Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Đất và người Nam bộ qua ca dao- dân ca (Nguyễn Thị Huyền Trang)
Đất và người Nam bộ qua ca dao- dân ca (Nguyễn Thị Huyền Trang) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM BỘ QUA CA DAO – DÂN CA

* Nguyễn Thị Huyền Trang

Trường Đại học Bạc Liêu

1. Ngày nay nói đến Nam Bộ, chúng ta nghĩ đến một vùng đất màu mỡ có phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp hữu tình, có tài nguyên giàu có, trù phú. Chúng ta cũng không thể quên được con người Nam Bộ với tính tình cởi mở, hào hiệp, nặng nghĩa nhiều tình… những phẩm chất mà hình như đất nước thiêng liêng đã dành riêng cho mảnh đất phương Nam này!

Xét về vị trí địa lý, Nam Bộ là vùng đất nằm cuối cùng đất nước về phía Nam. Địa hình toàn vùng khá bằng phẳng, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam tiếp giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ.

          Nam Bộ gồm các tiểu vùng: Đông Nam Bộ (với các tỉnh thành Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tây Nam Bộ (với các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh).

Đây là vùng đất được thiên nhiên phú cho vẻ đẹp tự nhiên, khoáng đạt; tiếp giáp biển Đông và hệ thống kênh rạch chằng chịt, lượng phù sa dồi dào bồi đắp quanh năm tạo nên vị thế quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Cuộc khẩn hoang vĩ đại bắt đầu từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX do số người dân bản địa ít ỏi và thưa thớt nơi này (chủ yếu là người Chăm và Khmer), cùng những người Việt (không sống nỗi nơi quê hương dưới sự áp bức, bốc lột và hà hiếp của tầng lớp thống trị phong kiến; hoặc vì quá bất mãn với triều đình và thời cuộc mà rời nơi “chôn rau cắt rốn” của mình) cùng khai hoang, lập nghiệp, bằng nhiều con đường vượt bể, xuyên rừng, băng đèo, lội suối, với nỗ lực phi thường đã viết thêm trang sử vẻ vang về thời kỳ khai phá.

2. Ca dao - dân ca Nam Bộ là một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc đề diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình cảm gia đình, lứa đôi, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác.

2.1.Đặc điểm của ca dao dân ca Nam Bộ

2.1.1. Đặc điểm về nội dung

Đó là tâm tình, cảm nghĩ của người dân Lục tỉnh đối với quê hương đất nước; là những suy nghĩ của con người xung quanh những chiến công của cha ông trong lịch sử, những thành công trong lao động, những thắng lợi trong chiến đấu, những kì tích đạt được trong việc phát triển nền văn hóa dân tộc.

Đó là tình cảm yêu đương và tâm tình của nam nữ thanh niên, thể hiện nỗi nhớ, niềm thương một cách tự nhiên, bộc trực.

Đó còn là tiếng ca tình nghĩa của người lao động trong quan hệ gia đình, những biểu hiện đặc biệt sâu nặng của tình cảm chan chứa yêu thương, của những lo toan về nghĩa vụ và trách nhiệm của những người trong gia tộc, chòm xóm.

Ngoài ra, ca dao – dân ca Nam Bộ còn thể hiện những cảm nghĩ của nhân dân trong các mối quan hệ xã hội khác, thể hiện cái yêu, cái ghét, cái cao thượng, cái thấp hèn theo quan niệm thẩm mỹ của nhân dân.

2.1.2.. Đặc điểm về nghệ thuật

Về thể thơ, ca dao – dân ca Nam Bộ sử dụng khá phổ biến những thể thơ truyền thống dân tộc (thể thơ lục bát, song thất lục bát), đồng thời có xu hướng dùng các thể thơ tổng hợp (thể thơ vãn năm, vãn bốn,…)

Ca dao – dân ca Nam Bộ chứa đựng nhiều hình ảnh của đời sống, đặc biệt là thiên nhiên, hay hình ảnh của các nhân vật truyền thuyết, lịch sử.

Ngôn ngữ trong ca dao dân ca Nam Bộ cũng gần với lời ăn tiếng nói của họ: mộc mạc, chân chất nhưng thắm đậm nghĩa tình. Ngoài việc sử dụng kho từ ngữ giàu có của toàn dân thì từ ngữ địa phương chiếm một lượng đáng kể.

2.1.3. Đặc điểm về môi trường và hình thức diễn xướng

 Có 4 hình thức diễn xướng:

– Diễn xướng của hò chèo ghe

– Diễn xướng của hò cấy

– Diễn xướng của hát ru

– Diễn xướng của các điệu lý

2.2. Đất và người Nam Bộ qua ca dao dân ca

2.2.1. Đất Nam Bộ qua ca dao - dân ca

2.2.1.1. Thiên nhiên hoang sơ, khắc nghiệt

Là nơi mà sự sống ngủ vùi trong vẻ hoang sơ, u tịch và nguy hiểm trùng trùng. Những lớp người đầu tiên đến đây mở cõi, ngàn dặm băng rừng, lội bể vẫn không tìm thấy bóng dáng con người, ngoài:

Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy

Sự sống bị đe dọa từng ngày, trên mỗi bước chân và cái chết như sẵn sàng mọi lúc. Người ta vẫn tiến về phía trước dù không chắc rằng mình có sống được đến ngày mai, hay chỉ trong phút chốc sơ sẩy đã làm mồi cho sấu cắn, hổ vồ để rồi trở thành vong hồn trong gió thoảng, than khóc chốn quê người. Và khi đứng trước khung cảnh bí ẩn của xứ sở “rừng thiêng, nước độc, thú bầy” này, nỗi lo sợ của họ không phải là không thêm chồng chất.

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

2.2.1.2. Nam Bộ đẹp và giàu có về sản vật

Thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ nhưng không thiếu nét “mỹ lệ, yêu kiều” níu bước chân những người viễn xứ:

Nhất sơn núi Cấm xa xanh

Suối tuôn róc rách chảy quanh núi Dài

Sự hoang vu khiến Nam Bộ mang đến vẻ đẹp nao lòng:

Ruộng đồng mặc sức chim bay

Biển hồ lai láng mặc tình cá đua.

Trong một chừng mực nào đó có thể gắn sự giàu có sản vật tự nhiên với nét hoang sơ của môi trường. Vì thiên nhiên hoang sơ nên tất cả các loài vật đều có điều kiện để sinh sôi nảy nở. Ngược lại, chính sự tồn tại của các loài trong tự nhiên một cách “tự do” với số lượng nhiều tạo nên chất tự nhiên, tính “sẵn có”.

Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô

Phải chăng phong cảnh thiên nhiên dẫu khoác bộ cánh hoang sơ nhưng vẫn thắm đậm màu thơ mộng; khắc nghiệt cũng nhiều mà số trù phú cũng cao… Tất cả những điều ấy càng khơi nguồn âm điệu dạt dào cho ca dao – dân ca Nam Bộ thêm giàu chất trữ tình, đậm màu thi vị...

2.2.2. Người Nam Bộ qua ca dao dân ca

2.2.2.1. Người Nam Bộ cần cù và yêu lao động

Có lao động là có tất cả, người Nam Bộ tin tưởng vào điều đó, tin tưởng vào đôi tay của mình như một chân lý “có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Lúa khô, nước cạn ai ơi

Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu.

Khung cảnh thiên nhiên dù có làm họ lo sợ nhưng không làm họ nản chí, thoái lui. Bởi cháy trong họ là niềm mơ ước đổi đời, khát khao được sống yên lành nơi vùng đất mới. Thiên nhiên dù có khắc nghiệt, muốn “vùi dập” khát vọng của họ, họ vẫn thắp sáng niềm tin của mình bằng sự lao động cần cù, không quản khó nhọc.

Lao xao gà gáy rạng đông,

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.

Bước chân xuống cánh đồng sâu,

Mắt nhắm, mắt mở đuổi trâu ra đồng.

Họ yêu lao động vì chính nó khiến họ có được niềm vui dù trong vất vả:

Ví dầu áo tả quần tơi

Một sương hai nắng mà thảnh thơi trong lòng.

Người Nam Bộ như chỉ tin vào chính mình, tin vào sức mình và trong lao động ít có ý nghĩ dựa dẫm vào lực lượng siêu nhiên nào đó. Tư tưởng “thành bại tại thiên” dường như đã chuyển thành “thành bại tại nhân” từ lúc nào.

2.2.2.2. Tính cách quả cảm, bản lĩnh và ngang tàng

Những con người “giang hồ tứ chiếng” từ những vùng quê khác nhau mà lưu lạc hoặc cam tâm về vùng đất mới này, họ mang trong mình nhiều chất phản kháng, ít chịu sự ràng buộc của lễ giáo, không bao giờ bị khuất phục.

Trời sinh cây cứng lá dai,

Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều.

Mặc khác, việc khai thác vùng đất mới đầy gian khổ hiểm nguy cũng góp phần tôi luyện tính cách trên. Họ quả cảm, ngang tàng yêu thiết tha cuộc sống tự do, mong muốn được như những chú chim trời, cá nước vùng vẫy giữa cuộc đời rộng lớn, đầy biến động.

Bể sâu con cá vẫy vùng,

Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.

Chấp nhận tất cả rủi ro trên con đường phiêu bạt, người Nam Bộ coi nhẹ tính mạng nên sống ngang tàng. Họ dám sống, sống hết mình vì chân lý cuộc sống, vì tinh thần nghĩa hiệp.

Cây khô chết đứng giữa trời,

Chết thời chịu chết, không quên lời anh than.

Có thể thấy lối sống quả cảm, ngang tàng trong con người Nam Bộ là hệ quả của tinh thần nghĩa khí hào hiệp.

2.2.2.3. Tấm lòng trọng nghĩa khinh tài

Người Nam Bộ xưa nay được biết đến với tấm lòng trọng nghĩa khinh tài hiếm thấy. Họ vốn là những lưu dân đi tìm sự sống trong muôn ngàn cái chết. Qua nhiều lần thoát hiểm nhờ sự liên kết, nhờ tinh thần “hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly”, họ càng thấm thía thế nào là tình huynh đệ hào hiệp.

Dấn mình vô chốn chông gai,
Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân.

Lao xao sóng bủa dưới lùm,
Thò tay vớt bạn chết chùm cũng ưng.

Họ ghét cay, ghét đắng thói lợi dụng quyền thế để lấn áp kẻ yếu, kẻ thất thế. Với họ, người có tinh thần đạo nghĩa là người biết ăn ở thủy chung, kết giao không toan tính, dám liều thân giúp người.

Tiền tài như phấn thổ,

Nghĩa trọng tợ thiên kim.

Đứt dây nên gỗ mới chìm,

Người bất nhân bất nghĩa kiếm tìm làm chi.

Đó là quan niệm đạo nghĩa đề cao con người không phải ở tiền bạc, địa vị, dòng dõi mà ở thái độ sống tích cực, sống nghĩa khí, sống với tinh thần: “Bần tiện chi giao mạc khả vong. Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”.

2.2.2.4. Tấm chân tình thủy chung, son sắt

Trong tình yêu, người Nam Bộ rất mộc mạc, tự nhiên, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh, gây nên những bất ngờ thú vị. Vốn là những người lao động chân chất, nên họ bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè. Tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông.

Nhưng không phải người Nam Bộ nào cũng táo bạo trong tình yêu. Đôi khi họ cũng thẹn thùng, e dè rất dễ thương:

Thương người ta mà hổng dám nói,

Xách cây dù đi xuống, đi lên.

Và khi được cùng nhau trọn chữ yêu đương, họ quyết giữ dạ thủy chung dẫu vàng muôn, bạc vạn vẫn không làm họ thay lòng đổi dạ:

Ai kia phú quý em không màng,

Em quyết chờ chàng cho đặng nghĩa vàng sánh đôi.

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Đó cũng là nét đặc trưng tính cách của người dân nơi đây.

2.2.2.5. Tinh thần lạc quan, yêu đời

Nói đến người Nam Bộ, người ta thường nghĩ ngay đến những con người có óc hài hước và thích đùa.

Chiều chiều rủ bạn đi câu,

Cá khôn không đớp, rủ nhau hát hò.

Họ luôn cất cao tiếng hát, câu hò trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh dù không miếng đất cắm dùi hay phải sống cảnh màn trời chiếu đất, cốt sao vui vầy, hạnh phúc là được.

Đất là giường, trời là màn

Nghêu ngao ta hát câu ân tình thủy chung.

Hay:

Bậu chê qua áo nâu quần cọc,

Bậu theo họ, nhà rộng cửa cao

Bậu đem so sánh thử xem sao

Nhà qua bốn bể, ai là sang hơn?

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ.

2.2.2.6. Những trái tim nồng nàn yêu Tổ quốc

Được hun đúc bởi tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng, người dân Nam Bộ phát huy mãnh liệt nhiệt huyết yêu nước nồng nàn khi chứng kiến cảnh giặc kéo đến giày xéo quê hương. Trước thực tế đau xót đó, họ kêu gọi những tấm lòng trung can nghĩa đảm, yêu giống thương nòi cùng đứng lên khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước:

Làm trai đứng ở trên đời,
Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta.
Ghé vai gánh đỡ sơn hà,
Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu.

 Người Nam Bộ kiên định chỉ rõ đâu là chính nghĩa, đâu là gian tà. Và họ không ngừng nhắc nhở, khuyên nhủ mọi người không nên tham danh lợi mà làm tôi tớ cho quân xâm lược:

Đừng tham đồng bạc con cò,
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa.

Lòng căm thù của họ ví như nước biển Đông không lúc nào vơi cạn.

Xa xa Côn Đảo nhà tù

Biển sâu mấy khúc, dạ căm thù bấy nhiêu.

Đồng thời quyết tâm đánh đuổi bọn cướp nước trong họ cũng trào dâng mạnh mẽ:

Chừng nào còn nước Đồng Nai,

Anh còn giết giặc chẳng sai lời thề.

3. Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá với tính hoang dã, thoáng rộng của đồng bằng, sông nước mênh mông và kênh rạch chằng chịt. Nơi đây nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú dễ dàng khai thác nhưng cũng đầy nguy hiểm rập rình. Việc tìm hiểu “Đất và Người Nam Bộ qua ca dao - dân ca” giúp ta hiểu sâu hơn công cuộc khẩn hoang vĩ đại đó. Từ đó lý giải được vì sao tính cách của người Nam bộ lại là tính mở và phóng khoáng hơn người dân các vùng, miền khác. Điều này phần nào giúp chúng ta thêm hiểu, thêm quý những con người yêu lao động, sống đầy nhân nghĩa và bản lĩnh, ngang tàng này. Dù đối với Tổ quốc hay trong tình yêu, trái tim họ vẫn đập nhịp đập nồng nàn và chung thủy. Không chỉ vậy, họ luôn là những con người nêu cao “lá cờ” lạc quan yêu đời dẫu cuộc sống luôn bủa giăng đầy hiểm nguy, gian khổ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo Định Giang (chủ biên), 1984, Ca dao, dân ca Nam Bộ. NXB Tp. Hồ Chí Minh.

2. Đinh Gia Khánh, 2000, Văn học dân gian Việt Nam.

3. Bùi Văn Huệ, 1987, Tìm hiểu đôi nét Văn học dân gian Nam Bộ. NXB Mũi Cà Mau.

4. Huỳnh Lứa, 1987, Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ.

5. Trương Thu Trang, 2010, Đề cương bài giảng truyện Trạng Ba Phi. Khoa Sư phạm trường Đại học Bạc Liêu.

6. Hội khoa học lịch sử TP.HCM, 2002, Nam Bộ: Đất và Người. NXB Trẻ.



*

* *

*



Cập nhật ( 23/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online