Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (TS Phú Văn Hẵn)
Phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (TS Phú Văn Hẵn) PDF In E-mail
Người viết: (TS Phú Văn Hẵn   
18/08/2012

1PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

* Ts. Phú Văn Hẳn

Du lịch ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Nhiều nơi xem du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng trong việc duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho các dân tộc khác nhau trên thế giới hiểu nhau hơn. Việt Nam đã được xác định là điểm đến của các du khách trong thiên niên kỷ XXI này. Bất chấp những biến động chính trị và xung đột vũ trang ở một số khu vực trên thế giới, hoạt động du lịch ở Việt Nam vẫn giữ được nhịp độ phát triển và ngày càng có nhiều người tham gia. Tuy nhiên, một số nơi chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế do du lịch mang đến, chưa thật sự chú trọng đến việc giữ gìn và bảo vệ môi trường cũng như có nghĩa vụ làm sống lại những truyền thống văn hóa để thu hút du khách, phát triển du lịch bền vững.

Tay Nam Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long là nơi phát triển du lịch muộn hơn so với khu vực và thế giới, nhưng tốc độ phát triển du lịch của vùng này tương đối nhanh. Hoạt động du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang ngày càng thu hút du khách nhờ vào chính sách mở cửa, nền an ninh trật tự đảm bảo tốt cùng với truyền thống hiếu khách của nhân dân Việt Nam và vùng Nam Bộ, đơn giản hóa các thủ tục hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách quốc tế. Bên cạnh đó, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và được giải trí đã khiến cho thị trường khách du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng lên đáng kể.

Chiến lược phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long là quan khai thác, phát triển các nguồn tài nguyên tự nhiên và đầu tư khai thác, bảo tồn các nguồn tài nguyên tự nhiên và đầu tư khai thác, bảo tồn các nguồn tài nguyên nhân văn như việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa – nghệ thuật, du lịch văn hóa dân tộc, duy trì và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam. Thể hiện rõ trong việc đầu tư, hỗ trợ tổ chức một số lễ hội dân tộc có quy mô lớn như lễ hội đua ghe ngo, đua bò của người Khme ở Nam Bộ, lễ hội Raya Katê của người Chăm,.. hoặc đầu tư vào duy trì và phát triển một số làng nghề truyền thống (như nghề dệt Chăm và Khmer ở An Giang), tổ chức liên hoan biểu diễn ca múa nhạc các dân tộc,…

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long những năm qua có ưu thế thu hút khách tham quan thắng cảnh, tắm biển, hành hương song chưa hấp dẫn du khách trong việc giữ khách lại lâu để an dưỡng, leo núi, săn bắt, du thuyền, dạo vườn trái cây, mua sắm, vui chơi, giải trí mà tiềm năng nơi này còn rất kém.

Đồng bằng sông Cửu Long đều có đương hàng không, đường bộ, đường thủy. Đường thủy được đánh giá là khá thuận lợi cho giao thông vùng sông nước này song tàu thủy chưa hiện đại. Đường bộ đã có cải thiện hơn song còn nhiều đoạn đường xấu, hẹp và lạc hậu. Riêng đường hàng không chưa khai thác đúng mức và tốc độ khai thông và phát triển còn chậm. Khả năng phục vụ của sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), Phú Quốc, Rạch Sỏi cũng còn hạn chế trông khi đó sân bay Hà Tiên và Kiên Giang đã có từ trước vẫn chưa được ngành du lịch khai thác. Các phương tiện giao thông vẫn chưa được sử dụng hết năng suất để phục vụ khách du lịch.

Một khi đường xá và phương tiện đi lại được khai thông, du khách sẽ tăng lên thì nhu cầu ăn ở (nhà hàng – khách sạn) cũng sẽ tăng theo. Trong các hoạt động phục vụ ăn uống tại vùng này hiện nay chiếm đa số thuộc về tư nhân, tập trung tại thị xã, thị trấn, có quy mô nhỏ và vừa, sản phẩm phục vụ còn thấp và trung bình, nhiều nơi thiếu hẳn dịch vụ ăn ở hoặc chỉ được đáp ứng ở mức bình dân hoặc kiểu mì ăn liền. Trong khi đó vùng này không thiếu các đặc sản và khả năng xây dựng nhà hàng, khách sạn đa dạng (nhỏ, vừa và cao cấp). Điều đó gây thất thoát lớn về thu nhập cho vùng. Điện, nước, và bưu chính viễn thông ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã được cải thiện song vẫn chưa phải đã tốt hoàn toàn nhất là đối với vùng đảo, vùng sâu vùng xa. Nếu các phương tiện này sớm được nâng cao chất lượng hơn nữa thì giá trị du lịch còn tăng đáng kể.

Vai trò con người trong hoạt động du lịch là hết sức quan trọng trong khi đó hầu hết số người lao động trong ngành du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa được đào tạo chuyên ngành du lịch hoặc đều từ các chuyên ngành khác. Trình độ ngoại ngữ lại chủ yếu bằng tiếng Anh vừa thiếu, vừa yếu không thể đáp ứng cho du khách từ nhiều quốc gia nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Do đó, trong thời gian tới phải chú ý đào tạo ngay cho nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị lâu dài một đội ngũ có nghiệp vụ du lịch ngày càng cao cho vùng này.

Tiềm năng văn hóa dân tộc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là rất phong phú và có khả năng thu hút mạnh khách du lịch. Bản sắc văn hóa ở đây được tạo nên từ tinh hoa văn hóa các cộng đồng dân tộc đã được giữ gìn và nâng cao, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những phong tục tập quán, lễ hội cổ truyền của các dân tộc Việt – Hoa – Khơmer mang màu sắc riêng có những đặc thù ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà hiếm nơi khác có được.

Tuy có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch nhưng vùng Đồng bằng sông Cửu long vẫn chưa tận dụng hết những ưu thế để xây dựng bền vững ngành du lịch và thu hút khách. Nguyên nhân vẫn do cơ sở hạ tầng chưa phát triển. Mạng lưới giao thông ở các khu du lịch và dân cư tuy có cải thiện và phát triển so với trước năm 1975 và trước đổi mới (1986), song các tuyến đường ở vùng sâu vùng xa vẫn còn các loại đường nhỏ, đường đất, đá, không có bảng ghi chú tiện lợi cho du khách đi vào các khu du lịch. Nhiều tuyến đường không được chiếu sáng vào ban đêm, khiến cho mức độ an toàn trong giao thông thấp, gây tâm lý lo ngại cho du khách.

Ở các khu có thu nhập thấp, nhà cửa mang tính chất tạm bợ, chấp vá, điều kiện vệ sinh chưa cao, thói quen chăn nuôi gia súc cạnh nhà, hệ thống thoát nước còn thiếu và yếu,… môi trường tại các khu cư trú ven biển, ven sông,… dễ bị ô nhiễm. Nhà cửa ở các khu dân có thu nhập cao thì bị ô nhiễm theo cách khác do được xây dựng bằng những vật liệu hiện đại, không theo trật tự có qui hoạch trước làm mất đi nét truyền thống vốn có của các dân tộc địa phương (Hoa, Khmer và Kinh). Về trang phục các dân tộc (Hoa – Khmer, Khmer vốn đặc sắc riêng) tại địa phương nay lại có cách ăn mặc giống hoặc gần giống người Việt khó có thể phân biệt được, còn người Việt thì ăn mặc chẳng phân biệt với người nước ngoài.

Trong thời gian, một ngành kỹ nghệ du lịch thành công phụ thuộc vào việc xác định đúng khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên hiện có. Điều quan trọng là phát triển nhưng phải giữ được môi trừng trong lành. Khả năng sử dụng về vật chất của các tài nguyên sao cho đúng mục đích. Khả năng sử dụng về tinh thần của những giá trị về kinh nghiệm và truyền thống trong xã hội, tránh biến thành một vấn đề nan giải. Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long không nên đơn giản chỉ sao chép các loại hình phát triển hiện có ở các quốc gia khác hoặc ở vùng khác trong nước mà nên biết tận dụng nguồn tài nguyên hiện có, cân nhắc đến nhiều khía cạnh liên quan đến xã hội, văn hóa, tôn giáo và con người của vùng.

Chương trình phát triển du lịch cần phải được quản lý theo dõi và phối hợp bằng một tổ chức chuyên biệt, thống nhất từ trung ương đến từng khu du lịch. Tránh tối đa khả năng ngành du lịch ở cấp trung ương (cấp vùng) đưa ra các chính sách trong khi một cơ quan phối hợp khác có quyền hơn (cấp tỉnh, thành) trong việc thực hiện các phương án. Một chiến lược có thể áp dụng thành công nơi này nhưng có thể sẽ không thành công ở nơi khác. Vì thế, việc học tập và áp dụng các kinh nghiệm phát triển của các nước, các vùng nên được dựa chính trên các nguồn lực và tiềm năng của chính mình. Các nhà hoạch định đã đưa ra một loại hình du lịch đáp ứng được nhu cầu phát triển, vừa khai thác được nguồn tài nguyên nhưng đồng thời vẫn bảo vệ được nó, cải thiện và khuyến khích sự trao đổi xã hội giữa người dân địa phương và du khách, cung cấp những kinh nghiệm có giá trị cho khách du lịch. Phát triển du lịch lễ hội, du lịch thăm các làng nghề truyền thống, hay du lịch tham quan các bảo tàng văn hóa, di tích lịch sử và các công trình kiến trúc điêu khắc có tại địa phương. Về cơ bản, điều này nhằm mục đích phục vụ cho những nhu cầu đa dạng của du khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài. Mối quan hệ Chủ - Khách – Môi trường Doanh nghiệp – Chính phủ và các yếu tố có liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch phải được xem trọng. Phát triển du lịch đòi hỏi phải có những sự đầu tư mới. Nguồn vốn không những cần xác định cơ sở vật chất mà còn để hoạch định phát triển cơ sở hạ tầng.

Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long thực sự lý tưởng cho du khách, là một vùng đất đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, giàu có về tiềm năng du lịch và cho việc khám phá, hòa mình vào thiên nhiên, văn hóa dân tộc và cuộc sống con người. biết khai thác và khai thác đúng mức tiềm năng to lớn ấy cùng với đầu tư thích đáng trên cơ sở biết học tập kinh nghiệm từ hoạt động du lịch ở các nơi trong nước và ở ngoài nước, chắc chắn du lịch Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh và bền vững, đóng góp tích cực vào việc phát huy lịch sử, văn hóa truyền thống quê hương và phát triển kinh tế xã hội tương xứng với mảnh đất và con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Tây Nam Bộ Việt Nam chúng ta.

 

Tài liệu tham khảo:

1. UBND tỉnh Kiên Giang – Sở Thương mại – Du lịch, báo cáo tổng kết “Tình hình thực hiện kế hoạch thương mại – du lịch năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch năm 2000”

2. UBND tỉnh Kiên Giang – Sở VHTT – TT, Bùi Văn Thạnh, Báo cáo “Khái quát lịch sử và phương hướng bảo tồn, phát huy di tích lịch sử căn cứ cách mạng U Minh Thượng Kiên Giang”.

3. Cục Thống Kê tỉnh Kiên Giang, số liệu thống kê năm 1998, 1999.

4. Pro. Dr. Fazim @Fazdim Othiman, Du lịch Malaysia và bài học cho Việt Nam, bài viết cho Hội Thảo khoa học về du lịch tổ chức tại Huế 1997.

5. Phú Văn Hẳn, Phát triển du lịch ở Kiên Giang, Kiêng Giang, HTKH 2001.

6. Phú Văn hẳn, Phát triển văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, HTKH ĐHTN, 2007./.

Cập nhật ( 22/08/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online