Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Hinh tuong Rong tren di san VHDG Nam bo (ThS Nguyen Thi Nguyet)
Hinh tuong Rong tren di san VHDG Nam bo (ThS Nguyen Thi Nguyet) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/01/2012

 1HÌNH TƯỢNG RỒNG TRÊN DI SẢN VĂN HÓA DÂN GIAN NAM BỘ

* ThS. Nguyễn Thị Nguyệt

Bảo Tàng Đồng Nai

          Con rồng là một trong bốn “vật linh” gồm: long, lân, quy, phụng. Từ lâu, con rồng được xem là biểu tượng của uy quyền hay quyền lực của nhà vua trong chế độ quân chủ phong kiến. Hình ảnh rồng tượng trưng cho vua, là “thiên tử” con trời. Màu sắc gắn liền với con rồng thường là màu vàng (rồng vàng) là màu sang trọng, tượng trưng cho uy quyền của vua chúa… Trong kho tàng di sản văn hóa dân gian Nam Bộ, hình ảnh “rồng” được thể hiện trên các công trình cơ sở tín ngưỡng tôn giáo như: đình, đền, chùa, miếu… Bên cạnh đó, hình tượng “rồng” còn được biết đến với những đề tài trang trí trên các di vật, cổ vật có giá trị hiện nay.

 1. Hình ảnh Rồng trên di tích kiến trúc.

Đình làng là cơ sở tín ngưỡng dân gian thờ thần Thành hoàng, có chức năng sinh hoạt hành chính, tín ngưỡng và văn hóa văn nghệ của người Việt. Thế kỷ XVI – XVIII, trang trí đình làng ở miền Bắc mang đậm nghệ thuật dân gian với những đề tài, hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực của người nông dân… Nhưng từ thế kỷ XIX trở đi, điêu khắc đình làng hầu như không còn cảnh sinh hoạt dân gian, mà chỉ trang trí hoa lá và phổ biến là đề tài “tứ linh”.

Đình làng ở Nam bộ có từ thế kỷ XVII-XVIII. Trang trí ở đình làng Nam bộ thường là đề tài tứ linh, trong đó hình ảnh “rồng” rất phổ biến. Bên trong chánh điện thường có bốn cột được trang trí với hình rồng đắp nổi uốn quanh được gọi là “long trụ”. Ngoài long trụ, đình Nam bộ còn trang trí các bao lam trước điện thờ được chạm trổ hết sức tinh vi với đề tài: tứ linh, cá hóa long, rồng, mây, hổ, hạc, long ẩn vân… Các bao lam này thường được sơn son thếp vàng rực rỡ và đôi khi có những tấm bình phong điêu khắc rất công phu. Ngoài ra, hình ảnh “rồng” còn được trang trí trên các bức hoành phi, liễn đối bên trong chánh điện với hình ảnh “lưỡng long chầu nhật” hay “lưỡng long tranh châu”, rồng và dây lá cúc cách điệu xen lẫn hoa văn hình học… được sơn son thếp vàng rất lộng lẫy.

Mặt tiền đình làng, đôi khi cũng có kiến trúc kiểu “long trụ” hoặc trang trí ở nhà võ ca trước đình tạo cho kiến trúc vừa uy nghi, chắc chắn nhưng cũng không kém phần mỹ thuật của cơ sở tín ngưỡng dân gian.

          Những hạng mục trang trí hình ảnh rồng còn phải kể đến đó là cụm mỹ thuật “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long chầu nhật” hay “lưỡng long chầu pháp lam” được gắn trên các đỉnh nóc mái của các đình, chùa, miếu ở Nam bộ. Đặc biệt, trên một số đình, miếu của người Hoa có những tượng gốm mỹ nghệ trang trí trên mặt tiền hoặc đỉnh mái với các đề tài: cá hóa long, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nhật… Đó là những tác phẩm nghệ thuật gốm rất độc đáo, thể hiện tài năng khéo léo của thợ gốm địa phương và ý nghĩa của mỹ thuật truyền thống Trung Hoa trên các di tích kiến trúc nghệ thuật ở Nam bộ.

 

2. Rồng trên trang trí di vật, cổ vật.        

2.1. Rồng trên cổ vật gốm tùy táng.

Trên một số đồ gốm Trung Quốc tùy táng của các dân tộc bản địa Đông Nam bộ có niên đại từ thế kỷ XVII-XIX, hình ảnh “con rồng” được trang trí rất phong phú và đặc trưng. Đề tài “con rồng” được thể hiện trên sản phẩm tô, chén, dĩa với các họa tiết quen thuộc trong mỹ thuật Trung Hoa như: Long ẩn vân, long triều ngọc, mây rồng…

“Long triều ngọc” với hoa văn con rồng ẩn dưới tán mây, đầu chầu về viên ngọc hình giọt nước lồng trong vòng tròn trên có tán mây. “Long ẩn vân” với những họa tiết rồng ẩn hiện giữa những đụn mây bay. Đặc biệt rồng 5 móng, thân rồng ẩn dưới những cuộn mây vẽ xéo song song vành ngoài chén.

Cũng đề tài “Long ẩn vân” với họa tiết rồng bốn móng ẩn sau những cụm mây hình lá đề, trang trí rất tinh xảo, đầy vẻ mỹ thuật. Xen lẫn với các cụm mây lá đề là hình rồng lộ đầu, mình, chân và đuôi. Mặt rồng trông có vẻ dữ tợn, nét vẽ tinh xảo, chân rồng có ba cựa và bốn móng. Hoặc đề tài “Long ẩn vân” nhưng ở sản phẩm khác lại được thể hiện dưới dạng hoa văn rồng ẩn trong các đám mây hình bông hoa cánh tròn, cạnh chân đế trang trí hoa văn hình vảy cá (hay vảy rồng). Đặc biệt đề tài rồngnhưng được trang trí khá độc đáo với đầu rồng vẽ nét đơn trong lòng chén (họa tiết phân bố dày đặc), còn mình ở bên ngoài vành chén. Bên ngoài còn trang trí nét vẽ đơn họa tiết lá mỏng mềm mại giống hình đuôi cá vàng dài, bố trí 2/3 vành ngoài chén.

 

2.2. Rồng trên trang trí dố gốm Nam bộ.

Trên đồ gốm gia dụng Lái Thiêu và gốm mỹ nghệ Biên Hòa cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, nghệ nhân tài ba của xứ Nam bộ cũng đã sáng tạo trên nền nghệ thuật vẽ trên men, in đề-can hoặc điêu khắc chìm với nhiều họa tiết trang trí như: lịch sử, sinh hoạt, phong cảnh, mỹ thuật… Đặc biệt ở từng thể loại sản phẩm gốm (tô, chén, dĩa, liễn, thố, bình trà, bát nhang, lư hương, chung, bình, ché, đôn, chậu…), hình ảnh “rồng” cũng được nghệ nhân Nam bộ thể hiện với nhiều đề tài phong phú như: rồng mây, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu mặt trời, rồng lá cổ cách điệu, rồng phụng…

Những sản phẩm gốm Lái Thiêu trang trí họa tiết vẽ trên men với màu men xanh trắng là phổ biến với hoa văn “con rồng” như: dĩa lưỡng long tranh châu trong lòng sản phẩm; chung nhỏ trang trí hình rồng ba móng vờn mây lượn bên ngoài vành miệng; tô có hoa văn rồng cách điệu kín lòng; chén trang trí hoa văn rồng theo kiểu in đề-can với ba mảng bố trí cách đều bên ngoài vành chén với từng “cặp rồng” uốn lượn bay nối tiếp nhau từ phải qua trái khá đặc biệt; rồng chầu mặt trời hoa văn rất sắc sảo trên bát nhang; lưỡng long chầu thái cực âm dương trên lư hương; rồng đắp nổi trên chóe 4 quai men xanh lục đậu; long ẩn vân trên liễn thố…

Ở bình gốm mỹ nghệ Biên Hòa, “rồng” được thể hiện ở kỹ thuật khắc chìm hoặc vẽ dưới men và trên men với màu men xanh trắng hoặc da lươn. Trên đôn và chậu, “rồng” được thể hiện với kỹ thuật đắp nổi làm nổi bật họa tiết trang trí trên sản phẩm. Trên đôn và chân đèn, hình ảnh “rồng mây” được thể hiện với kỹ thuật chạm lộng tạo nên những mảng sáng tối và những mảng điêu khắc gốm chạm thủng theo từng đoạn thân uốn lượn của rồng và cụm mây. Men màu thể hiện thường là màu trắng hoặc xanh cobalt. Trang trí ở một số sản phẩm bình, bầu đèn của gốm Biên Hòa xưa lại có hình ảnh “rồng lá cổ” với họa tiết đầu rồng cách điệu hình lá, còn thân cách điệu với lá cúc rất mềm mại nhưng cũng không kém phần mỹ thuật và kỹ thuật biểu đạt ở trình độ thẩm mỹ cao.

          Trên chóe gốm, hình ảnh “rồng” được thể hiện bằng kỹ thuật đắp nổi ở phần vai và thân chóe. Hình ảnh “rồng” uốn lượn vòng quanh trên vai chóe hoặc khắc chìm họa tiết giữa thân với màu men da lươn rất phổ biến. Những chóe gốm được coi là tài sản quý giá được đồng bào bản địa Chơro, Mạ, Xtiêng, Cơho đựng rượu cần trong các dịp lễ hội cổ truyền mừng lúa mới, lễ đâm trâu, mừng nhà mới...

 

3. Rồng trên trang trí Sắc Thần.

Sắc thần được xem là văn bản hành chính của nhà nước phong kiến về việc công nhận các ngôi đình thờ thần Thành Hoàng Bổn cảnh ở làng xã cổ truyền của người Việt. Đối với các đình làng ở Nam bộ, sắc thần được phong từ thời nhà Nguyễn cách nay khoảng hơn 200 năm.

Những ngôi đình ở Nam bộ được nhà Nguyễn gia phong sắc thần thuộc các triều đại: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định... Năm 1852, thời vua Tự Đức ngũ niên đã phong sắc thần cho hàng loạt các ngôi đình Nam bộ thể hiện sự công nhận của nhà nước phong kiến đối với tín ngưỡng dân gian của cư dân ở vùng đất mới. Sắc Thần là một bản giấy dó mỏng màu vàng, chiều dài từ 1,2m đến 1,5m, chiều rộng từ 0,5m đến 0,6m. Trên mặt giấy có in chìm bằng dụ ngân họa tiết “long ẩn vân” với hình ảnh con rồng ẩn hiện trong đám mây. Xung quanh bản giấy có khung hoa văn gọi là giấy kim tiên, mặt sau có vẽ bạc hoa văn cuốn thư, hai chữ Thọ () hình vuông và dây .

Nội dung mỗi Sắc Thần thường thể hiện từ 5 đến 11 hàng chữ Hán viết dọc từ trên xuống dưới, đọc theo chiều từ phải qua trái (lối đọc chữ Hán). Dòng cuối cùng đề niên hiệu vua và ngày tháng cấp sắc phong. Giá trị pháp lý của sắc thần là có ấn của vua màu đỏ đóng chồng lên hàng chữ đề niên hiệu, ngay vị trí hoa văn đầu rồng in chìm bên dưới. Ấn hình vuông có bốn chữ Hán viết theo lối triện “Sắc Mệnh Chi Bảo” (勅命之寳). Mỗi triều đại vua lại phong Sắc Thần khác biệt nhau chút ít. Đặc điểm của Sắc Thần là giấy màu vàng kim với hoa văn “long ẩn vân” in chìm với màu bạc làm tăng vẻ sang trọng và uy quyền của nhà nước phong kiến đối với văn bản do triều đình sắc phong. Sắc Thần cũng tạo uy tín và danh tiếng cho ngôi đình và vị thần Thành Hoàng làng nhằm củng cố niềm tin vào đối tượng thờ trong tín ngưỡng dân gian.

 

4. Rồng trong kho tàng văn hóa phi vật thể.

Ngoài các di sản văn hóa vật thể, kho tàng văn hóa dân gian ở Nam bộ cũng có hình ảnh của “con rồng” trong ca dao quen thuộc như:

“Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai”

Câu ca dao chỉ vùng đất Đồng Nai - Gia định vốn là vùng đất mới khai phá nhưng có vị trí khá quan trọng ở Nam bộ thế kỷ XVII.

Hay vùng đất Tây Nam bộ là hạ nguồn của sông Mê-Kông (Cửu Long), nên còn được gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long hay vùng đất “chín rồng”.

Ai đã từng một lần về vùng sông nước Cửu Long đều đã từng nghe câu ca dao:

Đồng Nai có bốn rồng vàng

Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi”.

Cho đến nay “Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn” là những ai thì ít người được biết và chưa xác định được sự nghiệp của họ. Riêng “Nghĩa thi” thì nhiều người cho rằng đó là nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) làm quan thời nhà Nguyễn, quê tại làng Long Tuyền nay thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Bùi Hữu Nghĩa nổi tiếng thơ hay và từng được ca tụng là một trong bốn “rồng vàng” của vùng đất Nam bộ.

Còn “Sang đàn” theo Vương Hồng Sển có thể là Phụng Hoàng San (tiếng Nam bộ “San” và “Sang” phát âm giống nhau), tác giả tập “Bản đờn tranh” xuất bản năm 1909. Và nếu nhìn nhận Phụng Hoàng San đàn giỏi, thì “Nghĩa thi” trong câu ca dao này có thể là Trịnh Hoài Nghĩa (là dòng dõi Trịnh Hoài Đức) rất giỏi thi phú khoảng những năm 1909-1915. Trịnh Hoài nghĩa nguyên là nhà giáo dạy chữ Nho trường Trung học Mỹ Tho, có để lại một vế đối, chưa ai đối được, đó là “Hạng Võ khóc Ngu Cơ, ngơ cu Hạng Võ”. Ngoài ra, Trịnh Hoài Nghĩa còn dịch bộ truyện chữ Hán “Quần Anh Kiệt” ra chữ quốc ngữ in năm 1907.

Hay câu ca dao khác ca ngợi cặp “rồng vàng” Nam bộ như:

                       “Vĩnh Long có cặp rồng vàng

Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần

Câu ca dao trên ca ngợi hai danh nhân của vùng đất Nam bộ là nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa và Phan Tuấn Thần tức Phan Thanh Giản là những con “rồng vàng” trong lòng người dân Nam Bộ. Nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa đã để lại nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng như: Kim Thạch Kỳ duyên (tuồng Nôm), Quan Công Thất phủ Hạ Bì, Hạ âm mộ cảnh, Văn tế vợ, Thơ khóc vợ, Tây Du, Mậu Tùng… Thơ của ông chứa chan nỗi lòng yêu nước, thương dân.

Còn Phan Thanh Giản là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, là người đậu Tiến sĩ đầu tiên ở Nam bộ. Ông làm quan trải qua ba triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Phan Thanh Giản được nhiều người kính trọng vì tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm . Tuy nhiên, trong cơn nước lửa nguy biến, thái độ ôn hòa của ông đã khiến quê hương rơi vào cảnh lầm than. Tháng 11 năm 1868, vùng đất Nam kỳ rơi vào tay Pháp, Phan Thanh Giản bất lực đành uống thuộc độc tự vẫn. Triều đình Huế định tội Phan Thanh Giản để mất nước vào tay giặc nên đã xử “trảm quyết”, cách hết chức tước và cho đục bỏ tên ông ở bia Tiến sĩ. Mãi 19 năm sau (năm 1886) vua Đồng Khánh đã cho khôi phục nguyên hàm Hiệp tá Đại học sĩ và cho khắc lại tên Phan Thanh Giản ở bia Tiến sĩ. Mặc dù vậy, cũng có nhiều nhà trí thức đương thời đã tỏ lòng thông cảm với ông. Như Nguyễn Thông đã từng dâng sớ lên vua Tự Đức để giãi bày nỗi oan cho Phan Thanh Giản. Và nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng đã tỏ thái độ thương tiếc, trân trọng ông qua bài thơ điếu:

“Minh tinh chín chữ lòng son tạc,

Trời đất từ rày mặc gió thu”

Năm 2008, Viện Sử học Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học đánh giá lại về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Thanh Giản và nhận định lại “Phan Thanh Giản là người nổi tiếng về đạo đức, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc trên cơ sở đó đã đề nghị tôn vinh, khôi phục và tôn tạo những di tích liên quan đến ông”.

Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn đã để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Lương Khê thi thảo, Lương Khê văn thảo, Sứ Thanh thi tập, Tây phù nhật ký, Ước Phu thi tập, Tích Ung canh ca hội tập, Sứ trình thi tập, Việt sử thông giám cương mục (chủ biên), Minh Mạng chính yếu (chủ biên)…

Những câu ca dao trên cho thấy cư dân Nam bộ cũng chịu ảnh hưởng khá sâu đậm về hình tượng “con rồng” trong đời sống văn hóa tinh thần nhằm ca ngợi tiềm lực của vùng đất và con người Nam bộ.

 Có thể nói, hình tượng “con rồng” ảnh hưởng khá mạnh mẽ trong di sản văn hóa dân gian của cư dân Nam bộ ở vùng đất mới phương Nam từ hơn ba trăm năm qua.     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                           

                                                                            

 

 

Cập nhật ( 22/01/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online