Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Cuộc đời và sự nghiệp của Ni sư Diệu Hữu (Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa)
Cuộc đời và sự nghiệp của Ni sư Diệu Hữu (Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa) PDF In E-mail
Người viết: Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa   
18/05/2012

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NI SƯ DIỆU HỮU (1915 - 1986)

* Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa

I. Thân thế:

Ni sư Thích Nữ Diệu Hữu - Trưởng Ban Ni bộ Bắc tông tỉnh Bạc Liêu (1964 - 1975) thế danh là Dương Viện Hữu (tự là Dương Thị Út), sinh năm 1915 (Ất Mẹo), làng Vĩnh Lợi, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Xuất thân trong một gia đình trung nông, thân phụ là cụ ông Dương Văn Lý, thân mẫu là cụ bà Quách Thị Nói, cha mẹ sinh bảy người con, Ni sư là người thứ bảy. Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống kính tín Tam bảo, nhiệt tâm với đạo nên những lời kinh tiếng kệ, mõ sớm, chuông chiều đã thúc giục chí xuất trần tìm về bến giác. Ni sư được song thân cho phép đến chùa Phước Hậu Trà Ôn, Vĩnh Long, qui y với tổ Khánh Anh.

II. Thời kỳ xuất gia tu học:

Khi cha mẹ qua đời có để lại cho Ni sư một số nữ trang quí giá nhưng Ni sư không màng của cải mà thản nhiên lo việc xuất gia học đạo.

          Lúc bấy giờ, từ năm 1927 đến 1931, chùa Giác Hoa là nơi dạy Phật học cho chư Ni và cũng có khai mở khóa An cư kiết hạ mỗi năm. Ni trưởng Thích Nữ Diệu Nga cung thỉnh các bậc tôn đức cao tăng, như tổ Chí Thiền, tổ Khánh Anh, Hòa thượng Huệ Viên thường về đây giảng dạy kinh luật.

          Năm 1931, Ni sư xin thế phát xuất gia với tổ Khánh Anh tại chùa Giác Hoa - Vĩnh Lợi - Bạc Liêu, được ban pháp hiệu là Như Diệu Hữu. Sau khi xuất gia được một thời gian Ni sư đến Phật Học Đường do Hòa thượng Thích Thiện Hoa tổ chức tại chùa Phật Quang - Trà Ôn, vừa tu vừa học, đồng thời Ni sư giữ nhiệm vụ giám trù (tri sự) và quản chúng ni gần 50 vị Ni sinh. Hằng ngày Ni sư lo từng bữa cơm cho hơn 100 vị tăng, ni sinh thọ dùng và thỉnh thoảng bộ đội về đóng quân ở chùa. Ni sư hoan hỉ lo cơm nước phục vụ cho chiến sĩ bộ đội mỗi lần gần 200 người. Thời gian tu học ở đây Ni sư cũng đã làm nên thành tích rất lớn trong cuộc đời tu hành của Người và cũng tại Phật học đường này đã bồi dưỡng, nung  đúc chí nguyện xuất trần thêm kiên cường vững chắc.

          Năm 1937 (Đinh Sửu), được bổn sư cho phép, Ni sư  thọ giới Sa di ni tại chùa Phật Quang - Trà Ôn - Vĩnh Long.

- Năm 1944 Giáp Thân thọ giới Thức Xoa Ma Na tại chùa Bảo An - Cần Thơ.

          Năm 1956 (Bính Thân), thọ giới Tỳ kheo ni tại chùa Từ Nghiêm -đường Bà Hạt - Sài Gòn.

          Cũng năm 1956, chạy giặc rồi tản cư lên chùa Phước Hậu - Trà Ôn, ở đó một thời gian cho đến lúc trở về quê hương Bạc Liêu.

III. Thời kỳ hành đạo:

 Khi trở thành Tỳ kheo ni, Ni sư  phát nguyện trở lại quê nhà xây dựng ngôi Tam bảo, thu nhận đồ chúng phát triển công tác Phật sự, hoằng dương chánh pháp, giữ gìn mạng mạch Như Lai để đền đáp tứ ân.

          Năm 1957, trước tiên Ni sư dựng lên cái cốc lá đơn sơ nhỏ bé giữa vũng bùn lầy lội, dần dần Ni sư và Phật tử khiên từng cục đất lấp đầy vũng bùn và xung quanh cốc.

          Năm 1958, cốc lá đổi lại mái ngói nhưng cũng giữ hình trạng cột cây và vách lá, được sự chứng minh của Hòa thượng bổn sư và các bậc cao tăng lúc bấy giờ, đồng thời Hòa thượng Thích Thiện Hoa đặt tên là chùa Bạch Liên và Ni sư trụ trì cho đến viên tịch (1986). Mặc dù nơi mái thảo am khiêm tốn, ngoài việc nuôi dạy chư ni tu hành, Ni sư còn đào tạo chư ni người làm được cô giáo dạy học, người làm được y tá. Môn đồ của Ni sư ngày nay họ đã làm nên đạo nghiệp là những Ni trưởng, Ni sư hành đạo chân chánh thuộc hàng giáo phẩm lãnh đạo Ni giới từ trung ương đến địa phương.

          Năm 1964, Thành lập Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bạc Liêu, Ni sư được cử làm Trưởng Ban Ni bộ Bắc Tông tỉnh Bạc Liêu, với chí nguyện và nhiệm vụ, Ni sư càng phát triển công tác Phật sự như là mở lớp học xóa mù chữ, lớp mẫu giáo (công tác giáo dục mầm non chỉ có Ni sư là người thực hiện đầu tiên ở tỉnh Bạc Liêu), lớp một tại trong chùa do các Ni sư phụ trách dạy dỗ, quí sư cô  cũng biết sử dụng thuốc tây nên Sư cô mở phòng thuốc tây từ thiện tại chùa, chích thuốc theo toa bác sĩ và điều trị những người bệnh nhẹ, có khi quí sư cô đến tận nhà chích thuốc cho người già hoặc người đi không được. Nhận được sự tài trợ của Bộ Xã hội ở Sài Gòn, hằng tháng Ni sư  phát 65 phần quà cho 65 hộ nghèo. Với tâm từ bi bình đẳng, Ni sư  vận động “Quỹ cơm tù” đích thân Ni sư nấu cơm chay đem cho ở Trung tâm Cải huấn và có kèm theo quà vật, mỗi tháng hai ngày (15 và 30), thỉnh thoảng Ni sư tổ chức thuyết pháp cho các phạm nhân trong trại giam Bạc Liêu trên dưới 150 người được nghe pháp, mỗi tháng 2 lần Ni sư cúng thí thực cầu siêu các vị anh hùng chiến sĩ vị quốc vong thân. Ni sư còn động viên quí sư cô trong chùa tham gia vào Hội Hồng Thập Tự làm y tá và hoạt động từ thiện xã hội cùng với bà bác sĩ Nguyễn Tú Dinh thực hiện những công tác tốt đạo đẹp đời, vào những ngày lễ lớn như: Phật đản, Vu lan, Tết Nguyên đán đi phát quà cho đồng bào nghèo ở vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, hằng ngày chăm sóc giúp đỡ bệnh nhân nghèo nhất là đồng bào nghèo sống ở các ấp vùng sâu thiếu thốn thuốc men, mỗi chiều thứ bảy đi với bác sĩ Nguyễn Bội hoàn vào Trung Tâm cải huấn, khám và phát thuốc cho các can phạm.

          Năm 1968, chùa Bạch Liên bị cháy vì chiến tranh, Phật tử ủng hộ cúng dường cất lại ngôi chùa mái lợp tôle, vách tường. Mặc dù chùa xây dựng đơn giản Ni sư vẫn duy trì công tác từ thiện xã hội và còn đẩy mạnh công tác tiếp độ ni chúng, đào tạo ni tài, cho đến năm 1972 - 1974, do sự chỉ đạo và tổ chức của Ban Đại diện  Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Bạc Liêu, Ni sư mở liên tiếp ba khóa An cư kiết hạ để hướng dẫn ni chúng gần 100 vị tu tập, ngõ hầu trở thành trụ cột ni giới, hữu dụng cho hậu thế để phục vụ Đạo pháp - Dân tộc. Đặc biệt có một điều đáng ghi nhận là khóa An cư năm 1972, chỉ có 10 vị tập chúng an cư và 10 vị này đều thành đạo.

          Ngoài việc lo tu hành, đào tạo ni chúng dẫn dắt Phật tử phát triển tâm linh cho đến khi xả bỏ báo thân thâu thần tịch diệt. Mặc dầu ở vào thời kỳ đất nước Việt Nam đang hồi chiến tranh ác liệt mà Ni sư vẫn nuôi dạy đạo chúng, đào tạo ni tài và còn thực hiện xã hội.

          Hoạt động Phật sự của Ni sư xuyên suốt từ năm 1964 -1975 là những nghĩa cử cao quí đã gây một ấn tượng sâu đậm trong lòng Tăng ni và đồng bào Phật tử Bạc Liêu.

          Về cương vị tu hành, Ni sư luôn luôn đặt mình trong giới luật, suốt đời khổ hạnh trường chay, chăm lo tụng kinh, bái sám, thường ước ao đến lúc viên tịch thân xác được hỏa táng, được tự tay đồ chúng tẩn liệm, không nhận tiền phúng điếu, không viết tượng tang, không trống kèn nhạc lễ. Cuối cùng Ni sư cũng được mãn nguyện, môn đồ và Phật tử chùa Bạch Liên thực hiện theo lời chỉ dạy của Ni sư.

IV. Thời kỳ viên tịch:

Những tưởng tuổi thọ của Ni sư còn dài với tâm nguyện bao la muốn luôn được dấn thân vào đời cho “Hoa đạo ngát hương, cho rừng thiền rợp bóng”, nhưng lực bất tòng tâm, đời người có hạn, xác thân huyễn hóa của Ni sư cũng không ngoài định luật vô thường tất yếu tất nhiên theo qui trình sinh, lão, bệnh, tử.

          Vào ngày 18/10/1985, Ni sư lâm bệnh bán thân bất toại, môn đồ và Phật tử tận tâm chữa trị, Ni sư  đứng đi lại được, đến ngày 8/8/1986 Ni sư trở bệnh và trước ba ngày viên tịch Ni sư không ăn uống, thường hay mệt nhưng tinh thần vẫn trong sáng và không ngừng niệm Phật. Đến 22 giờ 20 phút hơi thở yếu dần, sau một hồi trống bát nhã vang lên, Ni sư mở to đôi mắt nhìn đại chúng lần cuối cùng và nở nụ cười hoan hỉ an nhiên thị tịch vào lúc 22 giờ 25 phút, ngày 19 /8/ Bính Dần, nhằm ngày 22/9/1986. Đến 11 giờ, ngày 23/9/1986, tiến hành lễ nhập quan, dùng lá bạch đàn phơi khô thay cho bông gòn, chiếu và vải gòn thay cho cao su tự tay môn đồ khâm liệm thân thể Ni Sư. Khi nhìn thấy sắc diện tươi tắn và nụ cười hoan hỉ của Ni Sư mà hàng môn đồ pháp quyến đều có niềm vui nỗi buồn lẫn lộn trong tâm hồn.

Kim quang Ni sư hoàn lại một ngày để cho Chư ni và Phật tử các nơi đến chiêm bái, 09 giờ, ngày 24/9/1986, cử hành lễ di quan, chư Tăng, Ni và phật tử đưa tiễn rất đông, đến ấp Cù Lao - xã Thủy Hưng Hội - làm lễ trà tỳ, sau khi ngọn lửa hồng đã tắt, còn lưu lại phần xương xá lợi ánh sáng đủ màu phản chiếu óng ánh.

Trụ thế 71 năm, 55 tuổi trong đạo (55 pháp lạp), 30 hạ lạp.

          Nhìn lại và suy nghĩ về đạo hạnh của Ni sư Thích Nữ Diệu Hữu là người sống thiểu dục tri túc, thúc liễm thân tâm trau dồi giới đức, nghiêm trì giới luật đồng thời thể hiện đức nhẫn nhục một chi phần trong lục độ và nhất là bát kỉnh pháp mà đức Phật phương tiện chế ra để dành cho ni giới trang nghiêm thân tâm tấn tu đạo hạnh, đạo phong, thật xứng đáng là một danh ni tiêu biểu trong lịch sử quá khứ của lịch sử Phật giáo Bạc Liêu.

          Sự nghiệp tu hành của Ni sư là thiết thực phục vụ, đúng với tinh thần đền đáp tứ trọng ân của đạo Phật. Từ ngày Người viên tịch cho đến nay, khi nhìn thấy cảnh chùa mới thấy đạo hạnh tu hành và công sức cống hiến cho Giáo hội, cho Đạo pháp - Dân tộc của Ni sư tại Bạc Liêu thật lớn lao. Trong hiện tại chùa Bạch Liên là Văn phòng Phân Ban đặc trách Ni giới, tỉnh Bạc Liêu để tiếp tục phát triển công tác Phật sự như ngày xưa Ni sư đã làm. Hàng hậu học nguyện tiếp bước theo hạnh  nguyện của người, lấy giới luật làm nền tảng căn bản cho đời sống tu hành, nên hiện nay Phân Ban đặc trách Ni giới tỉnh Bạc Liêu đã trình Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu và Ban Tăng sự Tỉnh hội, xin mở khóa chuyên khoa Luật của Ni giới để đào tạo chư ni Bạc Liêu càng ngày càng sáng ngời đạo hạnh, đây cũng là hành động tôn sư trọng đạo của môn đồ pháp quyến Ni sư và Phân Ban đặc trách Ni giới tỉnh Bạc Liêu đối với giác linh Ni sư Thích Nữ Diệu Hữu.

Nam Mô Ma Ha Tỳ kheo ni pháp húy Thích Nữ Diệu Hữu Bồ Tát giác Linh  tác đại chứng minh.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !