Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Công cuộc kháng Pháp (Nguyễn Thanh Lợi)
Công cuộc kháng Pháp (Nguyễn Thanh Lợi) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

 CÔNG CUỘC KHÁNG PHÁP VÀ HÀNH ĐẠO CỦA NGÔ LỢI

 * Nguyễn Thanh Lợi

Trường Cao đẳng Sư phạm TW-TP.HCM

Ngô Lợi (1831-1890) lúc nhỏ tên là Ngô Viện, húy là Lợi, còn gọi là Ngô Tự Lợi, Năm Thiếp là người Mỏ Cày (Bến Tre). Cha ông là Ngô Nhàn, người xã Bình An, tỉnh Định Tường, làm nghề thợ mộc. Ông theo Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, thu hút rất đông tín đồ, lập chùa ở Trà Lọt (Hòa Khánh, Cái Bè), Cửu Viễn (Thân Cửu Nghĩa, Châu Thành).

Vốn có năng khiếu nghiên cứu kinh kệ Phật giáo, ông đã tích lũy được nhiều kiến thức. Từ năm 1851, khi mới chỉ 20 tuổi, ông viết kinh Đà La Ni, dài 223 chữ Hán, nội dung xưng tán Quán Thế Âm Bồ tát để khuyên người đời tu niệm, đặt nền tảng giáo lý cho việc khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Năm 1870, Ngô Lợi lấy danh hiệu Đức Bổn Sư, bắt đầu phát phái quy y, thu nạp tín đồ.

Sau khi liễu đạo, ngày rằm tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), Ngô Lợi cùng tín đồ đến xã An Lộc, tổng An Lương, tỉnh An Giang cất chùa ở xã Bình Long, lập cơ sở truyền đạo, rồi mở rộng sang cù lao Ba (An Phú, Châu Đốc).

Đây là thời kỳ đen tối của lịch sử Nam Kỳ, nghĩa quân thất trận, nông dân mất ruộng vào các tay thực dân, địa chủ, Ngô Lợi đứng ra quy tụ tín đồ, tập hợp lực lượng yêu nước để chờ thời cơ. Thực dân Pháp ra sức đàn áp lực lượng chống đối.

Ông đi chữa bệnh nhiều nơi, đặc biệt sau trận dịch hoành hành dữ dội vào năm 1876, mà lúc bấy giờ gọi là bệnh “thời khí” (dịch tả) khiến dân chúng và cả binh lính Pháp chết rất nhiều, vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết "học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theo thập nhị giáo điều". Tháng Giêng năm Bính Tý (1876), ông sai một cao đồ trung tín tên Trần Tịnh đi khảo sát vùng núi Tượng, đưa một số đệ tử vào theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới. Vùng đất này hoang vu, mùa nắng thiếu nước ngọt, nhưng lại thuận tiện vì gần kinh Vĩnh Tế, dễ rút qua Campuchia khi có động. Năm này đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã được ông khai sáng tại làng An Định. Ngoài ra, Ngô Lợi cùng tín đồ đã khai hoang, mở được ba làng An Hòa (1882), An Thành (1883), An Lập (1887), nay đều thuộc thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Vùng thánh địa của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thuộc núi Tượng-núi Dài, nằm trong dãy Thất Sơn (Bảy Núi) huyền bí.

Tại đây, ông khuyên tín đồ khai mở đất đai, làm ăn sinh sống, mọi người cùng giúp sức nhau, tu niệm, nghe giảng đạo pháp…hướng tới cộng đồng. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ một vùng đất hoang vu, cằn cỗi, nơi đây đã biến thành một vùng trù phú, nhà cửa, dân cư san sát nhau như ‘bánh ếch xếp trên sàng” ở vùng đất địa đầu Tây Nam của Tổ quốc. Ông cùng các tín đồ tập luyện võ nghệ, biến các ấp trại thành căn cứ chống Pháp.

Mọi người được khuyến thiện thông qua việc làm hàng ngày, tín đồ không ăn chay trường, không rời bỏ gia đình, chỉ mặc quần áo bà ba đen, đi chân đất, để tóc dài và búi tó, tẩy chay hàng hóa của giặc, co về với lối sống cũ của xóm ấp hẻo lánh…

Trong năm 1876, Ngô Lợi tổ chức một đại lễ trai đàn quy mô vào dịp trung nguyên tại làng An Định để cầu siêu cho những vong linh “vị quốc vong thân”, kéo dài 3 ngày đêm, thu hút hàng ngàn người đến dự nhằm khơi dậy ngọn lửa yêu nước, khiến thực dân Pháp lo sợ.

Năm 1877, Ngô Lợi đến Mỹ Tho phát bùa trị bệnh cho đồng bào địa phương, nên càng được sự tin tưởng của quần chúng. Ngày 16-2-1878, nhân lễ thượng nguyên, ông trở lại chùa Hiếu Nghĩa tại làng Hòa Khánh (Trà Lọt, Cái Bè) cũng với một đệ tử người địa phương tên Nguyễn Văn Vi (Nguyễn Kế Trung, “thầy Vi”, ông “đạo Tư”), tổ chức lễ đại trai đàn lần thứ nhất, có đến 200 người tham dự. Ông rao giảng là đời “Minh Hoàng” sắp thành lập, ai trễ nãi việc tu hành thì bị thú dữ ăn thịt.

Lần trai đàn thứ nhì diễn ra vào ngày 30-4-1878, tại Tân Phú Đông (Cai Lậy), quy tụ ba làng Tân Hội, Điềm Huy, Dưỡng Điềm. Tại đây, ông kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp, phong cho hai đệ tử thân tín là Lê Văn Ong chức chánh tướng và Võ Văn Khả chức phó tướng nhằm chiếm vùng Mỹ Tho, kể cả tỉnh lỵ. Dân các làng đem heo đến làm thịt thết đãi. Cai tổng Thuận Bình báo động, bắt một số “thầy vãi” nộp cho chủ tỉnh Mỹ Tho.

Ông Khả và ông Ong về làng Tân Phú Đông (xã Tân Phú nay) xây dựng căn cứ, chiêu tập nghĩa binh, chờ thời cơ khởi nghĩa. Hai ông sử dụng các pháp thuật nhằm thu hút đồng đạo. Thực dân Pháp bắt đầu chú ý đến các hoạt động này và ra lệnh bắt bớ.

Mưu đồ bị bại lộ, hai ông quyết định khởi nghĩa. Chiều ngày 30-4-1878, nghĩa quân tập trung tại làng Tân Phú Đông. Ngày 2-5-1878, nghĩa quân làm lễ xuất quân ở kinh Bà Bèo. Họ dùng kế nghi binh, hàng trăm người trang bị giáo mức, gậy gộc, reo hò, trống gióng. Lúc này, đạo quân chủ lực tập trung ở làng Cửu Viễn (nay là xã Thân Cửu Nghĩa, huyện Châu Thành, Tiền Giang), cách không xa chợ Mỹ Tho, nhằm theo lộ Đông Dương tiến về tỉnh lỵ Mỹ Tho.

Châu bản triều Nguyễn thời Tự Đức ghi chép về hoạt động của nghĩa quân thông qua báo cáo của Nội các ngày 1 tháng 6 năm Tự Đức thứ 31 (30-6-1878): “Bọn thần Cơ mật viện, Thương bạc tâu: Hôm qua tiếp tư văn của lãnh Tuần phủ Bình Thuận là Hồ Đăng Phong kính tiến trình cũng với tờ mật bẩm của phái viên tỉnh ấy và 12 tờ nhựt báo của quyền Khâm phái kiêm Lãnh sự Gia Định là Nguyễn Lập. Căn cứ theo tư văn ngày mồng 8 tháng trước quyền Khâm phái thần là Nguyễn Lập nói (đã nghe hai xứ Tháp Mười và Cai Lậy ở Định Tường và xứ Vũng Liêm ở Vĩnh Long đều có phỉ nổi lên phần nhiều do người trong đạo Thích (đúng ra là tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương-NTL chú), hành binh dùng nhiều ảo thuật, hoặc kết cỏ thành hình nộm, sai cầm cờ, cầm kiếm, đánh trống hò reo tiếng người…như đã tâu), tức là khoản “sư giải” cũng khá gần đúng…

Thần Trần Tiễn Thành, thần Nguyễn Văn Tường, thần Lê Bá Thận, thần Trần Thúc Nhẫn, thần Nguyễn Trọng Biện phụng thảo duyệt”.

Pháp liền điều động binh lính tăng viện cho các đồn Thuộc Nhiêu, Cai Lậy. Đích thân chánh Tham biện Mỹ Tho chỉ huy một đội quân gồm 10 lính thủy và 38 lính mã tà theo đường sông từ Mỹ Tho tiến về Cai Lậy. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, ông Ong rút về Tháp Mười tiếp tục kháng chiến. Ông Khả trốn về An Mỹ (Phú An, Cai Lậy) để dưỡng bệnh. Năm 1879, cả hai ông đều bị bắt và bị chém ở chợ Thuộc Nhiêu. Ngô Lợi cùng nghĩa quân ở Mỹ Tho và Vũng Liêm chạy về núi Tượng, căn cứ của đạo Hiếu Nghĩa trước đây.

Trong công văn ngày 29-5-1878, Giám đốc Nội vụ ở Sài Gòn ra lệnh cho các tham biện các tỉnh Nam Kỳ phát lệnh truy nã ông Năm Thiếp với số tiền thưởng lên đến 1.000 quan. Hành tung của ông luôn bí ẩn dưới con mắt của chính quyền do sự che chở của quần chúng. Ông như thoắt ẩn thoắt hiện, nay ở tỉnh này, mai ở tỉnh kia. Mạng lưới do thám được xây dựng khắp nơi nhưng dường như bất lực.

Trong những năm 1881-1888, thực dân Pháp đã nhiều lần bố ráp làng An Định, nhưng không lần nào chúng bắt được Ngô Lợi.

Ngày 9-8-1881, Pháp bí mật đánh úp vào An Định, bắt được 10 người có tên trong danh sách bị truy lùng vì tham gia khởi nghĩa năm 1878, rồi rút đi sau khi đốt phá chùa chiền, nhà cửa của bổn đạo.

Ngày 16-4-1885, tên tay sai của Pháp là Trần Bá Lộc cho quân bao vây núi Tượng (Châu Đốc), bắn giết tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đốt chùa Tam Bửu. Đức Bổn Sư đưa thân mẫu cùng 1.800 người chạy sang Vườn Dầu (xã Xom, huyện Karivong, tỉnh Takeo, Campuchia) để lánh nạn.

Từ ngày 13 đến ngày 19-5-1887, Pháp huy động lực lượng lớn tiến đánh núi Tượng, quyết xóa sổ, giải thể các làng xóm trong căn cứ do Ngô Lợi lập nên. Trận này do Thiếu tá Peigneaux chỉ huy với sự tham gia của Trần Bá Lộc. Quân Pháp đốt phá An Định, An Hòa. Những phần tử có lý lịch chống Pháp bị đày đi Côn Đảo, những người khác bị trục xuất về bản quán. Nhưng dưới sự che chở của nhân dân, Ngô Lợi đã tránh thoát được.

Cuối năm 1877, Pháp lại tổ chức tấn công vào An Định, bắt được 8 người tham gia phong trào Cần vương mà chúng nắm được lý lịch, xử tử họ và chôn chung một hầm.

Đầu năm 1888, quân Pháp kéo vào núi Tượng, đốt phá chùa chiền, cướp đi nhiều báu vật.

Đến tháng 2-1888, nhận thấy không thể dùng bạo lực truy bức dân chúng ở làng An Định ra khỏi địa phương, Pháp phải cho tín đồ tự do sinh sống và dùng hội tề khống chế họ. Chúng sáp nhập thôn An Định vào xã Ba Chúc, sáp nhập thôn An Thành vào xã Lương Phi…dân chúng được làm ăn bình thường.

Lực lượng Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng liên kết với các thành phần bên Cao Miên để chống lại Pháp.

Cuối tháng 5-1885, đồng bào Khmer ở Thất Sơn, người Việt ở làng An Định cùng với người Khmer bên kia biên giới nổi dậy, nhanh chóng chiếm đồn Phú Thạnh, chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế, làm chủ vùng Tịnh Biên. Bọn Pháp ở Châu Đốc cho đại úy Ferussec đi thám sát nhưng không dám tới nơi đành rút lui. 4 tổng người Khmer ở vùng Thất Sơn đều ủng hộ cuộc khởi nghĩa của hoàng thân Si Vatha. Lãnh tụ Phủ Nghét (Cao Miên) cũng chiếm được tình cảm của người Khmer và người Việt tại chợ Hà Tiên.

Khi Trương Quyền liên minh với nghĩa quân Khmer do nhà sư Pakumpo lãnh đạo (1864 - 1867) chống Pháp đã bị thất bại, nghĩa quân chạy về vùng Thất Sơn và núi Tà Lơn (Campuchia), được tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa che chở, tránh sự bố ráp của thực dân Pháp. Nên phần lớn người Khmer cũng gia nhập trở thành tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Ngày 13-10 âl năm 1890, Ngô Lợi mất vì bị bịnh tại chùa Bửu Linh, thôn An Hòa (nay là khóm An Hòa B, thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang). Sau khi ông mất, phong trào kháng Pháp dần tan rã, chỉ còn lại đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Dù mượn màu sắc của tôn giáo để hoạt động, Ngô Lợi đã tập hợp được ngọn cờ yêu nước của những người bình dân trong bối cảnh xã hội Nam Kỳ có nhiều biến động do sự xâm lược của người Pháp. Trong những điều kiện còn hạn chế về nhãn quan chính trị, ông đã quy tụ được quần chúng, lúc dùng quân sự, lúc dùng “đạo” để chiến đấu chống lại thực dân xâm lược. Có thể hiểu được “vũ khí” tôn giáo mà Ngô Lợi đã sử dụng là phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, khi mà các cuộc khởi nghĩa vũ trang của Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân...đều thất bại, nhằm đối đầu với kẻ xâm lăng hùng mạnh hơn mình về nhiều mặt.

Bản thân tư tưởng hành đạo của Tứ Ân Hiếu Nghĩa với những quan niệm “tu nhân”đầy triết lý nhân sinh, gần gũi với nhiều giới, thích ứng với những đặc tính tâm lý của lớp cư dân Nam Bộ đã là điều kiện cho việc hình thành một tôn giáo mới ở vùng đất này.

Tìm hiểu về Ngô Lợi là để hiểu thêm về vùng đất An Giang nói riêng và Nam Bộ trên cả hai phương diện lịch sử và văn hóa nửa cuối thế kỷ XIX và những ảnh hưởng của nó cho đến tận ngày nay, nhất là điều kiện phát sinh và phát triển của một tôn giáo bản địa nơi miền biên viễn.


Chú thích:

(1) Theo Huỳnh Ngọc Trảng, Ngô Lợi sinh năm 1832 (Sổ tay hành hương đất phương Nam, tr.126). Sơn Nam theo tài liệu Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa ấn tống năm 1971, cho là Ngô Lợi sinh khoảng năm 1831. Còn Pháp ghi nhận năm sinh của ông vào 1838. (Cá tính miền Nam, tr.50).

(2) Theo nhà văn Sơn Nam, quê Ngô Lợi ở Trà Tân (Cai Lậy), cũng có tài liệu chứng tỏ ông quê tại Trà Lọt (Cái Bè). Tự dạng chữ Nôm thì hai địa danh Trà Tân và Trà Lọt dễ lầm lẫn. Còn Mỏ Cày thì bên kia bờ sông Tiền, gần hai địa danh trên. Còn theo Võ Thành Phương, Ngô Lợi sinh tại làng Bình An, tỉnh Định Tường vào ngày mùng 5 tháng 5 năm Tân Mão (1831) (Tìm hiểu An Giang xưa, Văn nghệ An Giang xb, 2004, tr.81).

(3) Ngoài bản kinh Bà La Ni Kinh, từ năm 1879 đến năm 1884, Ngô Lợi còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ. Các vị đại đệ tử của ông đã ghi chép lại thành tập sách Ngọc lịch đttập chú.

(4) Trong hai tháng mùa mưa, tháng 8-9/1882, tại tỉnh Cần Thơ, tổng An Trường số người chết vì dịch tả là 1.243, tổng Định Bảo 721, tổng Định Thới 512. Tháng 1-1883, tỉnh Châu Đốc có 223 người chết vì bệnh thổ tả (Cá tính miền Nam, tr.60).

(5) Các cơ sở thờ tự chính của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thời mở đạo: chùa Phi Lai (đình An Định, 1877), chùa Thanh Lương (1879), chùa Phổ Đà (đình An Hòa), chùa Tam Bửu (An Định, 1882), chùa Châu Linh (đình An Thành, 1883), chùa Long Châu, chùa Long Bửu (1884), chùa Vạn Linh (đình An Lập), chùa Tam Bửu (An Hòa, 1889)…

(6) Lê Văn Ong và Võ Văn Khả trước đây đều là bộ tướng của Võ Duy Dương.

(7) Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan, Tứ Kiệt & cuộc khởi nghĩa của nông dân Cai Lậy nửa cuối thế kỷ XIX, Huyện ủy-Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, 2011, tr.65-66.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ cuối thế kỉ XIX, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, 1997.

2. Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với phong trào kháng chiến chống Pháp. Trong Nam Bộ xưa và nay, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh-Tạp chí Xưa & Nay, 1998.

3. Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt Nam Bộ (1867-1975), Nxb Trẻ, 1999.

4. Đinh Văn Hạnh, Vài nét về đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, 2001.

5. Đinh Văn Hạnh, Bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo nội sinh trường hợp đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ, Thông báo Khoa học, Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, số 1, tháng 6, 2010.

6. Mai Thanh Hải, Nhìn lại tôn giáo, tín ngưỡng dân gian Nam Bộ hơn 100 năm qua, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6, 2001.

7. Phan Lạc Tuyên, Các tôn giáo và đạo giáo ở Nam Bộ đặc tính và mối liên hệ với các tôn giáo ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, 2004.

8. Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan, Tứ Kiệt & cuộc khởi nghĩa của nông dân Cai Lậy nửa cuối thế kỷ XIX, Huyện ủy-Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, 2011.

9. Võ Thành Phương, Tìm hiểu An Giang xưa, Văn nghệ An Giang xb, 2004.

10. Trần Hoàng Diệu – Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên), Địa chí Tiền Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang - Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, 2005.

11. Nhiều tác giả, Địa chí An Giang, tập 2, Sơ thảo, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, 2007.

12. Nguyễn Hữu Hiệp, Ngô Lợi cùng “bá gia” với vùng đất biên cương, Tạp chí Xưa & Nay, số 280, tháng 3, 2007.

13. Nguyễn Phương An, Ngô Lợi và phong trào kháng Pháp tại Ba Chúc, Tạp chí Xưa & Nay, số 337, tháng 8, 2009.

14. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên), Sổ tay hành hương đất phương Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

15. Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đông Phố xb, Sài Gòn, 1973.

16. Sơn Nam, Cá tính của miền Nam, Đông Phố xb, Sài Gòn, 1974.

17. Sơn Nam, Lịch sử An Giang, Nxb Tổng hợp An Giang, 1988.

18. Dật Sĩ, Nguyễn Văn Hầu, Thất Sơn mầu nhiệm, Từ Tâm xb, 1972.

19. Ngô Văn Lệ, Về một số đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo của cư dân Nam Bộ. Trong Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, Kỷ yếu hội thảo khoa học lần thứ 3, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2011.

20. Nhiều tác giả, Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, 2009.



Cập nhật ( 23/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online