Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Cõi thơ Huyền Quang (Như Hùng)
Cõi thơ Huyền Quang (Như Hùng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
30/03/2012

CỎI THƠ THIỀN SƯ HUYỀN QUANG

* Như Hùng

Có thể nói khởi đi của thơ bắt nguồn từ thi kệ. Hầu hết thiền sư đều là những nhà thi sỹ vĩ đại. Ở đây thơ được hiểu là sự tuôn trào không biên giới khi chọc thủng vào tận cùng đối tượng, đẩy nó bay bổng ra ngoài suy tưởng để vụt khởi. Chặng đường nầy không khởi đi từ ý niệm, bởi lẽ ý niệm không bao giờ rượt kịp theo đối tượng, có thể ý niệm phủ trùm và quyết đoán về một cái gì và điều ấy không hẳn là đối tượng. Khi đề cập về cái gì, tức còn đứng bên ngoài để nhìn ngắm, như vậy chỉ mới trông thấy bóng dáng giả hợp trãi dài của sự vật. Đây là lối mòn thông tục thường xuất hiện ở trong ta, nếu đứng từ ngoài thì làm sao trông thấy được bản thể linh hiện của từng hiện hữu? Nhất là những ý niệm được dựng nên từ sự suy tư trong ý niệm, thì kết quả sẽ trái ngược, vì trong ý niệm không có cái gì hoàn toàn bất biến, bản chất của nó vốn đong đưa biến hóa và không thật.

Thơ, không phải sự khởi đi từ ý niệm móng động. Nhờ vận hành phục hoạt của đối tượng đẩy thẳng, đập vào khiến nguồn thơ chợt trổi dậy, bởi lẽ những dong ruổi của nó không còn khoảng trống để đối tượng có thể xen vào ngự trị. Trừ khi sự dừng lại để nguồn thơ xuất hiện, điều nầy càng tố giác chính đối tượng là môi năng khiến thơ vụt khởi. Tuy vậy hai thể đó không tách rời ra để tồn tại, hoặc phải bám vào một trong hai lối. Thông thường nương vào ý niệm để bài thơ hình thành, điều nầy diễn tả phần nào về đối tượng và hẳn nhiên không hoàn toàn biến thành đối tượng, nếu không vứt đi quan niệm khởi đầu. Chỉ khi nào đạt được sự thể nhập vô cùng của tâm cảnh, cuả trong ngoài, có không, của bất nhị, nó mới trỗi dậy làm cuộc lên đường về nơi vô tận.

Những đào khoét cùng quẩn trong thế giới hiện tượng, chỉ là sản phẩm đơn thuần cọ xác giữa ý thức tạo nên. Truy tìm thật thể của thực tại vẫn còn là điều bí mật, bởi lẽ thực tại vốn hằng viễn, uyên nguyên theo nghĩa phong kín vô ngôn, không dùng đến suy luận của ý thức. Thực tại là vô cùng, vô ngôn, thống hận hay là sự nở hoa của cuộc đời? Đâu đó đang chớm nở trong ta, trong sự câm nín nào đó của thơ. Một bài thơ hay nhứt là bài thơ ấy không bao giờ được viết nên lời, hoặc hình thành từ ý niệm. Nó thể nhập trọn vẹn vào sự vật, không bị uốn nén trong phạm trù sai biệt của ngữ ngôn, khiến mọi cơ năng rung động mãnh liệt bay bổng ra ngoài. Dĩ nhiên nếu không nương vào ngữ ngôn nó sẽ không tựu nên, dù ở những dạng thái câm nín, khó có kẻ cảm nhận. Bởi lẽ nó không khởi đi từ quan niệm cố hữu, trong việc trông thấy thực thể về một thực tại thoát ly ra ngoài tầm nhìn phiến diện. Có những nhà thi sỹ suốt đời ẩn mình trong thâm sơn cùng cốc, vui với gió nội mây ngàn, gởi đến nhân gian lời thơ vút qua trong mỹ cảm, của từng chớm nụ, bặt ngôn trọn ý. Nhưng có ai bảo cuộc đời của họ không phải là một bài thơ? Chỉ có đất trời mới cảm nhận được lời thơ phong kín vô ngôn nầy. Nó lãng đãng bay theo mây trời, phủ trùm lên núi đồi, nhân gian, cây cỏ. Thơ là cái gì đẹp nhất, có mặt trong tận cùng của an vui hoặc tột cùng của khổ đau. Một khi chất liệu thơ tuôn trào, nó được vận chuyển qua từng thực trạng, tùy theo mức độ cảm nhận, trăn trở của thi nhân. Cưộc đời nếu không có thơ tô điểm sẽ trở nên vô vị, nhưng nếu dùng vô vị đó để làm thơ, thì sẽ gieo rắc khổ đau, đen tối thêm cho đời, như thế vô tình ta phản lại ý nghĩa uyên nguyên của thơ rồi vậy.

Ngữ ngôn chỉ là phương tiện chuyên chở bóng dáng trãi dài của ý thức, khi ý tưởng bắt đúng cung bậc thơ sẽ tuôn trào. Nhưng ngôn ngữ không hoàn toàn khai mở đúng mức về thực trạng linh hiện ẩn mình trong từng hiện thể. Dù quyền năng của thơ có thể đưa sự vật đến ngưỡng cửa biến dạng, nhưng không có nghĩa truy tìm ra uyên nguyên, ban sơ, vô cùng của nó. Nếu chưa biến mình hòa cùng sự vật, sống và thở như chính nó, thì chẳng bao giờ tóm thâu được ý nghĩa chung cuộc. Khi nào còn vận dụng đến tri thức so đo, tính toán, sai biệt, chưa có cơ may lọt hẳn vào tận bên trong, chưa thể nhập vào vô cùng, ta vẫn là kẻ đứng ngoài cuộc chơi. Những gì còn đứng từ bên ngoài để nhìn, để ngắm thì sẽ không bao giờ tìm thấy được giá trị hiển nỡ của từng siêu thể vắng bặt ý ngôn.

Thiền phục hoạt và tác động như một nghệ thuật, kiến chiếu vào tự tánh để giác ngộ vụt khỏi. Đây không phải điều còn nằm trong đo lường của ý thức, và được hiểu như biểu tượng nổ lực của tư duy, thể nhập vào tận cùng từng hiển hiện, thoát ly ra ngoài suy tưởng. Sự thẩm đinh nầy nếu có, chắc chắn không có bóng dáng của ý niệm sai biệt. Bởi lẽ cách nhìn để khơi dậy Thiền thi không nằm trong lối mòn thông tục và càng không đi qua tâm ý suy luận, dù xuyên qua cửa ngõ nầy. Khi thơ được tuôn trào không nằm ở khuôn mẫu, hoặc biên giới cố định , nếu lôi kéo chèn ép thơ vào định ước, hồn thơ sẽ ai oán não nề. Điều rõ ràng nhất, khi nghệ sỹ muốn hình thành lời thơ, nếu dùng đến óc năng động dệt nên, thơ sẽ tràn ngập những dong ruỗi của ý thức, và gieo rắc hoang tưởng vào kẻ tiếp nhận.

Thông thường, khi rung cảm bắt gặp đối tượng khiến thơ tuôn trào, không có nghĩa ta truy tìm ra những linh hiện nằm trong thâm sâu của từng hiện thể đó, cho dù mức độ suy tưởng của ta dồi dào phong phú đến độ dư thừa, chỉ càng làm cho ta chết chìm vào sự hưng động đó mà thôi. Làm sao để hình thành bài thơ đạt đến sự tự do đúng nghĩa của siêu nghệ thuật? Một bài thơ mà kẻ tiếp nhận bỗng chốc thoát ra ngoài mộng huyễn tử sinh?

Đối với những Thiền Sư, vấn đề nầy khác biệt ở những phân định để nhận ra từng biến hiện. Trước hết cách nhìn sự thể được chiếu rọi, sáng soi bởi con mắt trí tuệ, tỉnh thức, một sự đào khoét thẩm định vi diệu mà ngay sự vật cũng không hề hay biết. Từ trong tận cùng nào đó của thời không, vút qua ngưỡng cửa màu sắc âm thanh, đi vào nơi vĩnh cửu. Ở đó không còn vướng bận mà thoang thoảng như hương quyện với đất trời, cây cỏ. Còn lại những vần thơ bất diệt và sự bất diệt nầy không có mặt trong ngữ ngôn. Nó hòa lẫn với đất trời, ngự mãi trong cõi mênh mông xa vắng. Vẫn còn đó những huyền lực linh hiện của thơ chìm ngập trong vô cùng, phong kín bí mật muôn đời của có không tự tại, trong dòng luân chuyển của nhân sinh, một bí quyết không thể nghĩ bàn.

Thiền Sư Huyền Quang (1254-1334) tổ thứ ba của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, được kể như một nhà thi sỹ lớn trong nền thi ca Việt Nam và Phật Giáo, những bài thơ của ông phảng phất hương vị thanh thoát, chìm lặng trong vô cùng. Dưới đây bài thơ Hoa Cúc được ông sáng tác khi tuổi về chiều nhưng lời thơ hàm chứa sức sống linh hiện trào dâng......

Cập nhật ( 30/03/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online