Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tông Thiên Thai giáo quán (Tắc Hành)
Tông Thiên Thai giáo quán (Tắc Hành) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

TÔNG THIÊN THAI GIÁO QUÁN – Chi phái Cao Minh Tự ở Việt Nam

* Cư sĩ Tắc Hành

Vào năm 575 (năm Ất Mùi, niên hiệu Đại Kiến đời Trần Tuyên Đế, thời Nam Bắc triều), Tổ Trí Khải (538 – 597) thành lập tông môn tại núi Thiên Thai (thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc), sư tổ đã lấy tên núi đặt tên tông, gọi là tông Thiên Thai; tông Thiên Thai lấy Nhất tâm Tam quán làm chủ trương tu tập nên còn gọi Thiên Thai Giáo Quán; chư tổ đã trọng dụng kinh Pháp Hoa để phát huy giáo nghĩa, vì vậy cũng gọi tông Pháp Hoa.

          Đại sư Vô Tận Truyền Đăng thuộc đời thứ 30 của tông Thiên Thai, là người có công trùng hưng môn phái, ngài sáng tác nhiều tác phẩm giá trị như: Thiên Thai truyền Phật tâm ấn ký chú (2 quyển), Thiên Thai sơn phương ngoại chí (30 quyển) và hàng chục tác phẩm Phật học khác. Ngài xây dựng Đại Tông Đường để thờ chư tổ, họa hình chư tổ gọi là Thiên Thai tông nguyên lưu đồ để người đương thời và người đời sau chiêm bái.

Ngài thành lập chi phái Cao Minh Tự và biên soạn hai bài kệ đặt pháp danh và pháp hiệu để tạo sự thuận lợi cho việc truyền đăng trong chi phái, kệ pháp pháp danh bắt đầu bằng chữ Chơn để nhớ ơn thầy của mình, đó là ngài Bá Tòng Chơn Giác, đời thứ 29 của tông Thiên Thai, đồng thời ngài cũng tôn thầy mình làm Sơ tổ của chi phái Cao Minh Tự. Như vậy pháp danh thuộc hàng chữ Chơn theo chi phái Cao Minh Tự là đời thứ nhất, nhưng đối với tông Thiên Thai Giáo Quán lại thuộc đời thứ 29, các hàng chữ tiếp theo y cứ vào thứ tự này để tính tới. Về pháp hiệu cũng giống như vậy, cũng bắt đầu từ chữ Đại trong câu Đại giáo diễn dịch.


Thường thì Phật tử chỉ có pháp danh không có pháp hiệu, tu sĩ thì có cả pháp danh (sau khi tịch gọi là pháp húy) lẫn pháp hiệu, nhưng phải tương xứng với nhau theo thứ tự của hai bài kệ, pháp danh hàng thứ nhất thì pháp hiệu cũng hàng thứ nhất, pháp danh hàng thứ chín pháp hiệu cũng hàng thứ chín. Thí dụ: Pháp danh là Chơn, pháp hiệu phải là Đại; pháp danh là Nhất, pháp hiệu là Lập… Ngài Mẫn Hy đời thứ 15 chi phái Cao Minh Tự, đời thứ 43 của tông Thiên Thai Giáo Quán, có pháp danh là Cổ Lãng và pháp hiệu là Mẫn Hy; Tổ Hiển Kỳ đời thứ 20 chi phái Cao Minh Tự, đời thứ 48 tông Thiên Thai Giáo Quán có pháp danh Nhiên Công, pháp hiệu Hiển Kỳ; Tổ Liễu Thiền, pháp danh của ngài là Tu Trì, pháp hiệu Liễu Thiền; Sư bà Đạt Đạo pháp danh Tánh Hóa, Hòa thượng Đạt Hảo pháp danh Tánh Tướng, Hòa thượng Tắc Phước pháp danh Lãng Điền…


Tông Thiên Thai ra đời rất sớm, nhưng truyền vào Việt Nam rất muộn, người Việt Nam đầu tiên có tên trong hàng cao tăng tông Thiên Thai ở Trung Quốc là Tổ Hiển Kỳ, thế danh của ngài là Trần Quốc Lượng, quê ở Rạch Quau, Cần Giuộc, Chợ Lớn (nay thuộc Long An), nhưng lại hành đạo ở Trung Quốc cho tới ngày viên tịch. Ngài có công vận động nhiều người Việt Nam vào tông Thiên Thai: Năm 1928, tại chùa Thanh Sơn ở Hồng Kông, Tổ Hiển Kỳ đã xuất gia cho ba vị: Liễu Đàn (húy: Tu Tất), Liễu Học (húy: Tu Thành), Liễu Tướng (húy: Tu Hảo); đến năm 1931 cũng tại đây, Tổ đã xuất gia cho bốn vị: Liễu Thiền (húy: Tu Trì), Liễu Lạc (húy: Tu Tịnh), Liễu Chứng (húy: Tu Quán), Liễu Tức (húy: Tu Nhiên). Các vị đều là người Miền Nam và đều có xuất thân tử Minh Sư đạo, sau khi thọ đại giới các vị đã về nước hoạt động, đó chính là bảy vị tổ đã có công truyền bá giáo nghĩa tông Thiên Thai và phát huy chi phái Cao Minh Tự đầu tiên ở Việt Nam.



A. KỆ PHÁP DANH


眞傳正受

靈嶽心宗

壹乘頓觀

印定古今

念起寂然

修性朗照

如是智德

體本玄妙

因緣生法

理事即空

等名爲有

中道圓融

清淨普遍

感通應常

果慧大用

實相永芳

Chơn (chân) truyền chánh thọ


Linh nhạc tâm tông


Nhất thừa đốn quán


Ấn định cổ kim


Niệm khởi tịch nhiên


Tu tánh (tính) lãng chiếu


Như thị trí đức


Thể bổn (bản) huyền diệu


Nhơn (nhân) duyên sanh pháp


Lý sự tức thông


Đẳng danh vi hữu


Trung đạo viên dung


Thanh tịnh phổ biến


Cảm thông ứng thường


Quả huệ đại dụng


Thật tướng vĩnh phương



B. KỆ PHÁP HIỆU


大教演繹

祖道德宏

立定旨要

能所泯同

功成諦顯

了達則安

萬象海現

孰分弍弎

初門悟入

化法遂行

己他益利

究極彰明

源深流遠

長衍紀綱

百千之世

恆作舟航


Đại giáo diễn dịch


Tổ đạo đức hoành


Lập định chỉ yếu


Năng sở mẫn (dân) đồng


Công thành đế hiển


Liễu đạt tắc an


Vạn tượng hải hiện


Thục phân nhị tam


Sơ môn ngộ nhập


Hóa pháp toại hành


Kỷ tha ích lợi


Cứu cực chương minh


Nguyên thâm lưu viễn


Trường diễn kỷ cương


Bá thiên chi thế


Hằng tác chu hàng

Cập nhật ( 21/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online