Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Bùi Giáng (Vương Trùng Dương)
Bùi Giáng (Vương Trùng Dương) PDF In E-mail
Người viết: Vương Trùng Dương   
19/07/2012

nullBÙI GIÁNG - Ðại Lão Cái Bang

* Vương Trùng Dương

Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Bên đời đi còn giữ mãi hay không

Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng

                       Bùi Giáng

Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng.

Trong sinh hoạt Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Hiện tượng Bùi Giáng.

Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.

 

Ngược Dòng Thời Gian

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” thì làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui.

Lúc nhỏ theo học Trung, Tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó tiếp tục học Trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành chung (Trung học), ông ở trong vùng kháng chiến thuộc Liên Khu V (Nam Ngãi bình Phú), năm 1950 ông đỗ Tú Tài II Văn chương. Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học Ðại học nhưng khi nghe Viện trưởng Ðại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương.

Theo lời người bào đệ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh”. Ông chung tình chung nghĩa với “mộng ban đầu”, suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.

Theo lời người em là Bùi Vịnh: “Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn, ghi danh vào Ðại học Văn Khoa. Cả lần nầy nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây . Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường Trung học tư thục ...” .

Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.

Theo nhà thơ Tường Linh, học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông cực kỳ yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.

Ông tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.

GS Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong Giai phẩm Quảng Ðà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.

“Với Tất Cả Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng <I>“Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”.

Ðó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác dấu ấn quan trọng trong giai đoạn 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn...

Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.

Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn”. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu Văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt. Hy vọng, một ngày nào đó, có được “tiểu sử” của ông từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi lập”.

Trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông. Tháng 5.1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lại và cả hai cùng hỏi và nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ.

Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung: Văn Học Hiện Ðại, Thi Ca & Thi Nhân, Du Tử Lê: Năm sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh, Tạ Tỵ: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Trần Tuấn Kiệt: Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại...

Sau tháng Thư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên cái điên, cái tĩnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám... và một Bùi Giáng bất khuất.

Gần hai thập niên, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:

Sách Giáo khoa, Luận đề: - Bà Huyện Thanh Quan, 1956 - Lục Vân Tiên, 1956 - Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956 - Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, 1957 - Cung Oán Ngâm khúc, 1957 - Nguyễn Công Trứ, 1957 - Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958 - Phan Bội Châu, 1958 - Chu Mạnh Trinh, 1958 - Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958...

Sách dịch: - Cõi Người Ta của Saint-Exxupéry, 1966 - Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966 - Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966 - Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966 - Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 - 1974 - Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967 - Ngộ Nhận của A. Camus,1967 - Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968 - Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968 - Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968 - Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969 - Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969 - Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969 - Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973 - Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974...

Sáng tác:

- Thơ: Mưa Nguồn, 1962 ố Ngàn Thu Rớt Hột, 1962 ố Bài Ca Quần Ðảo, 1962 - Lá Hoa Cồn, 1963 - Màu Hoa Trên Ngàn, 1963 - Sa Mạc Trường Ca, 1969 ố Rong Rêu, 1970 (in lại năm 1996 tại Ðà Nẵng) ố Ðêm Ngóng Trăng, 1972...

- Biên khảo, Tạp văn, Tùy bút: - Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962 - Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963 - Sao Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969 - Ði Vào Cõi Thơ, 1969 - Thi Ca Tư Tưởng, 1969 - Sa Mạc Phát Tiết, 1969 - Sương Bình Nguyên, 1969 - Trăng Châu Thổ, 1969 - Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969 - Thúy Vân, Tam Hợp Ðạo Cô, 1969 - Mùa Thu trong Thi Ca, 1970 - Biển Ðông Xe Cát, 1970 - Ngày Tháng Ngao Du, 1971 - Ðường Ði Trong Rừng, 1972 - Lời Cố Quận, 1972 - Lễ Hội Tháng Ba, 1972 - Con Ðường Ngã Ba, 1973 ...

Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:

- Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.

- Thơ Bùi Giáng, Thế kỷ 1994, Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.

- Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh bìa “Thiếu nữ” do Bùi Giáng vẽ.

- Chớp Biển, Anaheim, 1996

Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền Văn học Nghệ thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng “kho tàng quý báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.

 

Ngôn Ngữ & Cuộc Sống

 

Gần gủi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.

Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “ Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương... Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn nụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó... Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”. Thế mà, chân dung & đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đỗi màu. Mấy chiếc răng của bị gẫy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế... Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy... Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuổi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. “Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang...

“Trần gian lắm kẻ không cơm áo

Mà con thờ thẩn cứ nhìn trăng.”

Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (Uyên Thao - Thơ Việt Hiện Ðại).

Sau năm 1975, thảm họa chung của đất nước, Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mầy tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài “Cuộc sống của anh tại Sài gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên... Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca - của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ”.

Vũ Ký viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt... một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là Ð.N.L.H (giáo viên cấp ba, người Huế) và một cô là H.H.T.V, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. Thế rồi cô L.H “lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Ðó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng hình ảnh Ðại lão Cái bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi mươi, tâm tình với nhau.

Ngày nay, ở trong nước đã có vài bài viết về ông với hình ảnh con người điên loạn sống bên lề cuộc đời nhưng thi văn của ông vẫn giữ thế đứng trong nền văn học. Văn chương, Nghệ thuật của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xã hội”!

Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông nửa tỉnh nửa động, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.

Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở Ðại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngũ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau nầy, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài gòn, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vĩa hè.

Với ông, tư tưởng triết học Ðức của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Witman, Emily Dickinson... Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeara. Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du.

Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.

Ông có năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh để học thêm chữ Hán. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm “chuyển ngữ” thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn Ngàn Thu Rớt Hột nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt” dê bao năm ông gần gủi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng bẩy đó được.

Có lần Huy Tưởng gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “rớt hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? - đúng! đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.

Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim... thấp thoáng:

“Ôi phương cảo Ôi Kim Liên

Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!

Ôi Kim Ngọc Ôi Kim Nga

Chắc gì mai hậu mà ra phụ lòng”.

(Ra Hoa)

“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa

Ðầu tiên Kim Thúy Kim Hoa thập thành

Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh

Ði về vô tận tập thành Kim Liên

Kim Nga Kim Ngọc diện tiền

Ðầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.

(Cuối Ngày Em Ði)

Ông lang thang suốt 4 thập niên, thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:

“Chắp tay tôi lạy ông trời

Tìm người yêu giúp giùm tôi một lần”

(Tìm Em)

Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:

“Ðồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.

San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.

Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.

Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Vang vang lên đồi núi giọng be be”.

(Nỗi lòng Tô Vũ)

Và, trong khung cảnh đó, ông bày tỏ nĩ niềm cùng hình ảnh người yêu:

“Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏ

Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ

Gió cây rung trút lá mộng tan lìa”

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.

Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông “điên” với tình, với thủy chung hình bóng cũ:

“Em chết bên bờ lúa

Ðể lại trên đường mòn...

... Ðêm cuồng mưa khóc điên

Trăng cuồng khuya trốn gió...

... Anh đi về đô hội

Ngó phố thị mơ màng

Anh vùi thân trong tội lỗi

Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang”

Bất hạnh trong tình trường, ông rong ruỗi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng rái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.

“Văn Thơ cùng Tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai đoạn của văn chương Việt Nam”, phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tĩnh, ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tĩnh, khi điên... nhưng mọi người vẫn quý mến.

Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nỗi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát.

Cập nhật ( 19/07/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online