Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Một số yếu tố liên hoan đến việc hình thành tỉnh Bạc Liêu (Trần Phước Thu
Một số yếu tố liên hoan đến việc hình thành tỉnh Bạc Liêu (Trần Phước Thu PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
01/06/2012

nullMỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT BẠC LIÊU

* Trần Phước Thuận

I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NAM BỘ TRƯỚC THẾ KỶ XVIII.

Trong ba miền Nam Trung Bắc ở nước ta, Nam bộ là vùng đất non trẻ nhất nhưng cũng phức tạp nhất, đã trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, đã bị lãng quên trong quá khứ một thời gian dài,mãi đến thế kỷ XVII nới được người Việt phục hồi và từng bước hợp thức hóa vào lãnh thổ Việt Nam.

          Thực ra từ những năm đầu công nguyên vùng đất nầy vốn là nơi cộng cư của nhiều dân tộc, mỗi dân tộc cư trú trên mỗi địa bàn khác nhau, nhưng đến thế kỷ thứ II tất cả đều bị lệ thuộc bỡi Phù Nam - một dân tộc hùng mạnh nhất lúc bấy giờ.

      Phù Nam nhờ vào sức mạnh của mình để hình thành một đế quốc rộng lớn bao gồm hầu hết đất đai của Nam bộ hiện nay và nhiều nước kế cận; các nước nhỏ lúc đó như Chân Lạp (Serethapura) , Naravara… đều là thuộc quốc - là chư hầu của Phù Nam. Mười ba vương triều của Phù Nam từ nữ vương Liễu Diệp đến quốc vương Rudravarma (1) đã tồn tại và trị vì  từ thế kỷ thứ  II đến thế kỷ thư VI. Nhưng đến cuối thế kỷ thứ VI, nhân lúc triều đình Phù Nam suy yếu, vua Chân Lạp Mahendravarman đem quân tấn công kinh thành, vua Rudravarma yếu thế phải bỏ chạy về Naravara để lánh nạn, nhưng chẳng được bao lâu lại bị con vua Nahendravarman là Isanavarman đem quân truy đuổi, không chống cự nỗi ông phải đem tàn quân chạy ra biển, số dân không theo kịp phải trốn vào rừng. Kể từ đó cả một xứ sở rộng lớn của Phù Nam đã được thay ngôi đổi chủ.   

          Nhưng trên thực tế người Chân Lạp cũng không quản lý được hết các vùng đất họ đã chiếm được bỡi nhiều lý do :

          -Người Chân Lạp trong các thế kỷ đó không thích hợp sinh sống ở các vùng đất thấp.

          - Số lượng người Chân Lạp quá ít so với một diện tích quá rộng như Phù Nam.

          - Nội tình của các triều đại Chân Lạp luôn biến động, chỉ riêng trong thế kỷ XVIII có 17 đời vua thì 7 người bị giết. 3 bgười bị lật đổ. 7 người còn lại cũng đã xãy ra 4 cuộc bạo động hoàng gia.

          - Chiến tranh với ngoại quốc xãy ra liên tục, suốt trong chiều dài lịch sử Chân lạp đã diển ra nhiều trận đánh khốc liệt với các dân tộc chung quanh.

          - Các vì vua Chân Lạp tuy làm vua ở một nước nhỏ, nhưng nếu kể về số lượng di dời kinh đô và xây cất cung điện huy hoàng, thiết lập đền đài lộng lẫy thì không thua một nước nào trên thế giới. Kinh phí di dời và xây dựng này đã làm kiệt quệ ngân sách nhà nước, làm cho dđt nước trở nên nghèo đói.

          - Như trên đã nói đất Nam bộ nguyên không phải là bản địa của người Chân Lạp cho nên các vị vua Chân Lạp cũng không mấy quan tâm mấy đến vấn đề giữ đất.

 

          Đó chính là các lý do khiến cho vùng đất Nam bộ đã bị bỏ quên hàng ngàn năm, giã thiết nếu không có lưu dân người Việt, người Khmer và người Hoa đến đây khai thác, thì cái vùng địa lý gọi là "Nam Kỳ Lục Tỉnh" hiện nay chỉ là một dãy rừng hoang vu đúng như lời diễn tả của Châu Đạt Quan khi đi sứ đến Chân Lạp năm 1296 : "Đoạn từ Chân Bồ theo hướng Khôn Thân (Tây Nam - 1/6 Nam), chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn (K'ouen Louen, Poulo Condor) và vào cửa sông này có hàng chục ngã, nhưng ta chỉ có thể vào được cửa thứ tư (của Tiền Giang vào Mỹ Tho ngày nay), các ngã khác có nhièu bãi cát thuyền lớn đi không được. Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn  là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào, thế nên các thủy thủ cho rằng khó tìm được cửa sông (2).

 

          Như vậy đối với một vùng đất đã bị bỏ hoang nhiều đời, người Việt bằng cách nào đã hợp pháp hóa nó để trỡ thành miền Nam Việt Nam; hay nói cách khác người Việt đã hình thành Nam bộ bằng những yếu tố hợp lý nào ? Đây là vấn đề rất phức tạp nhưng qua tra cứu sử cũ và căn cứ vào nhũng di tích còn sót lại, trong quá trình hình thành Nam bộ có rất nhiều yếu tố hợp lý, bao gồm cả ý thức chủ quan lẫn các điều kiện khách quan; trong đó có các yếu tố cơ bản như sau :

 

          - Công khai phá của lưu dân người Kinh, người Khmer.

          - Lệnh di dân lập ấp và khai khẩn đất hoang Nam bộ của các chúa Nguyễn và các quan lại triều Nguyễn.

          - Người Minh Hương vào Nam bộ.

          - Mạc Cửu tình nguyện sáp nhập lãnh thổ vào Nam bộ năm 1708.

          - Mạc Thiên Tích khai hoang lập ấp ở Bạc Liêu và các vùng ven biên trấn Hà Tiên.

- Phan Thanh Giản với vùng đất Bạc Liêu

          - Công bồi đắp của thiên nhiên.

          - Quá trình Việt hóa.

 

II. CÔNG KHAI PHÁ CỦA LƯU DÂN NGƯỜI KINH.

 

          Từ thế kỷ XVI trở về trước, Nam bộ trên cơ bản vẫn là vùng đất hoang chưa được khai phá, mãi đến thế kỷ XVII mới có lưu dân đến cư trú và khai phá rãi rác ở một số điểm trên địa bàn Nam bộ; mặc dù vậy cho đến thế kỷ XVIII Nam bộ vẫn còn hoang vu, trong Phủ biên tạp lục Lê Quí Đôn đã kể “đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa biển lớn như Cần Giờ, Soài Rạp đi vào, toàn là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm …” (3).

 

          Số lưu dân đến Nam bộ gồm nhiều dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh, nhất là người Kinh thuộc tầng lớp nghèo, họ là những kẻ bị đàn áp bị bóc lột của chế độ phong kiến lỗi thời, là nạn nhân của tập đoàn Trịnh Nguyễn; họ phải phục vụ, phải hy sinh cho cuộc tranh chấp điên cuồng diễn ra giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài suốt 175 năm, trong đó có 45 năm vô cùng khốc liệt với 7 trận đại chiến “nồi da xáo thịt”.

 

          Các tập đoàn Trịnh và Nguyễn lúc bấy giờ muốn có đủ binh lính, họ phải dùng bạo lực để bắt thanh niên, thậm chí bắt tới lứa tuổi 16. Thích Đại Sán trong Hải ngoại ký sự đã kể lại những điều ông đã chứng kiến trong thời gian ở Thuận Hóa (1695 – 1696) “cứ mỗi năm vào khoảng tháng 3 tháng 4 quân nhân ra các làng bắt dân 16 tuổi trở lên, thể chất cường tráng, xiềng cổ bằng một cái gậy tre … đem sung quân, cho học một nghề chuyên môn, học nghề rồi được phân phát vào đội chiến thuyền để tập luyện, lúc biến sự ra trận để đánh giặc, khi vô sự bắt làm nô dịch trong phủ quan, chưa được 60 tuổi chưa cho về làng, vì thế dân còn lại rất yếu, tàn tật ít có người tráng kiện”. Ở một chỗ khác ông lại nói “Dân trong nước một lúc đã biên tên vào sổ lính, trọn năm phải phục dịch cửa quan, chẳng được về làng để thăm viếng vợ con cha mẹ”.

 

          Và theo lời của Pierre Poivre một thương nhân người Pháp đã tới Thuận Hóa đầu thế kỷ XVIII, ông nói “Nhà vua hiện nay chỉ có binh lính bằng cách sử dụng bạo lực” (4).

 

          Trong khi mọi người dân đều sống trong cảnh nghèo nàn cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm thì quan lại lúc bay giờ có cuộc sống hết sức xa hoa sung sướng. Điều này Lê Quí Đôn đã ghi lại trong Phủ biên tạp lục như sau : “Quan viên lớn nhỏ  không ai là không nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạt đồng nhau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trace, chén mâm đồ sứ, đồ hoa, yean cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quí phong lưu, đua nhau khoe đẹp … Họ coi vàng bạc như cát, thóc gao như bùn, xa xỉ rất mực …”.

 

          Để đáp ứng cho nhu cầu xa hoa thừa thải này, hai tập đoàn Trịnh, Nguyễn đã đặt ra hàng trăm lọai thuế, loại lệ hết sức nặng nề mà người dân phải gánh chịu. Trong lúc thừa hành thu thuế, những kẻ sai phái của nha môn lại dùng mọi thủ đoạn và quyền hành để vơ vét, bắt bớ, đánh đập, cướp giật của người dân. Điều này Lê Quí Đôn cũng đã ghi nhận “Như việc thuế khóa ở Thuận Hóa, pháp lệnh đã quá phiền phức, ruồm rà, các nhân viện trưng đốc thư lại quá đông đúc, những kẻ dân cùng những người nghèo khổ, thường bị khổ sở về việc bị nạp” “…trong hai xứ Thụân Hóa và Quãng Nam những chức bản đường chính ngạch đã quá nhiều, và những chức đặt thêm cũng quá lắm, cùng với những việc tướng thần, xã trưởng bội thu tiền bạc của nhân dân thì không sao tính cho xiết được …”.

 

          Cảnh sống lầm than cơ cực của người dân còn được Nguyễn Cư Trinh miêu tả rất rõ trong bức thư dâng lên chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1751 “Dân Quảng Nghĩa chịu thống thuộc nhiều nơi, đã chịu lệnh của nha trưởng điền tô, lại chịu lệnh của các nha biêt tài biệt nạp, lại chịu lệnh các nha sai viên vi tử, lại chịu lệnh các nha sai viên đầu nguồn, lại chịu lệnh bản phủ, lại chịu lệnh quan lại nha môn, lại chịu lệnh các sai nhân, lại chịu lệnh người đi săn ngang dọc, lại chẳng phải 10 con trâu cho tới 9 người chăn? Họ nghèo khổ thất nghiệp thật đáng thương” (5).

 

          Cuộc sống của người dân cực khổ bần cùng như thế, nên họ phải rời bỏ làng mạc nhà cửa ruộng vườn đi xứ khác làm ăn. Họ đã bất chấp hiểm nguy vượt biển vào khai khẩn đất hoang ở Nam bộ. (họ phải đi đường biển, vì đường bộ lúc này rất hiểm nguy, hơn nữa từ Bình Định vào lưu vực sông Đồng Nai vẫn còn là địa giới của nước Chiêm Thành).

 

          Những cuộc di cư này xảy ra phần đông dưới những hình thức trốn chạy, họ ra đi không đồng bộ nhưng liên tục trong suốt thế kỷ XVII và XVIII, lúc ra đi họ chỉ biết đại khái đến vùng đất “Gia Định – Đồng Nai”, còn điểm đến thật sự là nơi nào họ cũng chẳng biết. Những lưu dân này họ ghé bất cứ nơi nào, họ ở đó phá đất canh tác bằng chính đôi tay của họ với những dụng cụ thô sơ như búa liềm cuốc xuổng … nếu làm ăn được họ ở lại, nếu làm ăn trở ngại họ ra đi tìm đất mới, cứ thế họ sẽ đi đến nơi nào họ muốn và họ sẽ dừng lại định cư ở một nơi thích hợp.

 

          Trong thời gian tạm cư hay định cư, những người Kinh này không ở một mình, họ cùng nhóm hợp vài gia đình ở một nơi để đùm bọc giúp đỡ nhau, để chia xớt ngọt bùi cay đắng với nhau giữa nơi “quê người xứ lạ”.

 

          Lúc đầu họ chỉ khai khẩn đất hoang bằng sức người, sau đó họ nuôi được trâu bò để phá đất, việc khẩn hoang dần dần được quy mô hơn. Khi mới đến người dân ờ từng chòm, từng nhóm sau đó đông hơn thành xóm làng, họ ở rãi rác khắp các nơi bắt đầu xứ Mô Xoài, Bà Rịa, Đồng Nai, Gia Định đến các vùng Gò Công, Mỹ Tho, Tân An, Ba Tri, Sóc Sãi, Mỏ Cày, Trà Vinh, Sóc Trăng, Long Hồ, Long Xuyên, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau (không những người Kinh đến Nam bộ mà họ còn có mặt ở vùng phụ cận kinh đô Chân Lạp. Trong một bức thư năm 1665, Giáo sĩ người Pháp Chevreuil kể lại rằng “Tôi đến Colempé vào cuối năm 1665 đã thấy có hai làng Việt Nam nằm ở ven sông, số người độ 500, mà kẻ theo đạo thiên chúa chỉ có 4 hay 5 chục mà thôi” (6).

 

          Những người lưu dân người Kinh thuộc tầng lớp nghèo khổ bần cùng này, lúc ra đi “không kèn không trống”. Khi đến nơi ở cũng lặng lẽ âm thầm, tuy không thống kê được bao niêu, nhưng họ mới chính là chủ nhân chân thực ở Nam Bộ, những con người tiên phong trong công cuộc khai hoang lập ấp, những con người đã đổ nước mắt, mồ hôi và cả máu để tạo thành vùng đất màu mỡ Nam Bộ ngày nay.

 

 III. LỆNH DI DÂN LẬP ẤP VÀ KHAI KHẨN ĐẤT HOANG MIỀN NAM CỦA CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ CÁC QUAN LẠI TRIỀU NGUYỄN.

         

          Từ những năm đầu của thế kỷ XVII có lẽ lưu dân người Việt  có mặt khá đông ở Nam bộ, cho nên năm 1623 chúa Sãi - Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1665) viết  thư cho vua Chân Lạp là Prees Chey Chesde ngõ ý mượn Prei Nokor (Chợ Lớn ngày nay) và  Kas Krobey (Bến Nghé, Sài Gòn ngày nay) để đặt các trạm thuế quan. Vua Chân Lạp sau khi hỏi ý kiến các đại thần, đã thuận theo yêu cầu của chúa Nguyễn và gửi quốc thư thông báo sự chấp thuận; bấy giờ  chúa Nguyễn mới sai các viên chức thuế quan đến đóng tại Prei Nokor và Kas Krobey rồi từ đó  bắt đầu thu các loại thuế (7).

 

          Viêc lập dồn thuế của chúa Nguyễn Phúc Nguyên tại Prei Nokor và Kas Krobey tuy không phải là lệnh di dân lập ấp cũng không phải là lệnh khai khẩn đất hoang, nhưng nó cũng nằm trong kế hoạch di dân khẩn đất của chúa Nguyễn. Cho nên việc lập đồn thuế năm 1623 cũng được kể như là việc làm đầu tiên của kế hoạch này, mở đầu cho các lệnh di dân lập ấp khai khẩn đất hoang tiếp theo.

 

          Đến năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 –  1686) đã ban lệnh lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Đồn dinh nầy là một tổ chức bán quân sự bán hành chánh, triều Nguyễn lập ra để bảo vệ và điều hành số dân Việt đang có mặt ở miền Đông Nam bộ lúc đó, và cũng hỗ trợ cho phó vương Nặc Nộn đang tị nạn tại đây (Nặc Nộn đã ở Sài Gòn từ năm 1674 đến năm 1690).

 

          Việc lập đồn dinh ở Tân Mỹ, Đại Nam nhất thống chí có ghi "Năm Kỷ Mùi - 1679, vua Thái Tông  (Nguyễn Phúc Tần) mệnh tướng mở biên cảng, lập đồn dinh ở Tân Mỹ" (8). Và trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức cũng nói đến "Gia Định nguyên  xưa  có nhiều ao chầm rừng rú, vua Thái Tông sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng rộng rải, tức là chỉ chợ Điều Khiển  ngày nay, xây cất đồn dinh làm chỗ cho quan Tổng than mưu cư trị, lại đăt dinh Tân Thuận tức nay là làng Tân Thuận, có cất nha thụ cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở, lại có quân trại hộ vệ, ngăn ra tưng khu rào, ngòai ra thì cho dân trưng chiếm cho lập làng xóm phố chợ " (9). Vậy thì Gia Định và Sài Gòn trước khi trở thành phủ huyện đã là một thị trấn, một địa điểm chiến lược khá quan trọng lúc bấy giờ.

 

          Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu ( 1691 - 1725 ) cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (cũng đọc là Kính) vào Nam kinh lược. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã ghi lại "Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy đất Nông Nại  làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dưng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làn huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh lại đặt ra chức lưu thủ, cai bộ, ký lục để cai trị " (10).

 

           Như vậy từ năm 1698, Gia Định và Sài Gòn dã dược khai sinh thành đơn vị hành chánh, đã chính thức gắn vào lịch sử. Đây là một sự kiện rất quan trọng trong lịch sử hình thành Nam bộ.

 

Huyện Tân Bình lúc đó kể từ Mỹ Tho qua sông Vàm Cỏ tới hữu ngạn sông Sài Gòn ( bao gồm phần lớn thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp hiện nay ).

 

          Huyện Phước Long rộng bằng phân nửa miềm Đông Nam bộ bao gồm Bà Riạ, Vũng Tàu, Bình Long, Phước Long hiện nay.

 

          Phủ Gia Định là tổng diện tích của miền Đông Nam bộ, lúc đó ngưới ta cũng thường gọi Nam bộ là Gia Định.

 

          Cũng bỡi các phủ huyện này có diện lớn như  thế , cần phải có một lực lượng dân công đông đảo để khai hoang lập ấp, cho nên Nguyễn Hữu Cảnh phải trưng triệu một số lớn dân Quảng Bình vào Nam trong giai đoạn này.

 

          Theo tổ chức hành chánh lúc đó, dinh (còn gọi là doanh) là đơn vị hành chánh như tỉnh hiện nay, dinh có nhiều phủ, phủ có nhiều huyện, huyện có nhiều xã , xã có nhiều thôn. Lúc mới thành lập dân quá ít nên dinh Phiên Trấn chỉ có một huyện Tân Bình và dinh Trấn Biên chỉ có một huyện Phước Long, đồng thời cả hai dinh chỉ có một phủ Gia Định. Về phần quan lại cũng ít người nên quan trấn thủ dinh Phiên Trấn phải kiêm luôn chức tri huyện Tân Bình và tri phủ Gia Định. Trong lúc an ninh chưa được ổn định lắm, nhà nước phải dùng chế độ quân quyền ở Gia Định, quan võ phải làm luôn nhiệm vụ của quan văn, phủ huyện chỉ có trên danh nghĩa vì thực tế không có nha sở riêng, mà tất cả cai bộ ký lục đều phải làm việc dưới quyền giám quân tại lân Tân Thuận.

 

          Tại Gia Định trước năm Mậu Dần ( 1698 ) dân chúng tự do chiếm hữu ruộng đất, đến khi Nguyễn Hữu Cảnh vào thành lập phủ huyện đồng thời ông cũng chia cắt xã thôn phường ấp, quy định việc khai khẩn ruộng vườn, lập sổ bộ dinh điền, chuẩn định thuế điền thuế đinh. Thời kỳ lưu dân tự phát tự quản đến đây về mặt cơ bản được coi như chấm dứt, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ vì luật pháp lúc đó cũng còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

 

          Sài Gòn phát triển rất nhanh ở mọi mặt nên chỉ vài năm sau đó ngoài đồn dinh của quan Tổng tham mưu, nha thự ở lân Tân Thuận, kho quản tháo để thu thuế, còn có các phố thị Bến Nghé, Thị Nghè, Đất Hộ, Chợ Lớn, Chợ Quán … Sài Gòn đã trở thành một trung tâm hành chánh, thương mại và quân sự quan trọng nhất của Nam bộ ngay từ buổi đầu.

 

          Phủ Gia Định được thành lập mở đầu  cho trang sử hình thành Nam bộ; mặc dù sự kiện nầy nằm trong kế hoặch mở đất của triều Nguyển và sự đôn đốc, tổ chức khéo léo của Nguyễn Hữu Cảnh, nhưng chỉ nói do công của triều Nguyễn và ông quan đại thần họ Nguyễn thì chưa đủ, mà phải nói cái thành quả to tát  này còn do công sức của những bàn tay "tay lấm chân bùn". do công lao của những ngưòi "tha phương cầu thực ", do xương máu, nưc nắt của những lưu dân nghèo ngưòi Kinh đã lìa xa quê cha đất tổ vào đây để chiến đấu với bao hiểm nguy của "rừng sâu nước độc", của thú dữ đầy đàn, để tạo ra từng tất đất màu mỡ phì  nhiêu cho chúng ta ngày nay.

 

IV. CÔNG KHAI PHÁ ĐẤT CỦA NGƯỜI KHMER.

         

          Người Khmer là một trong 54 tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cư trú ở nhiều tỉnh thuộc Nam bộ. Người Khmer chủ yếu sống bằng nghề nông, họ thường ở tập trung trên các khu đất gò, các thôn xóm của người Khmer thường gọi là phum, sóc. Bạc Liêu là một trong các tỉnh có người Khmer sinh sống, trong suốt ba trăm năm qua người Khmer đã cùng với người Việt người Hoa cùng tương trợ gắn bó với nhau để cùng xây dựng một Bạc Liêu giàu đẹp như ngày nay.

          Cách ba trăm năm trước, vùng đất Bạc Liêu chưa phải là một đơn vị hành chánh mà chỉ là một phần đất thuộc trấn Hà Tiên, lúc bấy giờ do Mạc Cửu làm Tổng trấn. Dân số người Khmer lúc bấy giờ rất ít, sống rãi rác trên những khu đất gò, nghề chính là làm lúa nước. Mạc Cửu từ khi khai mở xứ Hà Tiên đã có kế hoạch chiêu mộ dân chúng sống tập trung để thành lập phố chợ, những nơi phụ thuộc thì chủ trương khai hoang lập ấp để thành lập thôn làng, người nghèo được giúp đỡ phương tiện để cải tạo dần cuộc sống. Sau khi mạc Cửu qua đời, Mạc Thiên Tích đã nối tiếp chưởng quản trấn Hà Tiên và tiếp tục thực hiện ý nguyện khai hoang lập ấp của cha. Bạc Liêu là một trong các điểm nằm trong kế hoạch mở mang bờ cõi của họ Mạc, chính Thiên Tích đã đem lưu dân về đây khai phá ruộng đất để lập thôn lập chợ từ năm 1757 cùng lúc với việc thành lập đạo Long Xuyên (vùng Cà Mau bây giờ).

          Người Khmer lúc đó đã có một số ít ở đây, cộng với những người từ Hà Tiên vừa tới, họ đã sống quây quần với nhau thành một xóm dân cư gọi là sóc Đồn gần bờ biển Bạc Liêu, cùng lúc đó người Việt và người Hoa đã định cư trên bờ biển gọi là xóm Pò Léo, lúc đầu người Hoa sống với nghề làm nò đáy, nhưng dần dần họ chuyển sang nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa với nhau, chợ Bạc Liêu ra đời bắt đầu từ thời gian đó. Chỉ có người Khmer luôn trung thành với nghề ruộng rẫy, mặc dù dụng cụ rat đơn sơ như phảng, rựa, dao rừng… với chí cần cù nhẫn nại họ đã cùng với người Việt khai phá biết bao thửa đất màu mở, thành lập nhiều làng mạc ở đây. Lúc Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản về đây lấp các thôn làng Vĩnh Hinh, Vĩnh Mỹ, Vĩnh Trạch… thì dân cư ở đây đã đông đúc và ruộng vườn rất phì nhiêu rồi.

          Trong suốt thời gian dài, người Khmer thực sự đã bỏ nhiều công sức khai hoang phá đất lập nên làng xã, đã góp phần tích cực trong việc xây dựng quê hương Bạc Liêu, một tỉnh ở cuối miền đất nước.

 

V. NGƯỜI MINH HƯƠNG VÀO NAM BỘ.

 

Năm 1644 nhà Mãn Thanh đã thay thế Minh triều trị vì đất nước Trung Hoa, một số sĩ phu di thần của nhà Minh không chịu nổi cái cảnh "cắt tóc cột đuôi sam " của vương triều mới đã lui về ở ẩn nơi núi sâu, diền dã hoặc trốn chạy ra các vùng quan ngoại xa xôi.

 

Trong số nầy có Dương Ngạn Địch, tổng binh trấn thủ Long Môn (Quảng Tây) và phó tưng Hoàng Tiến, phối hợp với Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm và phó tưóng Trần An Bình, đem hơn 3.000 quân cùng gia đình và 50 chiếc thuyền vượt bể đến Nam bộ xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho cư trú, vào cuối năm  Kỹ Mùi (1679).

 

Trưóc đó nửa năm, cũng vào năm này (1679 ) chúa Nguyễn đã ra lệnh cho lập đồn dinh ở Tân Mỹ (Gia Định) đang thiếu thốn binh lính và dân công để lập ấp, cho nên chúa Nguyễn chấp thuận cho những người Minh Hương này vào Gia Định cư trú ở hai nơi :

         

          Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến cùng những người Quảng Tây đem binh lính ghe thuyền cào cửa Đại, cửa Tiền rồi lên đồn trú ở Mỹ Tho.

 

          Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình đem bộ hạ người Quảng Đông vào cửa Cần Giờ lên đồn trú ở xứ Bàn Lân - Đồng Nai (thị trấn Biên Hòa hiện nay).

 

          Hai địa phương Mỹ Tho và Đồng Nai lúc bấy giờ đã có lưu dân người Việt ở, hai nhóm người Minh Hương mới đến này cũng hòa nhập với người Việt để khẩn đất khai hoang. Nhưng có lẽ họ không quen với môi trường nông nghiệp, nên chỉ có một số nhỏ theo người Việt làm ruộng, còn đa số lo mua bán. Họ lập ra phố chợ Mỹ Tho và Nông Nại đại phố là hai thương điếm lớn để mua bán với người Tàu, người Việt, ngưồi Khmer, người Thái …

 

          Triều Nguyễn cũng chú ý đến đời sống của ngưòi Hoa, để bảo đảm vấn đề an ninh cho họ, đã cho lập xã Thanh Hà ở Nông Nại và xã Minh Hương ở Sài Gòn (Chợ Lớn hiện nay) cho số người Quảng Đông đã đến đây từ trước năm 1679. Có lẽ xã Minh Hương là địa điểm làm ăn mua bán thuận lợi nên số người ở xã Thanh Hà dần dần rút về nhập cư vào xã Minh Hương càng ngày càng đông. Một số người nói  khoảng giữa thế kỷ XVIII có số người Hoa ở đây đã bỏ Nông Nại đại phố chạy về Sài Gòn lập xã Minh Hương và chợ Sài Gòn; điều nầy không đúng, vì xã Minh Hương đã được thành lập cùng một lúc với xã Thanh Hà. Nhưng trên thật tế có thể khẳng định là do nhu cầu sinh kế, một số người Hoa ở Mỹ Tho đã dần dần di tản theo bờ biển đến các địa phương phía nam để lập nghiệp bằng nghề đánh bắt, số người này đã tục tập rất đông ở bờ biển Bạc Liêu vào những năm đầu của thế kỷ XVIII, họ đã tụ họp thành một xóm nhỏ ở đây để đóng đáy, làm rẫy…

                  

Tất cả người Hoa tuần tự được triều Nguyễn cho nhập Việt tịch và đưc hưởng tất cả đặc quyền của một công dân Việt Nam. Từ "Minh Hương" lúc đầu chỉ được dùng riêng cho dân người Hoa ở xã Minh Hương (nơi có hội quán Minh Hương Gia Thạnh - Chợ Lớn hiện nay), sau đó từ Minh Hương được dùng để gọi những người có "quê hương ở Minh triều " đã nhập Việt tịch.

 

          Như vậy những người nói rằng "người Hoa đến trước, nhà nước Việt Nam đến sau" thì không đúng với sự thật lịch sử, vì lưu dân người Kinh đã có mặt ở Đồng Nai và Mỹ Tho trước khi nguời Quảng Tây và Quảng Đông đến đây, còn nếu nói "nhà nước Việt Nam đến sau" thì trên thực tế đồn dinh Tân Mỹ đã được thành lập trước khi nguời Hoa vào Gia Định. Tuy nhiên cũng phải nói rằng suốt hơn hai trăm năm dài sống nơi quê hương mới, những người Minh Hương đã lưu lại ở Nam Bộ nhiều loại hình di sản văn hóa và không ít những kinh nghiệm về thương trường. Nhất là ở Bạc Liêu không những người Hoa rất đông đúc mà còn ảnh hưởng về văn hóa thật sâu đậm.

 

 

 

 

VI. MẠC CỬU TÌNH NGUYỆN SÁP NHẬP ĐẤT HÀ TIÊN VÀO NAM BỘ NĂM 1708.

 

          Mạc Cửu (1655 - 1735) là một thương nhân lớn, ông nguyên là người châu Lôi (Quảng Đông) thường buôn bán tới lui khắp vùng Lữ Tống, Java, Đại Việt, Chăm Pa, Chân Lập…; khi thấy Trung Hoa đã rơi vào tay người Mãn Thanh, Minh triều không mong khôi phục lại, nên từ năm 1680, ông đã ở hẵn tại vùng cửa biển Péam (thường gọi là Màng Khảm), đây là nơi trù phú, là điểm người nước ngoài thường tụ hội, nhiều nhất là lưu dân ngưòi Việt. Sau khi định cư Mạc Cửu đ đổi gọi vùng đất này là Phương Thành.

 

          Mạc Cửu đã lập đồn xây phố, sử dụng người địa phương chiêu mộ  dân tứ xứ để tuần tự thành lập bảy thôn (làng) là Phương Thành, Phú Quốc, Cần Bột (Kampot), Rạch Giá, Luống Cày (Lũng Kỳ), Hương Úc (Kompongsom) và Cà Mau. Riêng Phương Thành tương truyền có tiên hiện ra trên sông nên sau đó được đổi tên là Hà Tiên.

 

          Trong bưóc đầu mới khai hoang lập ấp diện tích canh tác còn ít, phương thức canh tác cũng lạc hậu nên số lúa thu hoạch chẳng được bao nhiêu, dân trong bảy xã thôn đa số là dân nghèo, nên Mạc Cửu đã miễn các loại thuế nông nghiệp, bù vào đó ông chủ trương mua bán; ông mua các mặt hàng nội địa bán ra nước ngoài, nhập hàng nước ngoài bán vào nội địa, ngoài ra còn tổ chức nhiều sòng bạc lớn phục vụ cho người ngoại quốc và một số người giàu có ở bản xứ để lấy xâu. Kể ra việc làm của ông không hẵn đã đúng lắm, nhưng một phần nào cũng thích nghi trong giai đoạn đó.

 

          Cuộc sống như vậy tạm thời yên ổn, nhưng yên ổn không bao lâu thì quân Xiêm đem quân đến cướp phá, Mạc Cửu thế cô chống chọi với quân Xiêm không nổi, chỉ còn cách xin thần phục Nam triều.    

          Năm 1708 (11), chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận và phong cho Mạc Cửu làm tổng binh cai quản đất Hà Tiên và bảy xã thôn, đồng thời đem binh đến tiếp viện đánh bật quân Xiêm ra khỏi bờ cõi. Kể từ đó một vùng đất rộng lớn từ Hà Tiên đến Cà Mau và luôn hai vùng đất Kampot và Kompongsom đã chính thức trở thành đất của Nam bộ. (Kampot và Kompongsom sau này được vua Thiệu Trị trả lại cho Chân Lạp năm 1847).

          Sự kiện này xảy ra tuy do sự tình nguyện sáp nhập lãnh thổ của Mạc Cửu, nhưng cũng phải nói một phần lớn là công lao của quân đội Nam triều, trong lúc đánh đuổi một lực lượng quân giặc hùng mạnh như Xiêm La ra khỏi bờ cõi, quân đội và nhân ta thời đó đã phải đổ ra nhiều xương máu. Giả thiết nếu Mạc Cửu không thần phục triều Nguyễn thì Phương Thành nhắm có thể giữ được không, hay phải rơi vào  sự kềm tỏa của người Xiêm?  Cho nên cái hành động của Mạc Cửu phải nói là một hành khôn ngoan của một người thức thời, vừa bảo vệ được danh dự, sinh mạng, chức quyền vừa giữ được sự an bình cho bá tánh ở bảy thôn.

          Lúc bấy giờ quân đội triều Nguyễn rất hùng mạnh nên các xứ Chân Lạp, Xiêm La, Java… không dám dòm ngó đến các vùng đất mới, nên nhân dân Hà Tiên và bảy thôn sống rất tự do và yên ổn. Biết được tin đó, một số lớn người ở các tỉnh phía nam Trung Quốc đã di cư sang miền Nam Việt Nam, những cuộc di cư liên tục xảy ra, hợp pháp có bất hợp pháp cũng có, đông có ít cũng có, nhưng thế nào chăng nữa cũng được nhà nước triều Nguyễn hoan nghinh và cho nhập cư. Nên sau đó có một số nơi ở miền Nam có người Hoa rất đông, điển hình như người Quảng Đông ở Chợ Lớn và Triều Châu ở Bạc Liêu. Tại Bạc Liêu, người Triều Châu đã lập Vĩnh Triều Minh hội quán, trụ sở đặt tại Thành Hoàng cổ miếu, di tích này hiện còn đến nay.

VII. MẠC THIÊN TÍCH MỞ ĐẦU KẾ HOẠCH DI DÂN LẬP ẤP Ở BẠC LIÊU.

 

Người Hoa ở Việt Nam có số lượng rất lớn, họ sống rãi rác khắp tỉnh từ Bắc chí Nam nước ta, riêng Nam bộ có 5 nơi là địa điểm cư trú của người Hoa có nguồn gốc lâu đời như: Biên Hoà, Chợ Lớn , Mỹ Tho, Hà Tiên và Bạc Liêu. Người Hoa ở các nơi đó đa số là người Quảng, chỉ riêng ở Bạc Liêu là có sự hiện diện của người Triều Châu. Có người hỏi rằng: “Nguyên nhân nào người Bạc Liêu đến Bạc Liêu sinh sống ?”. Đây là một vấn đề phức tạp có liên quan đến nguồn gốc người Hoa ở Bạc Liêu. Theo lời kể của một số người lớn tuổi thì Mạc Cửu nguyên là người Lôi Châu, nhưng vợ lớn của ông là người Triều Châu, một số lớn thủ hạ của ông cũng là người Triều Châu. Cho nên có rất nhiều người Triều Châu đến Hà Tiên làm ăn sinh sống, nhất là sau năm 1708 Hà Tiên đã biến thành vùng thái bình thạnh trị, số lượng người Triều Châu ở đây ngày càng tăng thêm.

 

Năm 1757 triều Nguyễn tiếp thu vùng Ba Thắc và sáp nhập một phần của vùng này vào trấn Hà Tiên dưới quyền cai quản của tổng binh Mạc Thiên Tích (1706 – 1780) con trai Mạc Cửu. Lúc bấy giờ, triều Nguyễn đang thực hiện chính sách di dân khẩn đất của Nguyễn Cư Trinh nên rất chú trọng đến vấn đề khai hoang lập ấp, nhất là đối với những vùng đất mới; vì vậy sau khi nhận vùng Ba Thắc, Mạc Thiên Tích liền nghĩ ngay đến việc di dân đến khai hoang; sẵn có một số người Triều Châu mới đến chưa có nơi ở, ông đã tập trung số người này cùng một số dân bản địa để đưa về Ba Thắc. Số người được đưa đi không rõ bao nhiêu – Theo những người lớn tuổi nghe ông bà kể lại lúc đó hơn 50 gia đình, gồm cả ba tộc người: Việt, Hoa và Khmer. Riêng người Hoa đa số là thần dân của Minh triều nên họ tự nhận là người Minh Hương.

 

Lúc mới đến, họ sống tập trung trên một khu đất gò (thuộc thành phố Bạc Liêu ngày nay). Vùng đất này vừa cận biển, vừa giáp rừng lại có ruộng đồng bao la bát ngát, tài nguyên cả ba mặt, nông lâm, ngư thật vô cùng phong phú, mọi người ở đây ó thể tự tiên bằng vào khả năng của mình để tự do phá đất, khẩn hoang làm ruộng rẫy hoặc lên rừng săn thú, đốn củi, làm than, hoặc ra mé biển đóng đáy, giăng câu, chài cá… Họ tụ tập thành một xóm nhỏ, có lẽ do lúc đầu quá nghèo, nhà cửa quá đơn sơ thưa thớt nên họ tự gọi là xóm Pò Léo (theo âm Triều Châu có nghĩa là xóm nghèo, xóm nhà thưa…), lâu dần trở thành một địa danh quen thuộc. Người Kinh đã căn cứ vào cái tên Pò Léo này gọi theo âm Hán Việt là Bạc Liêu.

 

Cuộc sống của người dân lúc đầu rất thiếu thốn và cực khổ, nhưng nhờ thiên nhiên ưu đãi cộng thêm tính cần cù lao động của họ nên chẳng bao lâu đã cải thiện được đời sống, cuộc sống dần trở nên sung túc, họ đã tự động tổ chức một địa điểm gần bờ biển để mua bán và trao đổi hàng hoá với các nơi (Chợ Bạc Liêu ngày nay). Nghề mua bán vốn là sở trường của người Triều Châu, nên khi thấy ở đây mau bán được, họ đã từng bước bỏ dần cái nghề biển, nghề nông để làm thương mại. Cuộc sống của con người ngày càng cao, các nhu cầu vật chất càng lớn nên việc mua bán ở Bạc Liêu càng lúc càng thịnh hành, chỉ ít lâu đã trở thành cái chợ nhỏ nhưng rất trù phú. Chính những người Triều Châu ở đây đã thông tin cho thân nhân, bè bạn của họ ở tậ quê hương về cái xứ “Bạc Liêu – mưa thuận, gió hoà” này, nên người Triều Châu đến Bạc Liêu càng lúc càng đông. Lúc bấy giờ có câu hát “Bạc Liêu là xứ quê mùa, dưới sông có chốt, trên bờ Triều Châu”, tuy câu hát nom na dí dỏm nhưng cũng chứng minh có rất đông người Triều Châu ở Bạc Liêu vào lúc đó.

 

Thật ra không phải tộc người Triều Châu là tộc người đông nhất ở Bạc Liêu, vì theo thống kê của Pháp vào năm 1910, ở Bạc Liêu có 19,500 người Việt, 19.850 người Khmer, và 12.213 người Hoa gồm (Triều, Quảng…). Như vậy, số lượng người Triều Châu còn kém xa người Khmer và người Việt, nhưng người Việt và người Khmer thì sống khắp nơi trong địa bàn tỉnh, còn người Triều Châu chỉ sống tập trung trong vùng thị xã Bạc Liêu nên xem rất đông.

 

Người Triều Châu đến đây từ hơn hai thế kỷ, họ đã hoà nhập vào cuộc sống mới, vào sinh hoạt mới, xem Bạc Liêu như quê hương của mình, họ đã cùng người Việt, người Khmer chung lưng đâu cật, bồi đắp xây dựng Bạc Liêu từ một thôn xóm nghèo nàn vắng vẻ trở thành một phố thị đông đúc và giàu sang nổi tiếng ở miền Nam. Trong thời Pháp thuộc, người Triều Châu ở Bạc Liêu cũng đã hưởng ứng và tích cực tham gia các phong trào yêu nước, điển hình như các hoạt động của Thiên Địa hội trong buổi đầu.

 

Đến năm 1956, người Triều Châu ở Bạc Liêu và người Hoa ở các tỉnh khác đã chính thức nhập Việt tịch, được hưởng mọi quyền lợi và chế độ như người Việt Nam.

 

Tóm lại, người Triều Châu đến Bạc Liêu có rất nhiều đợt, nhưng chỉ có đợt đầu năm 1757 là đợt di cư tập trung theo kế hoạch của triều Nguyễn; còn những đợt sau trong suốt thế kỷ XIX và XX đều là những đợt di cư tự phát, đa số với mục đích tìm sinh kế. Nhưng dù là người Triều Châu thuộc loại Minh Hương hay những người Triều Châu đến trong các thế kỷ sau đó, tất cả đều đã đóng góp ít nhiều công sức của mình cho quê hương Bạc Liêu, nhất là trong hai mặt kinh tế văn hoá, để đến hôm nay con cháu của người Triều Châu tuy đa số đã trở thành người Việt nhưng vẫn thừa hưởng được thành qủa của tổ phụ vừa sống hoà ái trong đại gia đình Việt Nam.

VIII. PHAN THANH GIẢN ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT BẠC LIÊU.

Phan Thanh Giản là một nhân vật rất đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp của ông đã được con người của nhiều thế hệ - nhiều thời kỳ đem ra bàn bạc, có nhiều người đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của ông rất cao cho ông là người trung tín tiết nghĩa, nhưng cũng có lắm người lại chê trách ông đủ điều, thậm chí có người còn lên án ông là kẻ bán nước; cả đến những nhà nghiên cứu khoa học ngày nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về ông. Thực ra Phan Thanh Giản là con người có tài, tánh hạnh lại rất tốt, nhưng cuộc đời của ông lại là một bi kịch, không những lúc còn sống đã nhiều phen lên bổng xuống trầm mà đến lúc chết cũng không được yên ổn – chiếc bia Tiến sĩ của ông cũng như cuộc đời của ông có lúc bị người ta đục khoét hủy bỏ, có lúc lại được trùng tu xây dựng lại. Nhưng dù được khen tặng hay bị chê trách, trong hơn trăm năm qua Phan Thanh Giản vẫn được nhân dân thờ phụng nhiều nơi ở Nam bộ như một vị linh thần ; không những ở Vĩnh Long, Bến Tre, Bình Dương  mà cả đến một vùng đất xa xôi ở cuối miền đất nước như Bạc Liêu cũng có miếu thờ ông.

 

Phan Thanh Giản tự Đạm Bá (cũng có tự là Đạm Như) hiệu Lương Khê biệt hiệu Mai Xuyên, ông sinh ngày 12 tháng 10 năm Bính Thìn (1796) ở thôn Tân Thạnh, huyện Tân An, dinh Long Hồ (sau đổi là huyện Vĩnh Bình phủ Định Viễn tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc xã Bảo Thạnh huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre). Ông mồ côi cha năm lên 7 tuổi, nhà nghèo nhưng rất hiếu học nên ngay từ thuở nhỏ ông đã được một số Mạnh Thường Quân giúp đỡ cho ăn học, ông học rất giỏi – học đâu nhớ đó nổi tiếng khắp một vùng, năm Ất Dậu (1925) thi Hương đỗ Cử nhân trường Gia Định sang năm sau Bính Tuất (1926) thi Hội đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, đã được Quốc triều Đăng khoa lục ghi nhận “ Ông là người đỗ đại khoa trước nhất của Nam kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh chính trực”.

 

Từ đó đến năm 1862, ông liên tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong suốt ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Do tính cương trực thường can ngăn nhà vua nên nhiều lần bị giáng chức, cách chức nhưng nhờ sự ngay thẳng thành thật của ông nên sau đó đều được phục hồi; đến năm 1851 Phan Thanh Giản được phong làm Kinh lược phó sứ Nam kỳ lĩnh tuần phủ Gia Định, kiêm coi tỉnh Biên Hoà và các đạo Long Tường, An Hà. Đây là điều kiện thuận lợi để ông phục vụ đất nước và con người Nam bộ – quê hương   của ông.

 

Ngay từ lúc mới nhận chức ông đã đi kinh lý nhiều tỉnh ở phía Nam để xem xét dân tình, những nơi nào đất đai chưa được khai phá ông luôn đôn đốc làng tổng mộ dân khai hoang lập ấp và tạo mọi điều kiện để mở mang dân trí. Ông đến Bạc Liêu (lúc đó là tổng Thạnh Hòa thuộc phủ Ba Xuyên) nhận thấy đây là một thị trấn nhỏ nhưng tiềm năng kinh tế rất lớn, đất đai ở đây lại rất màu mở nhưng có nhiều chỗ còn bỏ hoang chưa khai thác nên ông đã lập kế hoạch vận động lưu dân ở các nơi về đây sinh sống, có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với những người ở xa, và tưởng thưởng xứng đáng đối với những người chiêu mộ lưu dân khai khẩn đất hoang thành lập thôn làng, có lẽ vì vậy nên người Triều Châu đến sinh sống ở Bạc Liêu càng lúc càng đông.

 

Lúc bấy giờ, lưu dân từ các nơi về Bạc Liêu ở đều được khuyến khích làm ăn, riêng nông dân được trang bị các phương tiện canh tác để phá rừng, cuốc năn, phát cỏ làm ruộng rẫy ; chẳng bao lâu diện tích của bốn làng Vĩnh Hương, Vĩnh Hinh, Tân Hưng và An Trạch liên tiếp được mở rộng ra (đến năm 1890 bốn làng này được nhập lại gọi là làng Vĩnh Lợi và nay là phần đất của thị xã Bạc Liêu). Trong thời gian này, ông đã cùng Nguyễn Tri Phương (lúc đó là Kinh lược sứ Nam Kỳ) dâng sớ lên vua Tự Đức xin tám điều quy định về chính sách xã hội, nội dung của tám điều này đều xuất phát từ lợi ích của quê hương đất nước và quần chúng nhân dân. Nhất là những quy định về quyền lợi của lưu dân trong những ngày đầu khai hoang lập ấp.

 

Phan Thanh Giản còn là người biết lo đến đời sống tinh thần của nhân dân, ông nhận thấy ngôi đình làng ở đây qúa nhỏ lại được làm bằng cây lá đơn sơ rất dễ bị hư mục nên đã vận động bà con cùng nhau người góp công kẻ góp của để xây dựng thành một ngôi đình khang trang (đình Tân Hưng ở phường 3 thị xã Bạc Liêu hiện nay), và để an lòng bá tánh ông còn viết sớ xin với triều đình Huế ban sắc thần cho đình này. Kết qủa vua Tự Đức đã chuẩn tấu ban sắc thần cho đình Tân Hưng vào ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý niên hiệu Tự Đức thứ V (nhằm ngày 08 tháng 01 năm 1853 DL). Phan Thanh Giản đã sớm nhận ra trình độ văn hóa của người Bạc Liêu lúc bấy giờ rất thấp, nên ông đã đưa thầy đồ từ các tỉnh xa về đây để dạy chữ Hán, theo ý của Nguyễn Tri Phương (Kinh lược sứ Nam kỳ) ông đã cho xây dựng Tiên Sư miếu (sau đổi tên thành Tiên Sư cổ phủ và ngày nay là Tiên Sư cổ miếu, hiện tọa lạc tại trung tâm thị xã Bạc Liêu) để thờ các vị tiền hiền có công khai mở đất đai, xây dựng thôn làng, phố thị; đông lang và tây lang của miếu được nới rộng để làm lớp học. Mặc dầu lớp học này tồn tại không lâu vì tình hình an ninh trật tự sau đó rất rối ren, nhưng có thể nói miếu Tiên Sư là điểm dạy học đầu tiên ở Bạc Liêu và Phan Thanh Giản chính là người đã tốn nhiều công sức trong việc khai mở nền giáo dục ở vùng đất xa xôi này. Để nhớ ơn ông, người Bạc Liêu đã lập thần vị thờ ông tại Tiên Sư cổ miếu từ hơn trăm năm nay. Do có những đặc điểm về lịch sử như thế nên Tiên Sư cổ miếu hiện nay đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu ra quyết định bảo vệ di tích lịch sử văn hoá (QĐ số 877/QĐ.UB ngày 15 tháng 09 năm 1997 ).

 

Những việc làm của Phan Thanh Giản đã để lại những dấu ấn  rất sâu đậm trong lòng người, nên sau khi ông tuyệt thực lìa đời tại Vĩnh Long (1867) có nhiều người đương thời và nhiều người sau đó rất cảm phục đức độ và nhân phẩm của ông. Phạm Phú Thứ người cùng đi sứ sang Pháp với ông để chuột lại ba tỉnh Miền Đông Nam kỳ, trong bài văn tế Phan đã nói “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo” ; Nguyễn Thông cũng cho rằng cái chết của Phan Thanh Giản là cái chết tiết nghĩa có quan hệ đến phong hoá nên đã tâu với vua Tự Đức ban thưởng cho ông … ; cả đến cụ Nguyễn Đình Chiểu – một người có lập trường rất rõ ràng và cứng cỏi trong việc bất hợp tác với Pháp, thế mà trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản bằng chữ Hán cũng đã khẳng định “ Lịch sĩ tam triều độc khiết thân” (một người duy nhất đã trãi qua ba triều vua nhưng vẫn trong sạch) và trong trong bài văn tế Lục tỉnh sĩ trận vong cụ cũng nói “Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc“. Năm 1876, lại có một người trong hoàng tộc nhà Nguyễn là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cũng bất chấp Phan Thanh Giản là người đang bị kết tội, đã sưu tập toàn bộ các bài thơ của ông, viết lời tựa và cho khắc in.

 

Riêng về người Bạc Liêu từ lâu đã xem Phan Thanh Giản là một trong những bậc tiền hiền khai cơ mở đất, nên nếu có dịp nhắc đến ông thì mọi người đều thương xót ngậm ngùi cho số phận nghiệt ngã của một con người suốt đời phải lận đận lao đao vì chuyện nước non để cuối cùng phải tự giải quyết đời mình bằng chén thuốc độc, lại còn bị một số người đương thời và người đời sau lên án. Đối với cái chết của ông, đa số người ở đây đều cảm thấy vô cùng đau đớn trong cái cảnh mà nhà thơ Dương Tử  Giang đã minh họa “Phan Thanh Giản ngậm hờn pha thuốc độc”; cho nên từ hơn thế kỷ trước nhiều người đã bất chấp những lời đàm tiếu không tốt về ông – bất chấp luôn cả cái án trảm giam hậu của vua Tự Đức “ban” cho ông – đã mạnh dạn lập thần vị phụng thờ ông tại Tiên Sư cổ miếu, hương hoa bốn mùa cúng tế từ lúc ông qua đời cho đến ngày nay.

IX. SỰ KIỆN PHÂN ĐỊNH RANH GIỚI MIÊN VIỆT CỦA VUA NORODOM VÀ CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP.

          Một sự kiện rất quan trọng trong lịch sử hình thành các tỉnh Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng, đó là việc phân ranh giới Việt  Miên do chính quyền Pháp và chính quyền Khmer quyết định. Vào tháng 3 năm 1870, Ủy ban phân ranh giới Việt Miên được thành lập, phía Pháp gồm ba người là các ông : Rheinart, Labussiere, De Bastard thay mặt thống đốc Nam kỳ; phía Khmer gồm một số đại thần do vua Norodom đề cử. Phái đoàn đã làm việc 34 ngày, đi hơn 125 km từ Tây Ninh đến Hà Tiên, cắm tất cả 124 trụ đá, trụ số 1 ở rạch Tonlytru (Tây Ninh) trụ số 124 ở tại làng Hòa Thạnh (Châu Đốc), ngoài ra dựa theo kinh rạch và gò nổng thiên nhiên và từ kinh Vĩnh Tế thẳng ra Hà Tiên tới vịnh Xiêm La (Thái Lan) thì dọc theo đường đã có sẵn. Ngày 15 - 07 - 1873 là ngày ký kết quyết định phân ranh giới này, đã diễn ra giữa Dupré (thay mặt cho nhà nước Pháp) và vua Norodom Ang Vô Tây (14). Sự kiện này tỏ ra sự bất lực của chính quyền triều Nguyễn vì đến ngày 15 - 03 - 1874 toàn xứ Nam kỳ nới chính thức thuộc Pháp, còn ngày ký quyết định đã xảy ra trước đó một năm, cố nhiên lúc đó triều Nguyễn còn chủ quyền ở Nam bộ vậy mà không được mời. Nhưng cũng nhờ sự không có mặt này của phía Việt Nam, nên hôm nay cũng là việc tốt, vì cái ranh giới Miên Việt được sử dụng đến bây giờ do chính quyền Khmer ký kết với chính quyền Pháp, mà chánh quyền Khmer do vua Norodom đại diện ký văn bản. Phía Việt Nam không có mặt dĩ nhiên không thể tranh thủ một quyền lợi nào về phía mình. Như vậy sự nhìn nhận đường ranh giới giữa hai nước Việt Miên, cũng đồng nghĩa với sự nhìn nhận sự hợp pháp của địa phận Nam kỳ.

          Nói tóm lại, Nam bộ được hình thành trong một quá trình hợp lý và những điều kiện khách quan. Nhà Nguyễn không những không có ý đồ chiếm đất bằng binh lực mà trái lại còn tỏ ra có nhiều thiện chí đối với người Khmer - với vương quốc Chân Lạp; một số sụ kiện sau đây đã nói lên điều đó :

- Năm 1834, Chân Lạp được đổi làm Trấn Tây của Đại Việt (đời Minh Mệnh) nhưng đến năm 1847 vua Thiệu Trị tự ý trả lại chủ quyền cho người Khmer.

          - Tháng 02 năm Đinh Mùi (1847) vua Ang Đuông (1845 - 1859) dâng biểu tạ tội với triều Nguyễn về việc cầu viện quân Xiêm để tranh chấp ngôi vua với nử vương Ang Mây - vị vua được triều Nguyễn đỡ đầu. Vua Thiệu Trị đã bỏ lỗi cho Ang Đuông còn phong cho ông làm Cao Miên quốc vương, ngoài ra còn giao trả 5 phủ : Hương Úc, Cần Vọt, Sài Mạt, Chưng Rum và Linh Quỳnh.

Đó là những sự vụ điển hình đã chứng tỏ các nhà nước cũ của ta rất có thiện chí với Chân Lạp, luôn luôn xử sự rất công bằng trong phạm vi chính trị, rất xứng đáng với tư cách của một nước anh em.

X. KẾT QUẢ BỒI ĐẮP CỦA THIÊN NHIÊN.

          Khu vực địa lý Nam bộ gồm hai vùng thiên nhiên rất rõ rệt, miền Đông Nam bộ và miền Tây Nam bộ (thường gọi vùng châu thổ sông Cửu Long): Miền Đông Nam bộ ở phía đông bắc của Nam bộ có đồi cao từ vài chục đến 200 mét đối với mực nước biển), có diện tích 27.920 km2. Miền Tây Nam bộ ở phía tây nam của Nam bộ, phần lớn diện tích là đất thấp, các vùng ven biển có rừng ngập mặn.

          Trước thơi thuộc Pháp, vào năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) chính quyền triều  Nguyễn đã chia Nam bộ ra làm 6 tỉnh, nhưng lúc đó vấn đề ranh giới chưa được rỏ ràng lắm. Sang thời Pháp thuộc, ba tỉnh miền Đông gồm Biên Hòa, Gia Định, Định Tường đã bị mất năm 1862 và ba tỉnh miền Tây gồm  Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đã bị mất năm 1874. Đến năm 1875, mặc dù Nam bộ cũng còn nhiều đất hoang nhưng chính quyền Pháp đã phân chia đất đai Nam bộ ra làm 20 hạt (arrondissement ), trong đó bao gồm  cả diện tích của những vùng đất hoang chưa được khai thác. Các hạt sau nhiều lần giải tán và thành lập đến cuối năm 1899 được đổi thành tỉnh vẫn còn đủ số 20 là : Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ  Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Gía, Cần Thơ, Bạc Liêu (12) .

          Tỉnh là những khu vực hành chính được phân định về diện tích rất rỏ ràng, thế nhưng đối với những ngưòi làm công tác địa lý thì các tỉnh giáp biển  diện tích luôn được tăng trưởng. Đây là công bồi đắp của thủy triều, của phù sa từ các cửa sông : Đại, Tiểu, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bát Xát, Trạnh Đề  và các cửa Mỹ Thanh, Gành Hào, Bồ Đề…; với sự góp sức của những dòng hải lưu chung quanh mũi Cà Mau, Hòn Khoai và vịnh Thái Lan. Nói chung cái công tạo tác của thiên nhiên này đã cải tạo diện tích của các vùng ven biển mỗi ngày một lớn.

          Sự phát triển diện tích nhanh chậm như thế nào, phải đợi con số chính xác của các nhà chuyên môn. Riêng sự hiểu biết của chúng tôi về Giồng Nhãn Bạc Liêu (nay gọi là Vườn Nhãn) cách đây khỏang 50 năm về trước, Giồng Nhãn chính là bờ biển, nhưng hôm nay từ Giồng Nhãn ra đến bờ biển đã trên 5 cây số. Vậy thì mức phát triển về diện tích đất lấn ra biển hàng năm với con số không nhỏ.

          Mũi Cà Mau cũng thế, mỗi năm mỗi dài thêm ra; nhiều người ở vùng đất Mũi nói rằng một thời gian nào đó mũi Cà Mau sẽ tiếp giáp với Hòn Khoai. Các vùng chín cửa của sông Cửu Long với công năng tạo tác đắp bồi của đất phù sa, diện tích đát càng phát triển nhanh hơn nữa.

          Nói tóm lại, tuy chưa biết chính thức bằng con số về mức tăng trưởng diện tích của các tỉnh giáp biển, nhưng vấn đề này đang là vấn đề thực tế đang diễn ra ở Nam bộ. Nó cũng chính là một trong nhũng yếu tố hình thành Nam bộ và cũng là một trong các yếu tố hình thành vùng đất Bạc Liêu.

XI . QUÁ TRÌNH VIỆT HÓA.

          Các yếu tố trên đã hội tụ đầy đủ, nếu thiếu yếu tố này Nam bộ tuy vẫn được hình thành, nhưng chỉ là địa bàn cư trú của nhiều chủng tộc, nhiều giống dân chung sống với nhau và cũng chưa chắc chủ quyền của vùng đất này thuộc về Việt Nam. Nói cách khác yếu tố "Việt hóa" là yếu tố rất quan trọng đã hợp thức hóa Việt Nam là sở hữu chủ của vùng đất Nam bộ mới mẽ này.

          Nhà Nguyễn đã vô tình thực hiện một chính sách đồng hóa hết sức hợp lý đối các tộc người ở Nam bộ, mà có lẽ các vua chúa triều Nguyễn cũng không bao giờ ngờ đến kết qủa tốt đẹp của nó.

          Trong buổi đầu hình thành Nam bộ đã có mặt của nhiều tộc người, trừ người Việt ra không phải đông nhất là người Mimh Hương nhưng dân trí cao nhất lại là tộc người này; cho nên vấn đề Việt hóa diễn ra trong phạm vi người Minh Hương được xem là tiêu biểu.

          Nói là nhà Nguyễn đã áp dụng chính sách đồng hóa, nhung xét trên thục tế nhà Nguyễn chưa lần nào bắt buộc các dân tộc ở đây phải theo phong tục Việt Nam, bắt buộc phải nói tiếng Việt hay phải hủy bỏ hoàn toàn các hình thức văn hóa của các dân tộc, mà ngược lại luôn luôn tôn trọng thói quen tập quán trong đời sống của các dân tộc, cả đến vấn đề ngôn ngữ cũng thế, nhà nước triều Nguyễn không cấm đoán việc sử dụng ngôn ngữ riêng của từng tộc người.

          Nói cách khác "chánh sách đồng hóa"  của nhà Nguyễn không có gì  đồng hóa cả mà là một sự đối đãi quá ư dễ dãi của chính quyền triều Nguyễn đối với mọi người ở Nam bộ lúc bấy giờ, nhất là vấn đề cư trú, buôn bán và làm chủ ruộng đất. Chính sự quá dễ dãi hình như buông thả này đã làm mất thăng bằng tâm lý của những "thần dân thiên triều" đã có mang trong mình các loại văn hóa Hoa Hạ khắt khe khuôn khổ.

          Một dân tộc đã tồn tại mấy ngàn năm trong những tư tưởng bảo thủ với những loại hình văn hóa cũ kỹ, luôn luôn họ phải ép mình giữ ý bảo vệ cái nề nếp ngàn đời. Đối với vua với cha họ phải giữ đạo quân thần phụ tử, với vợ với chồng phải tròn nghiã phu thê còn phải đối xử với nhau như khách, tất cả hành động và ngôn ngữ của con người phải thực hiện trong khuôn khổ của chữ lễ - trong những hình thức khô khan bó buộc, giới phụ nữ lại càng bị gò bó trong các bức tường gia giáo. Họ phải khó khăn lắm mới tạo ra một nơi cư trú. Phương tiện đi lại càng không dễ dàng, di chuyển một chút hàng hóa hoặc mang thê tử đi một quảng đưòng cũng phải mướn bảo tiêu. Luật pháp của Trung Hoa nói chung của Minh triều mói riêng thường gây khó cho người dân trong mọi hoàn cảnh, các quan lại đa số đều là "cha mẹ của dân", trong chế độ phong kiến người dân luôn sống trong sợ hãi.

          Người Minh Hương đã sống trong những hoàn cảnh như thế với những thứ tâm lý như  thế, nay lại sống nhởn nhơ trong cái tự do của Nam bộ; họ tự do cư trú, tự do đi lại, tự do hát ca, tự do mua bán, tự do làm chủ đất đai ruộng vườn…; đàn bà con gái cũng trực tiếp tham gia vào sinh hoạt xã hội , đối với quan lại Nam triều họ không sợ hãi, vì họ là người tị nạn, các quan lại triều Nguyễn phải tạo mọi điều kiện dể giúp đỡ họ, an ủi họ, điều này đã gây cho những người Minh Hương cái ấn tượng tốt đẹp lúc ban đầu. Họ là những con chim được sổ lồng, những con cá được vào biển lớn, cho nên các  trạng thái tâm lý, các loại hình tư tuởng đều bị biến đổi, và sự biến đổi này được chuyển hóa theo quá trình chuyển hóa tự nhiên dĩ nhiên phải bị ảnh hưởng bởi sự tiếp cận của các môi trường chung quanh - môi trường thiên nhiên và xã hội.

          Lúc đầu văn hóa và tư tưởng của họ thay đổi chỉ do sự tác động của môi trường mới, nhưng dần dần họ chủ động, họ tự nguyện biến cải mọi loại hình văn hóa của họ cho thích hợp với cuộc sống mới trong cộng đồng người Việt.

          Về phía nguời Việt (ở Nam bộ) cũng sẵn sàng cho phép nhập tịch một số thói quen, tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng… của người Hoa vào kho tàng văn hóa của Nam bộ, và lâu dần người Việt đã hợp thức hóa các loại hình " chưa dược chuyển hóa" này. Thí dụ: Các từ  Bề, Úm, Chệch, Xím, Côn, Má, Hia, Chế, Tỷ… Là những từ ngữ chánh tông của người Triều Châu đã được người Việt ở Bạc Liêu và Cà Mau dùng để xưng hô rất phổ thông; hoặc các tục thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, Quan Thánh Đế Quân là nhũng vị thần chính thức của Trung Quốc nay đã lan tràn khắp Nam bộ…

          Nói tóm lại, sự biến đổi văn hóa đến nay vẫn còn đang tiếp diển, tuy chậm chạp nhưng trong suốt quá trình Việt hóa hơn 200 năm nay đã diễn ra trong bầu không khí êm thắm, hài hòa, trong đó có yếu tố tự nguyện. Và trong suốt thời gian đó cũng không có sự cưõng bức bắt buộc nào với mục đích đồng hóa của nhà Nguyễn.

          Trong lịch sử nước ta có rất nhiều lần bị các quan lại đô hô Trung Hoa tịch thu sách vỡ, văn kiện, giấy tờ; cấm lưu hành mọi loại hình văn hóa Việt Nam, bắt buộc phải học hỏi và thực hiện văn hóa Hoa Hạ, thậm chí bắt bớ giết chóc những sĩ phu yêu nước của ta. Thế nhưng dùng bạo lực bao giờ cũng được đáp ứng bằng bạo lực, các triều đại phong kiến Trung Hoa chẳng có lần nào thành công trong chính sách đồng hóa ở nước ta. Có lẽ đây là những bài học quý giá, cho nên triều Nguyễn đã không áp dụng một chính sách đồng hóa ép buộc nào ở Nam bộ, lại còn quá dễ dãi với sự tồn tại các loại hình văn hóa của các tộc người. Nhưng cũng nhờ "không đồng hóa" mới đồng hóa được văn hóa của các tộc ngưòi ở Nam bộ, điển hình như sự biến đổi văn hóa của người Minh Hương.

          Như vậy trong tiến trình hình thành Nam bộ người Việt chưa từng dùng binh lực để giành dân lấn đất, cũng chưa từng xử sự vô  lý với lân bang, mà chỉ sử dụng những biện pháp ôn hòa khéo léo giải quyết tình hình trong từng giai đoạn. Nói thế không phải có đưọc Nam bộ như hiện nay là do may mắn, mà đó là điều tất yếu; vì trên thực tế các yếu tố hình thành Nam bộ đã nói lên điều đó, nhất là yếu tố ngưòi Việt và các dân tộc anh em cùng sống chung trên địa bàn Nam bộ đã đổ ra rất nhiều công lao khó nhọc và chịu đựng lắm nỗi cục khổ gian nan từ đời này sang đời khác trên mảnh đất "đĩa lội như bánh canh" - "muỗi kêu như sáo thổi" này , mới có thể biến cái xứ "Đồng Nai đi dễ khó về" của ba trăm năm trước trở thành một Nam bộ phì  nhiêu trù phú của chúng ta ngày nay, mà trong số đó Bạc Liêu có thể nói là một địa phương có nhiều đặc điểm trong lịch sử hình thành vùng đất.

 

Chú thích :

(1) Lương Ninh, Lịch sử Trung đại thế giới, quyển 2 - 1985, trang 74.

(2) Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký  (bản dịch của Lê hương) - 1973, trang 22 -23

(3) Lê Qúy Đôn, Phủ biên tạp lục ( bản dịch của Lê Xuân Giáo ) - 1973, trang 439 - 440 .

(4) Huỳng Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ - 1987, trang 39.

(5) Huỳnh Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ - 1987 trang 41.

(6) Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa TP.HCM, Q.1 - 1987, trang 141.

(7) Trần Văn Giàu, Địa chí  văn hóa TP.HCM, Q.1 - 1987 trang 118 - 119.

(8) Đại Nam nhất thống chí - Tập truyện Gia Định, trang 58.

(9) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập hạ, trang 73 - 74.

(10) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập trung, trang 12

(11) Trong Phương Đình địa dư chí của Nguyễn Văn Siêu ghi năm 1914.

(12) Dương Kinh Quốc, Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng 8/1945, Nxb.KHXH. HN - 1988, trang 77.  

 

 

KẾT LUẬN

Bạc Liêu vốn là một phần của Nam bộ, vì vậy lịch sử hình thành vùng đất Bạc Liêu không thể tách rời khỏi lịch sử hình thành vùng đất Nam bộ, tuy nhiên trong cái chung cũng có những cái riêng, đó là những điểm đặc thù của mỗi địa phương. Bạc Liêu là một vùng đất có nhiều dấu ấn lịch sử, nơi nay còn có cả những chứng tích văn minh của người Phù Nam mà tháp Vĩnh Hưng chính là một điển hình. Ngoài sự hiện diện của người Việt và người Khmer, còn có mặt của người Triều Châu với công khai phá đất trong những ngày đầu của họ còn rất rõ nét trên Giồng Nhãn và nhiều nơi khác trong địa bàn tỉnh Bạc Liêu.

Các sinh hoạt về văn hóa của họ cho mãi tới hôm nay cũng còn tồn tại trong các lễ hội dân gian, các đình miếu cổ của người Hoa hiện nay còn rất nhiều di tích. Đề tài đã chứng minh sự có mặt của Viet ở Nam bộ nói chung và ở vùng đất trẻ Bạc Liêu nói riêng là là hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, trong đó không có một sự gò ép hay xâm chiếm nào cả. Một chi tiết rất quan trọng đó là chính sách đúng đắn của triều Nguyễn đối với lưu dân trong buổi đầu khai phá đất và sự đoàn kế gắn bó của ba tộc người Việt Hoa Khmer đã từng kề vai sát cánh cùng nhau xây dựng vùng đất Bạc Liêu, một vùng đất có nhiều điều kiện và nhiều hứa hẹn để hướng tới tương lai.

 

          Trong quá trình khai khẩn đất hoang, người dân Bạc Liêu đã tiến hành khai khẩn bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện trong những môi trường khác nhau, vì vậy nẩy sinh nhiều nghề khác nhau trên địa bàn tỉnh; thí dụ: Nghề làm muối đã một thời nổi danh là muôi Bạc Liêu, một sản phảm có nhiều uy tín ở Đông Dương; nghề trồng nhãn trên đất giồng cát, sau nhiều năm đã trỡ thành một địa danh quen thuộc đó là Giồng Nhãn Bạc Liêu; nghề đóng đáy, đặt nò, đặt vó; nghề làm rẫy, nghề làm ruộng đã khai khẩn đất hoang thành những cánh đồng màu mỡ có bay thẳng cánh… Mỗi loại nghề nghiệp này đều góp phần tích cực trong việc khẩn hoang vùng đất Bạc Liêu. Vì vậy chúng ta nên có các đề tài nghiên cứu có liên quan đến các nghề nghiệp vừa kể trên để góp phần phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày càng tốt đẹp hơn.

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Bảo Tàng Bạc Liêu, Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Đình Tân Hưng Bạc Liêu.

2. Bảo Tàng Bạc Liêu, Hồ sơ di tích lịch sử văn hóa Tiên Sư Cổ Miếu Bạc Liêu.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bến Tre, Quê hương Bến Tre đối với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, Báo cáo khoa học tại Hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994.

4. Cao Xuân Dục, Quốc triều Hương khoa lục, TP.HCM – 1993.

5. Cao Xuân Dục, Quốc triều Đăng khoa lục, TT Học Liệu –1962.

6. Dương Tử  Giang, Một thế kỷ mấy vần thơ – 1955.

7. Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), NXB Giáo Dục 1999.

8. Tỉnh Bạc Liêu, Địa chí tỉnh Bạc Liêu – 1974.

9. Huỳnh Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, NXB TP.HCM – 1987.

10. Huỳnh Minh, Bạc Liêu xưa và nay – 1966.

11. Lê Hương (dịch), Chân Lạp phong thổ ký, Sài gòn – 1973.

12. Lê Thị Hòa, Việc đào tạo và sử dụng quan lại Triều Nguyễn (1802 – 1884), NXB KHXH.HN – 1998.

13. Li Tana, Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII, NXB trẻ – 1999.

14. Mạc Đường, Làng xã ở Châu Á và ở Việt Nam, NXB TP.HCM – 1995.

15. Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, NXB trẻ – 1999.

16. Nguyễn Duy Oanh, Phan Thanh Giản cuộc đời và tác phẩm, Hội KHLS.VN – 2003.

17. Nguyễn Phúc Nghiệp, Kinh tế nông nghiệp Tiền Giang thế kỷ XIX, NXB Trẻ – 2003

18. Phan Xuân Thọ, Phan Thanh Giản. Tủ sách Tân Việt – 1957.

19. Phan Hùng – Trần Phước Thuận – Lâm Thành Đắc, Điều tra đánh giá và giải pháp khôi phục bảo tồn các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ở Bạc Liêu. Đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Bạc Liêu – 2001.

20. Phan Huy Lê, Phan Thanh Giản con người, sự nghiệp và bi kịch lịch sử . Bài tổng kết Hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994.

21. Phan Trần Chúc, Nguyễn Tri Phương, NXB Văn Hóa Thông Tin – 2001.

22. Sơn Nam, Cá tính Miền Nam, NXB Trẻ – 1997.

23. Sơn Nam, Bến Nghé xưa, NXB Trẻ – 1997.

24. Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau, NXB Trẻ – 1997.

25. Sơn Nam, Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long, NXB trẻ – 2000.

26. Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa, NXB TP.HCM – 1985.

27. Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang Miền Nam, NXB trẻ – 1997.

28. Tc Xưa và Nay, Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam bộ, NXB Trẻ – 2002.

29. Thanh Phương – Đoàn Tư, Địa chí Bến Tre. Trang 616 – 618.

30. Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. NXB Giáo Dục Giải Phóng – 1973.

31. Thuần Phong, Phan Văn Trị, NXB Đoàn Văn – 1959.

32. Trần Bạch Đằng, Đồng bằng sông Cửu Long – 40 năm, NXB TP.HCM – 1986.

33. Trần Khánh, Vai trò người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á. Viện Đông Nam Á . HN – 1992.

34- Trần Phước Thuận, Bàn về bản dịch sắc thần đình Tân Hưng trong sách Bạc Liêu xưa và nay. Tạp chí Hán Nôm số 51 - 2002.

35. Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa TP. Hồ Chí Minh. NXB TP.HCM – 1987.

36. Trần Văn Bính, Văn hóa Tây Nam Bộ, NXB Chính trị Quốc gia – 2004.

37. Trương Vĩnh Ký (bản dịch Nguyễn Đình Đầu), Tiểu giáo trình Địa lý Nam kỳ, NXB Trẻ – 1997.   

38.  Trương Vĩnh Ký (bản dịch Nguyễn Đình Đầu), Sài Gòn và các vùng phụ cận, NXB Trẻ – 1997.

39. Viện KHXH tại TP.HCM, Một số vấn đề KHXH về Đồng bằng sông Cửu Long, NXB KHXH.HN – 1982.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !