Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Biển Sóc Trăng với văn hóa du lịch (Võ Thanh Hùng)
Biển Sóc Trăng với văn hóa du lịch (Võ Thanh Hùng) PDF In E-mail
Người viết: Võ Thanh Hùng   
02/08/2012

BIỂN SÓC TRĂNG VỚI VĂN HÓA DU LỊCH

* Võ Thành Hùng

Hiện nay du lịch biển – du lịch sinh thái, bên cạnh cùng du lịch văn hóa cũng được du khách biết nhiều với những lễ hội và làng nghề truyền thống… Trong đó biển Sóc Trăng với văn hóa và du lịch giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Sóc Trăng. Tuy nhiên Sóc Trăng ngoài du lịch – di tích văn hóa lịch sử về chùa: chùa người Khmer, người Việt, người Hoa… Thì du lịch văn hóa biển vẫn chưa là những điểm mạnh để thu hút du khách, việc thiết lập các tour , các chương trình tuyến, điểm du lịch biển còn hạn chế. Tại sao văn hóa và du lịch biển Sóc Trăng chưa được quan tâm và làm thế nào để văn hóa và du lịch biển Sóc Trăng phát triển thu hút du khách tham quan? Đây chính là những điều chúng tôi muốn lý giải và đề cập đến trong tham luận này.

 

1. Tổng quan về biển Sóc Trăng.

Sóc Trăng  có vị trí ở về phía Tây Nam hạ lưu sông Hậu, tiếp giáp biển Đông với bờ biển dài 72km. Sóc Trăng  không chỉ là vùng trọng điểm của nông nghiệp mà còn là vùng trọng điểm về nghề biển cho nên có vị trí quan trọng không nhỏ về nghề biển trong nền kinh tế và văn hóa của Nam Bộ nói riêng và đất nước nói chung. Sóc Trăng có hệ thống sông hậu, sông Mỹ Thanh với các cửa sông Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh, và biển Đông, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiến tạo vùng đất này thành vùng đồng bằng trũng thấp ven sông rạch, đất giồng (còn gọi là cồn cát), bãi bồi (còn gọi là bãi lầy) ven biển. Đất đai nơi đây được bồi tụ nước mặn, thường bị ngập bởi thủy triều và được che phủ bởi rừng sác, các cù lao, cồn bãi trong sông rạch và ven bờ biển Đông.

Thổ nhưỡng ở Sóc Trăng  chúng ta thấy: đất mặn chiếm 43,87% diện tích tự nhiên, được phân bố hầu như khắp các huyện, thành trong tỉnh, đất bị nhiễm mặn thường xuyên. Ở vùng ven biển và ven cửa sông Mỹ Thanh tại các huyện vĩnh Châu, long Phú và Cù Lao Dung thường chỉ thích hợp các loại cây chịu mặn như cây mắm, bần, đước, châm bầu…là những loại cây chắn sóng và lấn biển tốt, tạo thành hệ thống sinh thái rừng ngập mặn mang tính đặc thù của tỉnh Sóc Trăng nói riêng và vùng ven biển Đông của Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung.

Tác động thủy triều của biển Đông theo chế độ bán nhật triều, ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông bằng đường thủy trên mạng lưới sông rạch chằng chịt của tỉnh Sóc Trăng  cũng như trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày của các cộng đồng cư dân tại địa phương. Bão nhìn chung ít duy chuyển vào địa phận Sóc Trăng, nhưng khi bão tràn vào vùng này dễ làm nước biển bị dồn ép lại nổi lên thành những bức tường thành cao mà dân gian thường gọi là triều cường, là sóng thần…đổ ập vào bờ, gây nhiều thiệt hại không thể lường trước được.

Tại Sóc Trăng, một bộ phận cư dân sinh sống trên vùng đất ao, đất giồng các ven biển thuộc các huyện Vĩnh Châu, Long Phú và Cù Lao Dung sớm gắn bó với biển và tiến hành các phương thức đánh bắt cá, tôm ở cửa sông, ven bờ và ngoài khơi của biển Đông từ lâu đời, Xóm Đáy, Xóm Chài, Xóm Lưới… mọc lên tại vùng cửa sông Mỹ Thanh, Trần Đề, Định An và ven bờ biển Đông đã minh chứng cho điều đó. Cộng cư người ở xã Vĩnh Hải (huyện Vĩnh Châu, xã Trung Bình (huyện Long Phú)… có truyền thống làm nghề biển, đóng đáy (trước đây), đánh lưới, đẩy te, kéo cào (gần đây và hiện nay)… ở ven bờ và ngoài khơi xa.

Những điều không thuận lợi do sự tương tác giữa con người và vùng biển Sóc Trăng. Biển dưới nhiều góc độ phát huy được ý nghĩa tích cực nhưng không phát huy được ý nghĩa tích cực nhưng không phải biển không có những tác động bất lợi cho cư dân Sóc Trăng, đặc biệt về khía cạnh kinh tế và sinh thái. Nhận thức và phân tích được những điều này để có phương cách xử lý bằng những phương pháp thích hợp nhằm ứng xử với biển, giúp ích cho nông nghiệp Sóc Trăng phát triển, đặc biệt là chất nước sử dụng cho cây trồng vật nuôi với thời vụ thích hợp, bố trí cơ cấu mang ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Sóc Trăng với địa hình chủ yếu nằm dưới mức trung bình của nước biển; các con sông thì phần lớn chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông cho nên sông rạch bị nhiễm mặn nghiêm trọng. Trong mùa khô nước mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt. Nhưng về mùa mưa lượng nước ngọt lớn, thậm chí là có lũ, nước mặn bị đẩy ra xa và lập ra chu kỳ cứ lặp đi lặp lại. Quá trình tác động của con người vào môi trường tự nhiên đã dẫn đến những hậu quả:

* Nhờ khai thác kinh nghệm lâu đời, cư dân Sóc Trăng đã biết cải tạo thiên nhiên, biến hệ sinh thái tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp với năng suất cao. Việc khai hoang, đắp đê ngăn mặn, triều cường đã biến một diện tích rộng lớn đất rừng thành những cánh đồng lúa, hoa màu, vườn cây trái và ao nuôi tôm, cá…

* Mặt khác, những hoạt động của con người đã hủy diệt thảm thực vật theo hướng bất lợi khiến tài nguyên cạn kiệt nhanh chóng, diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp dần, các nguồn “gien” thực vật và động vật hoang dã bị giảm sút, có loài bị tiệt chủng ảnh hưởng đến việc phát triển lâu dài của tỉnh. Diện tích đất thấp so với dân lại sử dụng không hợp lý, bỏ hoang, hoặc lên liếp trồng cây thiếu cơ sở khoa học đã biến thành đất phèn, làm cho hoạt động đất bị thoái hóa nặng. Việc hủy diệt rừng ngập mặn ven biển cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi cá, tôm có thể khai thác trong phạm vi rừng và ngoài khơi, ảnh hưởng duy chuyển đến hệ sinh thái rừng ngập mặn. Việc phá rừng làm vuông tôm chạy theo cái lợi trước mắt đã làm mất cân bằng trong hệ sinh thái gây ảnh hưởng lâu dài nghiêm trọng đến tài nguyên sinh vật… Cụ thể vùng ven biển Vĩnh Châu do các nông trường nuôi tôm không nghiên cứu thổ nhưỡng và hệ sinh thái đã làm sai quy luật tự nhiên nên hậu quả là nước biển xâm nhập khá sâu vào đất liền, hủy hoại diện tích trồng lúa và làm mặn hóa nguồn nước ngọt. Cư dân ven biển do ngèo khổ đã khai thác cạn kiệt nguồn rừng đước phòng hộ ven biển, gây nên tình trạng không còn cây trồng, mất nguồn cây trú của tôm, cá và cạn kiệt nguồn tài nguyên biển, người dân càng nghèo thêm do kiểu “ăn xổi ở thì”.

Hiện nay, nạn ghe cào với các loại khai thác cá mới là cào điện, cào bay cùng với việc dùng lưới mắt nhỏ đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cá trên vùng biển. Các loại khai thác tàn phá môi trường sinh thái trầm trọng này vẫn chưa được xử lí kiên quyết.

Điểm qua biển với môi trường sinh thái và ảnh hưởng của nó tác động vào biển Sóc Trăng  để có cái nhìn chung về diện mạo biển ở vùng đất được mệnh danh là vựa lúa của cả nước, để thấy được tiềm năng kinh tế của biển, những mặt thuận lợi và khó khăn của biển Sóc Trăng. Sự hiểu biết này sẽ giúp cho việc áp dụng chính sách về vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường sinh thái nơi đây.

 

2. Văn hóa biển Sóc Trăng.

 

2.1 Tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội.

Trong bước đường khẩn hoang, di dân, ông cha ta đã dừng chân ven biển Nam Bộ trong đó có Sóc Trăng  và lâu dần hình thành những làng chài. Trong môi trường hoạt động ở biển khơi, ngư dân phải đương đầu với những nguy hiểm thách thức, với thiên nhiên, những điều bất trắc ở biển, do đó họ có những hình thức cúng kiếng, bùa chú để trấn an với niềm tin là được thần thánh bảo vệ cho họ và phù hộ được mùa cá bội thu, bình an… Trường phái chức năng của Malinowski đã cho thấy ở đâu có bất trắc, nguy hiểm, ở đó con người càng thể hiện niềm tin vào tôn giáo tín ngưỡng, bùa chú. Một số hình thức tôn giáo  tín ngưỡng đã và đang tồn tại trong cộng đồng ngư dân ở Sóc Trăng  như sau:

 

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng cá Ông (cá voi).

Ven biển Sóc Trăng  đều có tín ngưỡng thờ cá Ông, tức là cá voi hay “Nam Hải đại tướng quân” được thể hiện dưới dạng lễ “Nghinh Ông” được tổ chức vào ngày 23 và 24 tháng 03 âm lịch hàng năm tại xã Trung Bình, huyện Long Phú và xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu. Lễ hội này thường gắn với lễ hội cầu ngư, mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp, phổ biến ở những làng nghề đánh bắt hải sản. Vào lễ hội “Nghinh Ông” ở Sóc Trăng  nói riêng và Nam Bộ nói chung tổ chức lễ hội này rất long trọng mọi người dân đều tham gia. Tương truyền cá Ông thường cứu người bị nạn khi bị gió bão, khi ghe thuyền gặp nạn, có Ông nâng đỡ đưa người và ghe thuyền vào bờ. Ngư dân các vùng này tổ chức lễ hội này gọi là Nghinh Ông thượng tướng, ngư dân còn phân biệt tín ngưỡng thờ cá Ông và tín ngưỡng thờ Cậu. Ông là cá voi lớn ở ngoài khơi nên gọi là “Ông khơi”, cậu là nói cá voi nhỏ ở gần bờ nên gọi là “Ông Lộng”. Nghi thức “Nghinh Ông” rất long trọng có rước linh vị, sắc thần.

Nghi thức Nghinh Ông cũng như nghi thần vào dịp cúng thần, có khác là lễ hội Nghinh Ông thì diễn ra ở tàu, ghe trên biển. Theo nhiều tư liệu nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng thờ cá Ông (cá voi) ở Nam Bộ nói chung và Sóc Trăng  nói riêng ảnh hưởng văn hóa Chăm ở Trung Bộ và của các ngư dân ven biển Trung Bộ, nhưng đáng chú ý ở đây là sự thay đổi cái nhìn về biển cả trong tâm thức ngư dân Việt, trong hành trình xuôi ngược về Nam Bộ - tâm thức tín ngưỡng cá Ông (cá voi) của cư dân Nam Bộ và Sóc Trăng  hình thành một chuỗi: nghi lễ mai táng khi cá Ông “lụy” rạt vào bờ, ai thấy trước là gặp phước thì phải làm đám tang lớn như là con làm cho cha, mẹ…Nghi lễ Nghinh Ông trên đoàn tàu ra biển khơi khi gặp Ông (trước đây) và xin keo (hiện nay) cùng với những trò chơi dân gian, hát xướng mang tính hòa nhập cả cộng đồng làng cá.

 

2.1.2 Hội thờ Mẫu và Nữ Thần (Cửu Thiên Huyền Nữ, Thủy Long Thánh  Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu).

Đây là các vị thần nữ mang hình ảnh hội tụ kết tinh những phẩm chất tốt đẹp của những người tiên phong khai hoang mở làng, mở nước có công chống thiên tai, ngoại xâm… Giá trị văn hóa ở đây là ý thức tri ân, uống nước nhớ nguồn và niềm tin cầu an gắn với nghề nghiệp và địa bàn sinh sống của cư dân làm nghề biển.

 

2.1.3 Tín ngưỡng thờ Bà – thờ Cậu.

Dạng tín ngưỡng này phổ biến hầu hết ở các làng chài Sóc Trăng, ghe, tàu nào cũng có bàn thờ Bà – Cậu với những điều kiêng kỵ, cúng kiếng long trọng. Đây là tín ngưỡng thờ thủy thần của cư dân miền Trung và Nam Bộ khoảng cuối thế kỷ XVII, ảnh hưởng văn hóa chăm nên đồng hóa Thủy Long và Y Ana (người Chăm xem Bà là nữ thần sóng gió) hòa chung vào hình ảnh thờ Bà. Còn tín ngưỡng thờ Cậu tương truyền đó là Cậu Trài và Cậu Quí (Nhị vị công tử) là con trai của Thiên Y Ana.

 

2.1.4 Lễ hội cúng biển.

Đây là lễ hội chủ yếu của cư dân Khmer ở Nam Bộ, cụ thể Sóc Trăng. Lễ hội phước biển (Chrôirum chek) thể hiện sự giao lưu văn hóa giữa ngư đân Việt Nam và Khmer (người Khmer thực chất là cư dân ở xứ có rừng, đi biển không phải là nghề nghiệp truyền thống của họ). Lễ hội cúng biển có từ lâu tại Vĩnh Châu. Lễ hội này nhằm tạ ơn biển cả đã trao cho con người nguồn tài sản quí giá và cầu nguyện cho người đi biển được bình yên, đánh bắt được nhiều tôm cá. Lễ hội này thường tổ chức tại chùa Srei Krosang ở làng biển xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu.

Ngoài các lễ hội trên, ngư dân Sóc Trăng còn khá nhiều tín ngưỡng, kiêng kỵ khác nhau liên quan đến ghe, tàu, sông nước như tục vẽ mắt ghe, tục cúng cô hồn trên biển và các nghi thức cúng giỗ người tử nạn trên biển… Nghiên cứu các sắc thái văn hóa này sẽ giúp cho việc hiểu biết về nguồn gốc hoạt động nghề nghiệp và sinh hoạt trong đời sống tinh thần ngư dân Sóc Trăng nhằm đề ra những chính sách văn hóa xã hội phù hợp.

 

2.2. Văn học dân gian ven biển Sóc Trăng.

Văn học dân gian là một trong những yếu tố góp phần nghiên cứu văn học dân gian của ngư dân Sóc Trăng vô cùng dồi dào, đặc sắc, độc đáo nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều.

Những bài vè về “hải hành” của ngư dân là vốn tri thức dân gian có giá trị, trong đó ngư dân mô tả các đặc điểm trên biển, những chướng ngại vật, những điều cảnh báo… vô cùng lý thú. Chúng tôi sưu tầm được những bài vè “Hải hành” của ngư dân đi vòng quanh ven biển Sóc Trăng  và trên biển Đông…

Truyền thuyết về cá Ông (cá Voi) rất nhiều, đặc biệt văn học dân gian ở Sóc Trăng  sưu tầm các truyền thuyết đều đề cập đến chi tiết cá Ông mang giới tính nữ, cá Ông phải “lụy” do mãi mê cứu người bị nạn trên biển đến kiệt sức nên bị sảy thai. Có truyện còn kể về cá Ông còn bị lụy do cá mẹ xảy thai cũng được dân lập miếu thờ ở ven biển Vĩnh Châu, Trung Bình; có truyện cổ tích cá Ông nhuốm mầu sắc Phật giáo….Nhều bài ca dao ở vùng biển Sóc Trăng như:

­- Sóc Trăng biển rộng sông dài

Ao trong nuôi cá, bãi ngoài thả nghêu

Tôm càng  xanh nước quơ râu

Rừng vàng biển bạc còn đâu phải tìm.

- Trung Bình biển cá tôm sông

Vĩnh Châu ruộng muối, có dâu có tằm

- Biển Đông sóng gợn tứ mùa

Ai cho bậu uống thuốc bùa bậu mê

Chừng nào cho vạt xa cồn

Cù lao xa biển anh mới đành cho em.

Tại Sóc Trăng nhiều bài thơ chèo ghe (trước đây vừa chèo ghe vừa hò), thể hiện văn hóa biển, văn hóa sông nước:

- Nước kinh mặn bởi vì có nước biển

Tình anh bền bởi tại duyên em

Bao giờ nước biển ngừng lên

Thì tình em mới hết thương em tháng ngày.

Trong hò chèo ghe có thể hò đối đáp, ví dụ:

Nam: - Lưới thưa bủa lấy cá duồn

Buông lời hỏi bạn bơi xuồng đi đâu?

Nữ: - Lưới thưa bủa lấy cá duồn

Phụ mẫu ở nhà già yếu em bơi xuồng đi kiếm anh.

Tóm lại, rất nhiều truyện cổ tích, truyền thuyết, ca dao, dân ca, hò, vè, đối đáp… liên quan đến sự kiện, nghiên cứu góp phần thể hiện diện mạo của văn hóa biển ở Nam Bộ nói chung và Sóc Trăng  nói riêng.

 

2.3 Nghề thủ công truyền thống.

Ngư dân ven biển tại Sóc Trăng có rất nhiều nghề thủ công truyền thống liên quan đến biển, nghiên cứu loại hình này sẽ góp phần tìm hiểu văn hóa biển dưới góc độ nhân học.

- Nghề làm muối: Ở Long Phú và Vĩnh Châu các làng chài có nghề làm muối, nghề này hình thành từ lâu và được truyền qua nhiều thế hệ, tương truyền là nghề do ngư dân miền Bắc, miền Trung đưa vào. Muối ở Sóc Trăng  có vị mặn đậm đà, màu trắng đục, có chất lượng và năng suất cao đạt 60 – 70 tấn/ha. Hàng năm đến mùa nước nổi những đoàn ghe trọng tải hàng chục tấn từ các miệt Long Xuyên, Châu Đốc, Kiên Giang, Hồng Ngự… và cả Biển Hồ (Campuchia) nườm nượp đổ về lấy hàng.

- Nghề đan lưới: Tùy theo mỗi loại tôm, cá mà người ta đang những loại lưới khác nhau. Nghề đan lưới khá phát triển vì thị trường ngư nghiệp có nhu cầu về lưới rất cao, mặt khác ngư dân cũng tự trang bị cho mình và gái, trai, già, trẻ đều biết đan lưới khi rảnh rỗi hoặc trong mùa biển động.

- Nghề làm khô và mắm các loại: Nghề này phát triển khá ổn định và càng ngày càng phát triển, có nhiều cơ sở chuyên làm khô và mắm các loại với sản lượng khá cao như: khô khoai, khô mực, tôm khô… mắm cá biển, ba khía…

- Nghề đóng ghe, tàu: Sóc Trăng là tỉnh không có rừng gỗ tốt, phải mua gỗ từ các nơi khác đem về, tuy nghề đóng ghe tàu ở Sóc Trăng không được nổi tiếng như các tỉnh Bến Tre, Kiên Giang nhưng có thể sửa chữa nhanh và tạo ra những sản phẩm mang tính độc đáo khác như việc đóng ghe Ngo của các chùa khmer ở Vĩnh Châu và Long Phú nổi tiếng khắp vùng.

 

3. Văn hóa ẩm thực vùng biển Sóc Trăng.

Cư dân vùng biển nơi đây đã hình thành hệ thống ẩm thực đặc trưng bằng nguồn thủy, hải sản thu hoạch tại chỗ. Phong cách ẩm thực vùng biển cung ứng cho ngành du lịch một sắc thái văn hóa biển độc đáo, đậm tính chất địa phương ví dụ: Bún nước lèo Sóc Trăng (đặc thù của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer), canh chua bông bần (Long Phú), rượu nhãn (Vĩnh Châu). Đây cũng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa biển.

 

4. Những loại hình đánh bắt hải sản trên biển Sóc Trăng.

Tùy theo đặc tính mỗi khu vực biển nông, sâu, rộng, hẹp, cửa sông, cửa biển, vùng nước lợ hay mặn và cũng tùy theo những đặc tính của các loại hải sản ở Sóc Trăng mà ngư dân có những phương cách, loại hình đánh bắt hải sản khác nhau ví dụ như đánh bắt cá: có rất nhiều hình thức đánh bắt hải sản như nghề làm đáy với các loại đáy khác nhau; Nghề lưới với các loại lưới đa dạng như lưới sỉ, lưới giã, lưới rùng, lưới quàng, lưới vây, lưới xanh xương, lưới thưng. Về câu cá cũng rất phong phú và đa dạng, ngư dân thường xử dụng câu búa, câu chùm, mỗi lần thả khoảng gần một nghìn lưới câu để câu các loại cá như cá thu, cá nhồng, cá bống, cá bớp… Về đánh bắt tôm ngư dân dùng lưỡi cào gọi là cào tôm, ở độ sâu từ 3 – 7 mét, mỗi lần kéo cào (giã cào) mỗi đêm chỉ làm được hai giã cào. Ngoài ra còn có đánh bắt mực quanh năm bằng lưới, cào, câu mực, thẻ mực, đánh bóng mực (lợp mực); bắt ốc biển với một số loài có giá trị kinh tế cao như ngọc điệp, ngọc nữ (trước đây) dùng để lấy ngọc…Hiện nay, ngoài phương thức đánh bắt truyền thống, ngư dân còn nuôi các bè cá trên biển và đặc biệt ở Vĩnh Châu còn nuôi tôm sũ công nghiệp, nghêu thịt, cá kèo và Actimia phục vụ cho đời sống và xuất khẩu.

 

5. Danh lam thắng cảnh thiên nhiên vùng biển Sóc Trăng.

Dọc theo 72 km bờ biển của Sóc Trăng có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên về biển và những di tích lịch sử - văn hóa mang vẻ đẹp đa dạng như: Cửa biển Mỹ Thanh, Trần Đề, Định An, các giồng cát ven biển với những hình thù kỳ lạ, phía trên là những mái chùa Khmer cong vút trong ánh nắng vàng xuyên qua kẻ lá của những cây dầu, cây sao cổ thụ; những đình, chùa của người Việt, người Hoa thờ các thần linh biển cả như: chùa Ông Bổn, chùa Bà Thiên Hậu ở Vĩnh Châu, đình thờ Ông Nam Hải ở Long Phú; Đền thờ Bác Hồ ở Cù Lao Dung, nơi cố nhạc sĩ, nghệ sĩ Quốc Hưng sáng tác và biểu diễn bài ca: “Du kích Long Phú” và những địa danh tên xóm đáy, xóm chài, làng biển, vườn nhãn Vĩnh Châu; các cồn nổi ở Long Phú, Vĩnh Châu với du lịch sinh thái sông nước; Cảng cá Trần Đề, là khu qui hoạch “Thành phố biển” đang được triển khai xây dựng ở Vĩnh Châu… Đó là những điểm văn hóa du lịch được thiên nhiên hào phóng ban tặng, đồng thời cũng được cư dân ven biển Sóc Trăng tạo dựng làm cho vẻ đẹp vùng biển Sóc Trăng đẹp hơn, thuận lợi cho ngành du lịch phát triển.

Chúng tôi điểm qua một vài nét về văn hóa biển ở Sóc Trăng như trên để có cái nhìn khái quát về vấn đề này. Văn hóa biển tạo nên sắc thái văn hóa đặc trưng của vùng, thể hiện đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng cư dân ngư nghiệp.

Kiến thức có được từ văn hóa biển sẽ góp phần quan trọng cho nhiều lĩnh vực như kinh tế biển, du lịch biển, môi trường sinh thái biển, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội về biển….

Từ góc độ nghiên cứu văn hóa biển, chúng tôi muốn tiếp nhận phân tích về vấn đề môi trường sinh thái biển. Thời gian qua con người đã tương tác với biển và để lại những mặt tích cực lẫn tiêu cực, trong đó tiêu cực nhiều hơn. Việc khai thác và bảo quản tài nguyên biển, môi trường sinh thái biển… nên được ứng dụng cho hợp lý, tạo những sức bật tích cực để phát triển vùng biển Sóc Trăng và Nam Bộ.

 

6. Một số đề xuất

* Cần có qui hoạch tổng thể trên cơ sở nhận thức và ứng xử với biển qua việc đầu tư, bảo tồn, hỗ trợ về mặt pháp lý để giải quyết những vấn đề khó khăn như hiện nay.

* Khuyến khích đưa những điểm di tích vào chương trình tour, tuyến điểm du lịch, khai thác những điểm tiềm năng đã có như thế mạnh về lễ hội, Chùa Khmer, Hoa, Việt; những khu có môi trường sinh thái như vườn nhãn Vĩnh Châu, vùng trái cây miệt cồn Cù Lao Dung, cồn nổi Long Phú, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung…; các làng nghề sống trên sông, biển…vào những chương trình tham quan du lịch.

* Cần đào tạo lại, đào tạo mới hướng dẫn viên du lịch có trình độ am hiểu về biển, kích thích sự tò mò muốn tìm hiểu các điểm di tích văn hóa lịch sử một vùng đất với nhiều truyền thuyết.

* Cần có một chiến lược quảng cáo tiếp thị cho các điểm di tích lịch sử văn hóa này, để du khách trong và ngoài nước biết đến. Từ đó vận động người dân cùng tham gia, làm phong phú thêm, đánh thức, khôi phục lại những ngành nghề thủ công truyền thống với tinh thần xã hội hóa.

Tài liệu tham khảo

1. Trần ngọc Thêm, Tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb, Tp. HCM. 2006.

2. Phân viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Tp. HCM,  Sổ tay hành hương đất Phương Nam, Nxb.Tp.HCM.2002.

3. Khoa ngữ văn và báo chí (ĐHKHXH và NV,TP.HCM), Văn học dân gian Sóc Trăng, Nxb, Tp. HCM.2002.

4. Võ Công Nguyện, Sóc Trăng: Thiên nhiên, dân cư và các loại hình hoạt động kinh tế truyền thống, Tài liệu điền dã, 2005.

5. Võ Thành Hùng, Nhà ở của Đồng bào Khmer Nam Bộ Tỉnh Sóc Trăng, Hội VHDGVN, 2000.

6. Võ Thành Hùng, Văn hóa Ẩm thực Sóc Trăng, Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh Sóc Trăng, 2005.

7. Nhiều tác giả, Văn Hóa Sông Nước Miền Trung, Nxb KHXH, 2006.

8. Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng từ năm 2002 đến 2006.

9. Website: www.tuoitre.vn

10. Website: www.str.dcs.vn

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online