Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Lễ nhạc Phật giáo – hội nhập và phát triển (Thích Quang Huệ)
Lễ nhạc Phật giáo – hội nhập và phát triển (Thích Quang Huệ) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
01/05/2012

nullLễ nhạc Phật giáo - Hội nhập và phát triển

* Thích Quang Huệ 

Trong cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam” của Lê Mạnh Thát, tác giả đã nói rất nhiều đến tác phẩm “Lý hoặc luận” mà trong đó nhân vật Mâu Bác đã có công rất lớn đối với nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ đầu tiên (sau thời Hai Bà Trưng). Đúng ra thì phải nên dùng “âm nhạc Phật giáo” nhưng tôi muốn sử dụng “Lễ nhạc Phật giáo” vì âm nhạc Phật giáo chủ yêu sử dụng trong các nghi lễ của Phật giáo. Mặt khác Phật giáo không ca ngợi âm nhạc, nhất là trong giới luật dành cho người xuất gia, đức Phật đã chế nhiều điều luật để hạn chế không cho thưởng thức âm nhạc, lý do đức Phật đưa ra là giai điệu của âm nhạc vốn có sự quyến rũ, mê hoặc, dễ làm cho con người đắm đuối sa đọa. “Nhân thính nữ ca âm thanh vi diệu, kịch thất thần túc”, nghĩa là vì nghe âm thanh vi diệu của một người con gái mà bị mất thần túc. Vì lý do đó mà tôi dùng từ “lễ nhạc” để thay cho từ “âm nhạc”.

Lễ nhạc Phật giáo hiện nay đang được giới nghiên cứu âm nhạc quan tâm. Sau khi UNESCO công nhận bốn di sản phi vật thể thế giới của Việt Nam là Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ và Ca trù thì âm nhạc Phật giáo cũng được quan tâm nhiều hơn, lý do là âm nhạc Phật giáo rất gần với các thể loại âm nhạc dân gian cổ truyền. Sự tương đồng giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc không chỉ trên bình diện giai điệu, âm hưởng và tương đồng ngay cả hệ thống nhạc khí. GS. Nguyễn Thuyết Phong, người được “nhà trắng” trao tặng danh hiệu “tài sản quốc gia” là một trong những nhà nghiên cứu âm nhạc rất coi trọng lễ nhạc Phật giáo. Ông đã từng lặn lội đi hết nửa vòng trái đất, về thành phố Huế của Việt Nam để thu âm những buổi khóa lễ công phu của một số chùa như chùa Hiếu Quang, chùa Linh Quang… Sự giao thoa giữa nhạc dân tộc và nhạc Phật giáo đã làm phong phú cho nền âm nhạc của Việt Nam nói riêng và âm nhạc thế giới nói chung.

Theo GS. Trần Văn Khê, có mối quan hệ mật thiết giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc.

Âm nhạc Phật giáo có khá nhiều điểm tương đồng với âm nhạc truyền thống, từ nét nhạc, thang âm, điệu thức, tiết tấu đến nhịp phách, chỉ khác nhau về mục đích. Âm nhạc truyền thống giúp người nghe thưởng thức nghệ thuật, còn âm nhạc Phật giáo nhằm mang lại cho người nghe (hay người đọc) một trạng thái tâm hồn an tịnh, thanh thản hầu thấu cảm giáo lý nhà Phật. Nhạc Phật giáo hướng nội, trong khi nhạc nghệ thuật hướng ngoại. Nhưng không phải vì thế mà âm nhạc Phật giáo không mang tính chất nghệ thuật. Nét nhạc và cách tán các bài như Dương chi tịnh thủy (Nhành dương liễu rải nước cam lồ xuống trần), Tào khê (Nước trong suối) rất phong phú và tinh vi.

Về nhạc khí, ngoài một số dụng cụ đặc thù như mõ gia trì, chuông gia trì, đẩu, mộc bảng, thì trong Phật giáo cũng sử dụng các nhạc khí truyền thống dân tộc như đàn nhị, đàn nguyệt, kèn, trống phách.

Về bài bản thì nhạc lễ dùng trong Phật giáo giống như nhạc lễ dùng trong cung đình và ngoài dân gian, ngoài một vài bài bản đặc biệt như bài Trống bát nhã.

Thang âm điệu thức hầu như giống nhau hoàn toàn, ngoại trừ tiết tấu trong các bài tán theo truyền thống miền Trung có những nhịp đặc biệt cho các điệu tán rơi, tán xấp, tán trạo với cách nhịp tang, mõ khác nhau.

Ảnh hưởng qua lại giữa âm nhạc Phật giáo và nhạc truyền thống

Nhạc Phật giáo chịu ảnh hưởng của âm nhạc truyền thống rõ nhứt là trong cách niệm và tụng kinh mang âm hưởng của tiếng hát ru từng miền.

Thông thường trong các lễ hội lớn của Phật giáo luôn sử dụng dàn nhạc lễ trong dân gian, đặc biệt theo truyền thống miền Trung là hai dàn đại nhạc và tiểu nhạc trong cung đình thâu nhỏ lại. Một vài truyền thống Phật giáo ở Tiền Giang có những cách tán dùng hơi và nhịp của lối hát Khách của hát Bội, chỉ khác nhau trong cách dùng mẫu âm ở những chỗ phải luyến láy.

Một số thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống được các nhà sư sử dụng để đặt những bài tán. Hơi thiền trong Phật giáo có cấu trúc âm thanh như hơi nhạc, hơi hạ của miền Nam, nhưng tiết tấu chậm hơn. Hơi ai của nhạc Phật giáo giống như những điệu ai dùng trong nhạc lễ hay cải lương tài tử, nhưng đơn giản hơn.

Cách vận hành giai điệu trong âm nhạc truyền thống cũng được các nhà sư áp dụng để làm cho phong cách tán tụng được phong phú hơn.

Ngược lại, âm nhạc Phật giáo cũng giúp ích và làm giàu thêm cho âm nhạc dân tộc. Nhạc Phật giáo có phong cách “thài” (cách điệu hóa ngôn ngữ theo những chữ nhạc trong thang âm ngũ cung mà không chú trọng đến sự lên xuống đa dạng của nét nhạc) mà các ca công trong cung đình đã vận dụng vào trong các ca chương, như nhận định của cụ Lữ Thi, một nhạc công dàn nhạc cung đình ngày xưa.

Hơi thiền với tiết tấu khoan thai, nghiêm trang trong nhạc Phật giáo có thể dùng để ngâm những bài thơ, bài kệ có thiền vị, đem lại tâm bình an cho người nghe.

Về mặt tiết tấu, nhạc dân tộc chỉ có nhịp hai, nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu mà không có nhịp đánh theo chu kỳ như trong các bài tán của Phật giáo. Truyền thống Phật giáo miền Trung có những tiết tấu đặc thù rất tinh vi với nhịp tán rơi, nhịp tán sấp, tán trạo. Đây là đóng góp của nhạc Phật giáo làm giàu thêm tiết tấu cho âm nhạc dân tộc.

Ngoài ra điệu múa cung đình Lục cúng hoa đăng (múa đèn) chính là phỏng theo điệu múa lục cúng trong Phật giáo khi dâng hương, đăng, hoa, trà, quả, thực. Hoặc điệu múa Đấu chiến thắng Phật trong cung đình cũng từ một điệu múa trong chùa mà ra.

Lịch sử Phật giáo lại là đề tài cho âm nhạc kịch nghệ dân tộc, chẳng hạn sự tích Phật Bà Quan Âm làm đề tài cho vở chèo Quan âm Thị Kính, hoặc cuộc đời Đức Phật Thích Ca từng là đề tài cho nhiều vở cải lương và phim ảnh.

Tóm lại, âm nhạc, văn hóa cũng như ngôn ngữ Phật giáo giúp cho âm nhạc, kịch nghệ truyền thống dân tộc có thêm nhiều yếu tố để làm giàu và phát triển.”

Yếu tố đa dạng của âm nhạc Phật giáo là xu thế phát triển đáng được quan tâm, bởi lẽ lễ nhạc Phật giáo có sự khu biệt lớn giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Một bài kinh do đức Phật nói ra nhưng Trung Hoa tụng khác, An Độ tụng khác, Việt Nam tụng khác, thậm chí ở các vùng Trung, Nam, Bắc của Việt Nam cũng đã có sự khác biệt khá lớn về nghi lễ Phật giáo. Đó là yếu tố quyết định sự đa dạng của âm nhạc Phật giáo. Mỗi một quốc gia, lãnh thổ có một tiêu chuẩn về lễ nhạc riêng, mỗi nơi đều có cái hay riêng và đặc trưng của vùng miền, quốc gia lãnh thổ đó. Theo GS Khê thì âm nhạc Phật giáo đồng hành cùng với tín ngưỡng Phật giáo của người dân bản địa và ở Việt Nam thì đạo Phật vốn có từ rất sớm, vì thế lễ nhạc Phật giáo cũng ra đời sớm và tồn tại lâu dài.

Đạo Phật vào nước ta từ rất sớm, nhưng phát triển rực rỡ nhất là vào thế kỷ X với triều Lý. Trên những phiến đá của chân cột chùa Phật Tích (Bắc Ninh) - một trong những di tích Phật giáo tiêu biểu của thời Lý - có chạm khắc hoa sen cùng hình dàn nhạc công đang tấu nhạc dân tộc, với ý nghĩa hướng dẫn chúng sinh vào con đường của đạo pháp.

Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, thời kỳ đó các vua thường cất chùa trước khi xây dựng cung điện, và dàn nhạc tôn giáo cũng có thể đồng thời dùng cho dàn nhạc cung đình. Điều này cho thấy, từ thời nhà Lý âm nhạc Phật giáo đã có liên quan mật thiết với âm nhạc dân tộc.

Đến đời nhà Trần, Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo và tiếp tục thời kỳ phồn thịnh. Theo sử sách, khi Thượng hoàng Trần Nhân Tôn qua đời ở núi Yên Tử vào năm 1308, hỏa cốt của ngài được mang về kinh sư, sau đó triều đình rước về chôn ở Phủ Long Hưng (Thái Bình). Bá tánh nghe tin ấy đã cùng nhau tụ tập đầy nghẹt chung quanh cung điện để tiễn đưa linh cữu vị vua anh minh. Thấy khó lòng xua dân giãn ra, một vị quan là Trịnh Trọng Tử nghĩ ra cách tập hợp quân sĩ và cho hát bài “Long ngâm” tại sân Thiên Trì để thu hút thiên hạ lại nghe, nhờ đó mới có thể di quan. “Long ngâm” là bài nhạc dùng trong chùa vào những ngày lễ lớn, cho thấy trong cung đình lúc bấy giờ rất thường sử dụng nhạc Phật giáo.

Đến đời nhà Lê, năm 1437 vua Lê Thái Tôn giao cho Nguyễn Trãi và Lương Đăng định nhạc lễ, nhưng do quan điểm về Nhã nhạc bất đồng nên Nguyễn Trãi dâng sớ thoái thác. Vì thế, Nhã nhạc nhà Lê đều do một tay hoạn quan Lương Đăng phỏng theo quy chế nhạc cung đình nhà Minh. Âm nhạc Phật giáo cũng vì thế mà lắng xuống.

Qua đời nhà Nguyễn, cũng không nghe nhắc đến nhạc Phật giáo trong các quyển Lê Triều Hội điển, Lịch triều hiến chương loại chí và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Tuy không được coi trọng ở các đời vua sau, nhưng nhạc Phật giáo vẫn được sử dụng nghiêm túc trong nhà chùa. Các cách tán tụng vẫn bảo tồn theo âm hưởng từ thời xa xưa và được phát triển ngày càng phong phú.

Sang thời kỳ cận đại, có vài sự thay đổi trong tinh thần giản dị hóa nghi thức Phật giáo, mà đáng lưu ý là những thay đổi trong những dàn nhạc lễ miền Nam với việc sử dụng hai nhạc khí nước ngoài là ghita phím lõm và organ để phụ họa theo những bài tán trong các lễ hội. Đàn ghita phím lõm, vốn thông dụng trong những dàn nhạc tài tử cải lương, tuy đã được Việt Nam hóa nhưng âm sắc sôi động của nó không mang lại không khí trang nghiêm cần thiết trong lễ hội tôn giáo. Riêng đàn organ còn làm cho bản sắc dân tộc bị lu mờ hơn nữa. Chúng ta đừng quên âm nhạc Phật giáo rất gần gũi với văn hóa dân tộc

Cập nhật ( 01/05/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online