Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Văn hóa du lịch Kiên Giang với vùng biển đảo (Nguyễn Hữu Hiệp)
Văn hóa du lịch Kiên Giang với vùng biển đảo (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
18/08/2012

1VĂN HÓA DU LỊCH KIÊN GIANG VỚI VÙNG BIỂN ĐẢO

* Nguyễn Hữu Hiệp

Như chúng ta đều đã biết, du lịch là một trong những nhu cầu văn hóa tất yếu của con người. Đi du lịch là “đi cho biết đó biết đây”. Hầu hết khách du lịch đều là những người lịch lãm, từ phương xa đến để thưởng ngoạn những nét đặc sắt của cảnh quan, môi trường, đồng thời qua đó tìm hiểu thói tục, tập quán, nét sinh hoạt văn hóa đời sống nhân dân trong vùng để mở mang kiến thức. Phục vụ khách du lịch, nhất là loại hình du lịch sinh thái, không nhất thiết phải cung cấp đầy đủ những tiện nghi sang trọng mà chỉ cần tạo điều kiện thoải mái với những tiện nghi phù hợp đặc điểm của vùng miền. Song yếu tố cần nhất là phải văn minh, lịch sự và tế nhị. Để đáp ứng thỏa đáng yêu cầu, người tổ chức hướng dẫn, thuyết minh du lịch phải làm sao lột tả được những vẻ đẹp tiềm ẩn, đồng thời cũng không quên giới thiệu những đặc sắc nổi tiếng.

Khi đến chơi bất cứ nơi nào, trước hết không ai không muốn biết qua vị trí địa dư lịch sử, cùng là những nét đặc trưng của vùng đất. Ở đó những huyền thoại, truyền thuyết rất được chú ý vì tự thân nó đã có sức hấp dẫn nhất định. Vậy thì, vốn kiến thức về địa danh; từng loại cây con; kể về cố sự, mô tả những vật dụng, công cụ, sản phẩm do nhân dân làm ra từ thành quả lao động sáng tạo, kể cả những thổ đặc sản của địa phương.

Nếu tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.243 km2 (vuông) nằm ở bờ biển và có đường biên giới 56 km giáp tỉnh Kampor và một phần tỉnh Tà Keo nước Campuchia thì, cũng có vùng biển rộng 63.290 km2 tức gấp 10 lần đất liền, và vùng nước lịch sử 8.800 km2 còn phức tạp (thông với Thái Lan, Malayxia, có nơi chồng lên nhau chưa xác định, còn tranh chấp). Có đến 105 hòn đảo, trong đó có 43 hòn có dân, tạo thành 5 quần đảo lớn là Thổ Châu (xa nhất - cách TP. Rạch Giá 200km), Nam Du, An Thới – Phú Quốc (lớn nhất Việt Nam, 573 km2), Hải Tặc và Bà Lụa hay Bình trị; (trong đất liền có đến 35 hòn núi, tập trung ở biên giới và ven biển –Hà Tiên).

Với bề dày văn hóa – lịch sử, cùng là vị trí “hải thế” đặc biệt quan trọng như thế, nó nghiễm nhiên là đại biểu vùng biển đảo Tây Nam Bộ.

Ở một nơi được xem như “chân trời góc biển” này, từ bao đời nay một bộ phận không nhỏ cư dân Kiên Giang phải thường xuyên đối mặt với biển, do đó trong từng chặn đường của bước đi, họ chinh phục nơi nào liền đặc cho tên gọi nơi đó, và những thế hệ tiếp nối, cho đến ngày nay đã lưu giữ rất tốt những tên nôm cổ do tiền nhân đặt gọi. Mỗi vùng đất, từ núi sông, kinh rạch, cho đến những vùng biển đảo xa xôi, từng mũi, bãi, hòn, cây, con… và cả đến sản vật do con người sáng tạo đều có những tên gọi mang ý nghĩa nhất định, bình dị, thậm chí mộc mạc, chân chất rất dễ thương. Nghe, không ai không cảm nhận được ngay cái hồn thiêng của nó. Nhưng hiểu cho tường tận duyên do, ý nghĩa của từng tên gọi ấy hẳn không phải là chuyện dễ dàng, nhất là những tên nôm cổ, những thổ ngữ.

Còn nhớ, đến năm Bính Tuất (1826) do quan thành Gia Định xin, vua Minh Mạng đã cho đổi gọi. Hoặc Hán hóa, hoặc cải danh thành những mỹ từ với ý chúc cầu tốt đẹp, dù vậy nó vẫn được nhân dân ở địa phương trân trọng bảo lưu và giữ gìn như giữ gìn một thứ gia bảo. Một khi ý muốn của người dân đã thế thì ta sẽ không lấy làm lạ khi được biết cho đến ngày nay, dù trải bao triều đại với những quan niệm khác nhau, các địa danh, kể cả địa danh là đơn vị hành chính, bên cạnh những “tên chữ” ta thấy đa phần tên nôm vẫn còn được duy trì. Tất cả đều rất gần gũi, thân thương bởi mỗi mỗi đều có lịch sử riêng của nó, có khi rất đơn giản, có khi là dấu ấn của những cuộc đấu tranh một mất một còn!

Dưới đây xin được phép lược nêu “một vài” để nhằm minh họa sự phong phú và đa dạng về tên gọi ở vùng đất “đầu sóng ngọn gió” này.

Về địa danh, bao gồm cả phần trên đất liền vì ít nhiều đều là vùng duyên hải hoặc cận duyên hải, cũng thuộc vùng biển đảo Tây Nam Bộ; ở đó ta thấy đa phần đồng thời là thủy danh (có lượt bớt những tên gọi ngày nay ít thấy nhắc đến):

Mang Khảm, U Minh, Rạch Giá, Rạch Chà Và (Rạch Chà Và Thiệt, Rạch Chà Và Nhỏ), Rạch Ngã Cái, Rạch Cái Nứa, Rạch Tiểu Dừa, Rạch Nằm Bếp, Rạch Cỏ Thum, Rạch Vược, Rạch Bà Ai, Rạch Bà Thầy, Rạch Mồ Thị Cư, Rạch Chung Sư, Rạch Thầy Quơn, Rạch Cái Chanh, Rạch Cà Bay Ngộp, Rạch Ngã Bát, Rạch Thuồng Luồng, Rạch Vược (Lư Khê), Rạch Tìa, Rạch Ụ (Thủy Trường), Rạch Tuần Thơm, Rạch Sỏi, Rạch Đùng; Miệt thứ (“Thập câu” – từ Thứ Một đến Thứ Mười, thực tế lại có Rạch Thứ Sáu Rưởi, Rạch thứ Chín Rưỡi, Rạch Thứ Mười Rưỡi, Rạch Thứ Mười Một); Ngan Dừa, Ngan Trâu, Ngan Rít, Ngan Dọp, Nhà Ngan; Ba Trại, Ba Đình, Bến Luông, Láng Biển, Lung Giục Tượng, Bệ Vầy Heo, Sốc Xoài, Đồng Tranh, Mông Thọ, Sào Lưới, Ong Vèo, Sân Chim, Vườn Cò, Máng Diệc, Sân Cọp, Mũi Ông Cọp, Mũi Vũng Cây Dương, Miếu Ông Thầy (Cọp); Suối Cạn; Sông Ba Doi, Sông Cái Bé, Sông Cái Lớn, Sông Cái Nước, Sông Trẹm (hay Trèm Trẹm), Sông Cửu Cạn; Rọ Ghe (ra Ghe, Ro Ghe); Kinh Cán Gáo (Xẻo Rô), Kinh Chưn Bầu, Kinh Thị Đội, Kinh Cờ Trắng, Kinh Cò Tuất, Kinh Thác Lác, Kinh Chắc Băng, Kinh Cạnh Đền, Kinh Tám Ngàn, Kinh Tri Tôn, Kinh Mốp Giăng (ba thê), Kinh Vòm Rầy, Kinh Vàm Răng, Kinh Luỳnh Quỳnh, Rẫy Mới, Ấp Cà Lang, Xóm Cù Là, Xóm Việt Nam; Đường Củi (hoặc Đường Cúp), Đường Mây, Đường Sân; Mũi Nai, Mũi Ớt, Hòn Chông, Hòn Đất, Hòn Nghệ (Hòn Phụ Tử), Hòn Rái (Sơn Rái), Hòn Tre, Hòn Heo, Hòn Ngang, Hòn Nhun Lớn, Hòn Đầm Một, Hòn Đầm, Ba Hòn, Tà Niên, Hốc Hỏa, Tắc Ráng, Chắc Băng, Mo So, Rộc Xây (Gộc Xây), Trà Ten; Bãi Dương, Bãi Dừa, Bãi Dầu, Bãi Dài, Cái Tàu, Cái Tư, Nước Trong Nước Đục, Thầy Quang, Diệm Hỏa, Cái Bần, Cái Mới, Cái nước, Cái Sô, Cái Huệ, Cái Điều, Tật Lê…

Sơn danh: Núi Hòn Đất, Núi Hòn Me, Núi Hòn Sốc, Núi Chùa Hang, Núi Bình Trị, Núi Hang Tiền, Núi Khoe Lá, Núi Ngang, Núi Tà Đước, Núi Mây, Núi Huỷnh, Núi Sơn Trà, Núi Mo So, Núi Hang Cây Ớt, Núi Trầu, Núi Con Nai, Núi Sa Ngách, Núi Nha Bộ, Núi Ca Đa, Núi Tút Khót, Núi Còm, Núi Mây, Núi Bãi Ớt, Núi Ông Cọp, Núi Đại Tô Châu, Núi Tiểu Tô Châu, Núi Bình Sơn (tên khác: Núi Lăng), Núi Pháo Đài, Núi Ngũ Hổ, Núi Đề Liêm (tên khác: Bát Giác Sơn), Núi Đá Lớn, Núi Đá Nhỏ Bãi Nò, Núi Nhà Đèn, Núi Ông Say, Núi Giếng Tượng, Núi Chùa Vàng, Núi Đại Táo, Núi Địa Tạng, Núi Bà Lý, Núi Thạch Động, Núi Sa Kỳ, Núi Thị Vạng, Núi Đá Dựng, Núi Mặt Quỷ, Núi Ông Lang.

Hải danh: Quần đảo Nam Du (tên khác: Nam Dự, Củ Tron) có Đảo Củ Tron, Đảo Lớn, Đảo Dầu (hoặc trường), Đảo Ngang, Đảo Mấu, Đảo Ông (hoặc Trước), Đảo Mốc, Đảo Tre (hoặc Giang), Đảo Hàng (hoặc Côn), Đảo Hoa Lư, Đảo Đô Nai…

Quần đảo Hải tặc có: Đảo Tre Lớn (hoặc Đốc), Đảo Tre Nhỏ, Đảo Đước, Đảo Giang, Đảo Ụ, Đảo Tre Vinh, Đảo Gùi…

Quần đảo Bình Trị có: Đảo Rễ Lớn, Đảo Rễ Nhỏ, Đảo Ngang, Đảo Heo, Đảo Dê, Đảo Nhum Một, Đảo Nhum Hai, Đảo Nhum Ba, Đảo Bờ Đập, Đảo Ông Tiều, Đảo Sơn Thổ Lớn…

Quần đảo An Thới có các đảo chính: Đảo Dâm, Đảo Dừa, Đảo Rọi, Đảo Thơm, Đảo Đụng (tên khác: Vang), Đảo Buồm (tên khác: Móng Tay), Đảo Gầm Ghì (tên khác: Vong Ngang), Đảo Mây Rút Trong (tên khác: Vông), Đảo Mây Rút ngoài (hoặc Mây Rút), Đảo Dơi (tên khác: Trang) Đảo Kim Quy, Đảo Tây, Đảo Tranh (tên khác: Đá Bàn), Đảo Dãi Đá (tên khác: Khô), Đảo Thơm, Đảo Dừa, Đảo Rọi…

Quần Đảo thổ Chu có: Đảo Thổ Chu (Pháp gọi Poulo Panjang), Đảo Hàng (hay Nhạn), Đảo Khô, Đảo Kéo Ngựa (Pháp gọi Ile de Pic), Đảo Từ Đảo Cao, Đảo Cao Cát Đão Mõ.

Đảo Phú Quốc (có núi Chảo, núi  bãi Dài, dãy núi Hàm Rồng, dãy núi Hàm Ninh với các đỉnh núi Chùa, núi Võ Quắp, núi Ông Thầy, núi Điệp Tiền, núi Vô Hương, núi Khu Tượng, núi  Ông Lăng, núi  Mặt Quỷ…).

Đánh bắt: Người ta xây nò, xà di, trể thẻ, lưới rùng, vùng trủ, ba thưa, rút, mành đèn, vó biển, lưới chụp, lưới trăn, càng chong, bung, te, xiệp, câu thượt, câu dầm… để khai thác, đánh bắt vô số các loài thủy hải sản, phổ biến nhất là các loại cá như: cá cơm, trích, bạc má, ba thú, ngừ, ngát, trang, chim, gúng, gách, ngân, sòng, diễn, lăng tiêu, chỉ vàng, bè vàng, kẽm, hồng, nhồng, bóp, mập tịch, giống, lưỡi kiếm, đuối, cúi…; cùng những loài giáp xác đặc trưng như tèn hen, ba khía, đồi mồi, xà cừ, ngọc trai v.v…

Thổ đặc sản đặc trưng: Chó Phú Quốc; hò tiêu, đồi mồi, đồn đột; nước mắm hòn, mắm lòng; huyền phách, cao lanh, đá vôi (xi măng Hà Tiên)…

Và một số loài cây, cỏ: Đước, vẹt, dần, mấm, tràm, vên vên, bô bô, gồi, kim giao, cẩm thị, lòng máng, chay, trai, viết, ráng, choại, mốp, mật cật, ô rô, cốc kèn, mui, cám, dớn, rong mứt, rau câu, khổ tai, lúa ma…

Di khảo cổ: Nền chùa, Cạnh Đền, Đá Nổi, giồng Đá, Mốp Giăng.

Về nghề nghiệp kiếm sống cũng có các tên gọi được xem là những thuật ngữ rất riêng, như nắn nồi, cà ràng, nhổ bàng, đươn đệm, nóp, cà ròn, cần xé, bứt choại, len trâu, ăn ong (ăn ngan, ăn phong ngạn, gác kèo, lội ong, lội dớn, đi dớn), cấy dăm, thẻ mực...

Trở lên chỉ lược nêu một số trong vô số tên gọi về địa danh, thủy – hải danh, thuật ngữ nghề nghiệp rất riêng do dân gian đặt gọi dựa theo cảng quan, hình thế, thổ sản, sự kiện, về các cây, con, vật dụng phương tiện, sản phẩm cùng là công cụ sáng tạo trong lao động, sinh hoạt đời thường trở thành “tục truyền lời xuôi”. Thật đáng tiếc, nếu không phải là người địa phương, những cư dân cố cựu, hoặc nhà nghiên cứu chuyên sâu thì, qua những tên gọi ấy người ta chỉ có thể mường tượng một cách rất khái quát, có khi không đúng, thậm chí chệch choạc với sự thật lịch sử, tất nhiên không những vô bổ mà còn phản tác dụng.

Chủ đích của bài phát biểu nhỏ này không gì khác là mong muốn tất cả chúng ta cùng nhau tìm hiểu phần nào ngọn nguồn về các tên gọi đã gắn bó với đời sống dân gian từ rất lâu đời, hầu trang bị/ bổ sung kiến thức không chỉ cho lớp trẻ và các thế hệ tiếp nối biết để cảm thông sự hy sinh gian khổ của cha ông thời mở cõi mà trước mắt là nhằm giúp đội ngũ làm công tác du lịch có điều kiện quảng bá những nét sinh hoạt đặc trưng độc đáo của đất và người Kiên Giang, mà theo tôi, rất xứng đáng là đại biểu vùng biển đảo Tây Nam Bộ, bởi cho đến nay nhân dân các địa phương vẫn ý thức giữ gìn và bảo lơu như bảo lưu một thứ đặc sản văn hóa dân tộc. Để làm bật lên những vẻ đẹp tiềm ẩn, ngoài những nổ lực thiết thực của các ngành hữu quan như Hội văn học nghệ thuật tỉnh, Sở văn hóa và Thông tin, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Du lịch…, có lẽ Hội Văn nghệ dân gian mà cụ thể là các nhà Phôn-lo Việt Nam nói chung, các nhà phôn-lo Kiên Giang nói riêng, hơn ai hết, cần quan tâm đẩy mạnh hơn nữa công tác sưu tầm, khảo cứu. Trước mắt, nếu không/ chưa thể thực hiện được một công trình viết đầy đủ dưới dạng “bách khoa toàn thư” về Kiên Giang hay về biển đảo Tây Nam Bộ thì, thiết nghĩ ít ra cũng nên tập trung đầu tư thực hiện một công trình khảo cứu văn hóa địa phương để, không chỉ phát huy truyền thống, mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của một vùng miền vốn có bề dày lịch sử khai phá rất đặc trưng, ở đó vẫn không ít nơi hãy còn khá đậm nét hoang sơ. Đúng như Mácxim Gooky đã nói: “Cộng tác khảo cứu địa phương là một công việc to lớn. Nó không những chỉ cho chúng ta con đường làm giàu cho đất nước, mà cũng giống như bất kỳ hoạt động trí tuệ hợp lý nào khác, nó tạo ra cho ta sự mãn nguyện về tinh thần, tạo điều kiện làm phát triển nhanh chóng cảm giác về phẩm chất cao quý của con người, nó làm cho ta tin hơn về sức mạnh sáng tạo của trí óc con người”.

Hay nói một cách khác, công trình khảo cứu địa phương chính là công cụ văn hóa thiết yếu phục vụ thiết thực ngành công nghiệp không khói vậy.

Để làm tốt nhiệm vụ tất nhiên không thể nhờ đến sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của Nhà nước và nhân dân.

Cập nhật ( 22/08/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online