Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow TẾT TRUNG THU NGÀY XƯA (Nguyễn Văn Huyên)
TẾT TRUNG THU NGÀY XƯA (Nguyễn Văn Huyên) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
15/09/2008

TẾT TRUNG THU NGÀY XƯA

* Nguyễn Văn Huyên

Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng tám là đến tết Trung Thu. Lúc này đúng vào giữa mùa thu, bầu trời trong trẻo, gió mát, mặt trăng rất tròn và sáng rực rỡ, khiến chúng ta nhớ đến chú Cuội và chị Hằng nơi cung trăng. Các nhà nho và nghệ sĩ uống rượu cúc và làm thơ ca ngợi vì tinh tú đẹp của ban đêm theo gương vua Đường Minh Hoàng, trị vì ở Trung Quốc vào thế kỷ 13. Đây là một ông vua tài hoa, người bảo trợ phong nhã cho các nghệ sĩ.

         Một đêm vào rằm tháng tám, vua ra khỏi cung và được một đạo sĩ chống gậy đến gần, đề nghị vua lên cung trăng dạo chơi. Vua mỉm cười nhận lời. Đạo sĩ bèn tung lên bầu trời chiếc gậy biến thành một chiếc cầu lấp lánh màu bạc. Đạo sĩ mời vua lên cầu. Cả hai đến cung trăng trong phút chốc, lạc vào một thế giới thần tiên với những nàng tố nga duyên dáng thướt tha trong những vườn hoa thơm cỏ lạ. Hai người đến trước một cung điện nguy nga, phía trên có các cửa ra vào có chạm hàng chữ vàng Cung Quảng Hàn. Trong sân rộng là những thiếu nữ xinh đẹp mặc xiêm hồng và áo trắng múa theo điệu nhạc tuyệt diệu. Trở về trần gian, trong nỗi nhớ nhung vô hạn những điều kỳ lạ trên cung trăng, Minh hoàng sai các cung tần múa hát đàn ca theo điệu nhạc tuyệt diệu này.

Đêm Trung Thu mỗi nhà quây quần quanh một chiếc bàn kê giữa nhà. Chiếc bàn được biến thành một khu rộng có tường bao quanh với cung điện, vườn, đền chùa, những cảnh sinh hoạt hoang đường và lịch sử được dựng lại qua những đồ vật bằng giấy, bằng bột và quả cây. Tất cả được bày biện giữa vô số những quả trứng nhuộm ngũ sắc, biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, các quả dừa trở thành những con thỏ hiền lành và nhút nhát, những con sư tử và kỳ lân lởm chởm lông làm bằng quả bưởi đã bóc vỏ, các bó mía màu thẫm đẹp, biểu tượng của sự sum họp lứa đôi bền vững, những chiếc bánh dẻo và bánh nướng tiêu biểu cho mặt trăng với đàn thỏ, con cóc hay con rồng cuộn quanh vì tinh tú lớn ban đêm…

Căn phòng lớn được thắp bằng đèn lồng hình con cá, hình những đèn kéo quân mô tả những chiến trận lừng danh, những cảnh lịch sử, cảnh một vị anh hùng tiến vào một tòa thành hay một nhà sư đang tụng kinh trước bàn thờ Phật. Trong khi đó trên các đường phố lớn, các đám rước rồng và kỳ lân trông ngoạn mục với tiếng trống, chiêng, chũm chọe liền không dứt. Người ta long trọng rước rồng qua các phố, đi trước là những lá cờ ngũ sắc, những đèn lồng hình hoa quả, tôm cá hay những vật quý, những tấm biển sáng với hàng chữ “Hoàng long thịnh thể”(mong rồng vàng cho cuộc sống phồn thịnh hay thiên hạ thái bình). Rồng đan bằng tre, phủ giấy và vải. Trông thân hình nó đầy vảy và gai màu lam hoặc xanh, một cái đuôi lởm chởm, cái đầu có râu ria rậm rạp, mắt sáng quắc liếc đi liếc lại, bốn chân lưng lẳng với móng vuốt khủng khiếp. Cả con rồng được lắp trên những chiếc sào có nhiều người khiêng, những người này cũng ăn mặc sặc sỡ, lượn vòng làm cho mình rồng uốn lượn như rắn. Nó biểu diễn và múa theo tiếng chiêng, tiếng trống trước mặt “hòn ngọc”, xung quanh là mây và ánh chớp, được vác ở đầu một cái gậy tre bởi một người phủ đầy mình những tấm băng nhiều màu. Những nhà giàu có sung túc đốt pháo mừng rồng đi qua và lấy khước nhờ sự có mặt của rồng.

Trong đám rước, theo sau rồng là một con sư tử, chỉ có cái đầu bằng tre và phết giấy, nối vào một tấm vải dài màu đỏ. Một người cầm đầu sư tử và người khác cầm tấm vải múa theo động tác sư tử. Các nhà giàu có treo trên bao lơn, cách mặt đất năm sáu mét, một phong bao đỏ để từ 10 đến 20 đồng, thưởng cho những người múa “rồng” và múa “sư tử” giỏi. “Sư tử” phải trèo lên những sào tre để với lấy món tiền thưởng. Lên tới đầu cầu thang tạm bợ, nó phải làm động tác vờn mồi trong khi rồng múa quanh nó. Giật được giải thì pháo nổ ran, sư tử nhảy xuống đất, múa một điệu múa hạnh phúc cám ơn vị chủ nhà hào hiệp, chúc ông ta thịnh vượng và con cháu hạnh phúc. Điệu múa này gọi là múa sư tử, song thực ra là múa lân.

Đêm Trung Thu, mọi người tụ họp xem trăng lên. Đây chính là một cái tết ngắm và thưởng trăng. Khi trăng đã lên đến điểm cao nhất, bầu trời trong sáng, các nhà thơ tụ họp nhau để uống “rượu hoa vàng” dưới những bóng cây trúc, và nhắm những con ốc bưu của mùa thu thường béo hơn ở những tháng khác, cùng nhau ứng tác những vần thơ ca ngợi thiên nhiên vĩnh cửu và tuyệt đẹp. Giới bình dân cũng dự đoán tương lai của đất nước qua màu sắc và hình dạng của mặt trăng. Trăng vầng vặc, sẽ có một vụ mùa bội thu.Trăng màu vàng, tằm sẽ nhà nhiều tơ.

Trong các truyền thuyết về mặt trăng, con cóc giữ một vị trí quan trọng. Nó gần với con ếch, có tiếng kêu ồm ộp mà người ta nói làm trời đổ mưa. Chúng ta nhìn thấy nó ở mặt trăng và gọi nó là thiềm thừ, nên trong thơ ca mặt trăng được gọi là Thiềm cung (Cung con cóc). Con vật này dễ có đến ba nghìn năm tuổi. Xưa kia nó sống trên mặt đất, bên bờ đại dương và ăn thịt nhữnh khách qua đường trong tầm với của nó. Về sau, Ngọc Hoàng sai dẫn lên mặt trăng, trở thành kẻ gác cung Quảng Hàn. Trẻ em Việt Nam vẫn thường thấy chú cuội ngồi gốc cây đa, trong các bóng râm lớn trên mặt trăng vào đêm Trung Thu. Đó chính là chú Cuội chăn trâu trong các truyền thuyết của người Việt bị đưa lên đây để chuộc tội nói dối độc ác của chú. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu Dối như Cuội.

Thỏ cũng là con vật hay “xuất hiện”trên mặt trăng, được nhà Phật xem như biểu tượng của con người từ thiện. Có người cho rằng những con thỏ này thụ thai trong khi ngắm trăng. Căn cứ vào ánh trăng thu sáng như thế nào, người ta đoán thỏ sẽ đẻ nhiều hay ít con, trở thành biểu tượng của khả năng sinh sản nhiều. Vì vậy, nó gắn bó chặt chẽ với trăng và rồng.

Tết Trung Thu cũng còn là ngày hội lớn của tuổi trẻ, trai gái gặp nhau và hát đối đáp (hát trống quân) giữa các đám đông và dưới ánh trăng. Họ trao cho nhau những quà tặng gồm quạt, vòng tay là những vật làm tin. Họ cùng nhau nhai trầu, tha hồ tìm hiểu nhau, giao ước với nhau dưới ánh trăng rực rỡ như vị thần chứng giám cho tình tình yêu. Tình yêu nam nữ nảy nở qua cuộc chơi tao nhã này. Nhiều đám cưới được cử hành vào ngày lành tháng tốt của mùa xuân sau.

Đối với những thanh niên đã hoặc sắp sửa học thành tài, tết Trung Thu là ngày tết của tương lai, ngày tết mở đầu cho các kỳ thi đỗ đạt sắp tới của họ. Con Cóc vàng (Kim thiềm) đã trở thành biểu tượng của sự đỗ đạt ở kỳ thi Hương và đối với việc leo lên các chức vụ cao của triều đình. Cây đa che chở cho chú Cuội trở thành cây nguyệt quế có hoa nở về mùa thu và đôi khi rụng xuống mặt đất. Cái cây hiếm hoi này, với những cành nhánh oai vệ, là biểu tượng của sự đỗ đạt vinh quang. Đêm đó, ai cũng muốn lên cung trăng, qua giấc mộng, bằng một chiếc thang “mây”, mây đan hay mây trời, để hái một cành kỳ diệu của nó. Nếu người đó thành công, anh ta chắc chắn sẽ đỗ trong kỳ thi Đình sắp tới. Cả những con cá chép, soi mình trong ánh trăng dưới đáy nước hoàn toàn trong trẻo vào tiết Trung Thu, đối với họ cũng trở thành biểu tượng của sự thi đỗ. Đêm này, để biến thành rồng, cá chép tìm cách nuốt lấy trăng để đạt đến sự hoàn thiện, hòng có thể “vượt vũ môn” vào đầu hè tới, giống như nho sinh vượt qua được những kỳ thi văn chương đáng sợ để được đỗ đạt. Vì vậy, ở tết Trung Thu này, người ta bày lên bàn dành cho trẻ con tất cả các hình trạng nguyên, tiến sĩ…của những khoa thi ngày xưa, hình bàn thờ gia tộc, các đình làng, là những nơi các vị tân khoa sẽ phải đến long trọng làm lễ khi vinh quy về làng.

Trung Thu ở nước ta ngày xưa đã trở thành ngày tết mang những nét văn hóa đẹp của các giai tầng, lứa tuổi khác nhau trong xã hội, từ là ngày lễ của người làm ruộng, ngày hội của tuổi trẻ, cho đến tết của trẻ em.

Cập nhật ( 30/11/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online