thực tinh thần đó, nó còn là nơi để gìn gìn nét đẹp văn hoá, thúc đẩy giao thương, phát triển kinh tế của mỗi địa phương. Ở Nam bộ, nơi có ba dân tộc (chính) cùng sinh sống, rải đều từ thành thị tới nông thôn thì mối quan hệ giữa đình, chùa đối trong đời sống của người dân càng có vị trí đặc biệt. Cho nên việc nghiên cứu cấu trúc mối quan hệ này có tính quyết định, giúp chúng ta cả về phát triển kinh tế lẫn giữ gìn bản sắc văn hoá địa phương nói chung và văn hoá mỗi dân tộc nói riêng.

1 Tác phẩm cùng tên rất nổi tiếng của nhà văn Ngô Tất Tố bàn về việc làng thuở trước.

2 Người Nam bộ có câu: Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ.

Cập nhật ( 21/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online