Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Du lịch Phú Quốc (Nguyễn Bá Long)
Du lịch Phú Quốc (Nguyễn Bá Long) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Bá Long   
18/08/2012

1DU LỊCH PHÚ QUỐC TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA BẢN ĐỊA

* Nguyễn Bá Long

Nằm ở vị trí eo biển cực Tây Nam Tổ Quốc, Kiên Giang là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Tiềm năng ấy bao gồm cả thiên tạo lẫn nhân tạo. Thiên tạo là cái của thiên nhiên do trời đất ban tặng, muốn cũng không được; nhân tạo là phần của con người góp vào thiên nhiên, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất được lắng lọc qua tiến trình lịch sử. Người ta vẫn gọi đó là văn hóa. Nếu được phép phát thảo tổng quan, chúng tôi hình dung có một tam giác vùng du lịch. Cạnh 1: vùng biển đảo Kiên Hải – Phú Quốc; cạnh 2: vùng bán đảo Cà Mau (An Biên – An Minh – Vĩnh Thuận); cạnh 3: nối từ Rạch Giá đến Hà Tiên. Trong bài viết này, do tầm nhìn có hạng, chúng tôi chỉ tiếp cận  Du lịch Phú quốc từ góc nhìn văn hóa bản địa (văn hóa dân gian).

Đến nay người ta vẫn chưa minh định chính xác Phú Quốc hình thành vào thời gian nào trong lịch sử kiến tạo. Chỉ biết chắc chắn rằng: hòn đảo thực sự trở nên ý nghĩa khi xuất hiện con người đến đây khai sơn phá thạch để biến “cái tự nó” thành “cái cho ta”; thời gian ấy đến nay được xác định khoảng trên dưới 3 thế kỷ. Ba trăm năm so với chiều dài lịch sử đất nước chưa là bao nhưng cũng đủ hình thành nên dòng văn hóa đặc trưng nằm trong mạch nguồn văn hóa chung của dân tộc. Có con người mới có văn hóa. Hiện nay, qua khảo sát, trên đảo Phú Quốc có hai tộc người chính là Việt và Hoa, người Khme rất ít. Người Việt phần lớn có gốc từ miền Trung (nhiều nhất Quãng Ngãi); tộc người Hoa chủ yếu người Hải Nam.

Do đặc điểm như trên, nên văn hóa dân gian Phú Quốc là dòng văn hóa thích hợp từ nhiều nguồn, nhiều luồng đến từ nhiều nơi khác nhau, cả trong nước lẫn ngoài nước (kể cả văn hóa Phương tây); cuối cùng hình thành nên một dòng văn hóa bản địa khá đậm đà, khó lẫn với nơi khác.

Ngày nay, khi Phú Quốc được sự chú ý như một vùng kinh tế phát triển, được nhà nước ban hành những chính sách ưu đãi để biến nơi đây thành trung tâm lớn nhất về du lịch sinh thái và nghĩ dưỡng chất lượng cao, hơn lúc nào hết, nền văn hóa bản địa cần phải đặc biệt chú ý. Nó không những để mời gọi, níu giữ du khách mà còn làm cho Phú Quốc phát triển nhưng vẫn là Phú Quốc, Phú Quốc không thể là bản phô-tô một mô hình nào từ bên ngoài đưa đến. Điều này ai cũng hiểu, vấn đề là nhận diện nền văn hóa bản địa nơi đây và ứng dụng vào phát triển du lịch như thế nào cho sát thực, có hiệu quả. Ở đây có mối quan hệ giữa phát triển với bảo tồn, bảo tồn để phát triển chứ không phục cổ bài kim. Chúng tôi nhận diện bước đầu như sau:

Về văn hóa cư trú tổ chức đời sống cộng đồng: Là một bộ phận của văn hóa Việt Nam, văn hóa Phú Quốc cũng mang những nét đặc trưng của nền văn hóa gốc nông nghiệp. Nhưng như trên đã nói, do địa lý tự nhiên và đặc điểm dân cư, nên văn hóa Phú Quốc có những dấu ấn đặc thù. Cộng đồng cư dân Phú Quốc được kết cấu rất riêng: vừa thông thoáng vừa chặt chẽ; thông thoáng trong giao tiếp: người Phú Quốc bản địa nặng về tình hơn lí, coi trọng việc làm hơn nói năng, tính khí bộc trực, cởi mở mà kiên định, kiên quyết. Có lẽ đây là mẫu số chung của cư dân vùng Tây Nam Bộ. Đồng thời lại rất chặt trong quan hệ cộng đồng, nói cách khác, tinh thần đoàn kết của cư dân Phú Quốc rất cao nhưng không đóng kín. Nơi đây hầu như không phân biệt dân chính cư với dân ngụ cư, nếu ở địa phương khác có câu: “Trai làng ở góa còn đông / Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư” hàm ý hạ thấp người nơi khác mới đến cư trú, thì người Phú Quốc lại không vậy. Ở xứ đảo này, người đến trước đón người đến sau, họ tập hợp thành các cụm cư dân sống hòa nhập, thậm chí người đến trước còn giúp người đến sau sinh cơ lập nghiệp. Tinh thần ấy còn lưu lại trong ca dao: “Gió đưa, gió đẩy ngọn xoài / Thương người xa xứ lạc loài đến đây”. Người ta kể rằng, trước đây nhiều gia đình không cần cửa đóng then cài mà chẳng bao giờ mất cắp; khi có khách bất ngờ, việc nhà này mượn đồ ăn của nhà kia để đãi khách là chuyện bình thường.

Tính cộng đồng của cư dân Phú Quốc bản địa không chỉ biểu hiện ở tổ chức bửa ăn (chung nồi cơm, tô canh, chén nước chấm, uống chung li rượu… ) mà tính cộng đồng còn biểu hiện ở thiết kế xóm làng. Trước đây Phú Quốc đất rộng người thưa nhưng nhiều làng ven biển lại bao gồm những ngôi nhà ở bên cạnh nhau, thậm chí sát vách nhau. Tinh thần cộng đồng chặt chẽ như vậy cho nên người Phú Quốc mộc mạc, chơn chất, thấm đậm nghĩa tình. Đặc điểm này khiến cho du khách đến đây không thể không ngẫm nghĩ và lưu luyến nếu họ được các nhà du lịch đưa đến những xóm làng còn ở dạng nguyên sơ. Được biết từ Dương Đông theo tỉnh lộ 47, đi khoảng 14km đến Hàm Ninh vẫn còn một làng cổ. Mọi sinh hoạt trong làng từ nhà ở đến ăn uống, ứng xử vẫn giữ được những nét điển hình của cư dân Phú Quốc truyền thống, rất cần được bảo tồn. Có thể nói nơi đây là không gian văn hóa lí tưởng với những ai muốn trở về với Phú Quốc dĩ vãng.

Một đặc điểm thú vị khác của cư dân Phú Quốc, đó là mô hình nhà sàn. Phú Quốc rất nhiều nhà sàn, mặc dầu ở đây không sống chung với lũ lụt như trong đất liền. Trước đây, người nghèo ở nhà sàn, người khá giả hơn cũng thế, dù thiết kế có khác đôi chút. Những ngôi nhà sàn trong vườn, bên bờ sông, bờ rạch, bờ biển sườn núi… hiện lên trước mắt du khách, tạo ấn tượng ban đầu khó quên chẳng kém gì nhà rông trên Tây Nguyên. Thiển nghĩ, nếu nơi nơi trên Phú Quốc đều đô thị hóa, những ngôi nhà sàn chỉ còn lại trong kí ức thì du lịch ở hòn đảo này chắc sẽ kém phần hấp dẫn. Kiểu nhà sàn Phú Quốc tạo cho cảnh sắc nơi đây thêm phần thi vị.

* Về sản vật: không nơi nào như Phú Quốc, sản vật phong phú, đa dạng từ trên rừng dưới biển. Nhưng nói như thế không có nghĩa là vô tận, nhất là sản vật  lấy từ trong rừng. Nét đặc sắc rất Phú Quốc thu hút du khách là ở chỗ: những sản vật ấy không chỉ ở sự ưu đãi của thiên nhiên mà cao hơn còn ở bàn tay nhào nặn, chế biến đạt đến trình độ điêu luyện, kĩ xảo của con người sở tại. Cũng là sản vật  ấy cả thôi nhưng nếu đem đến địa phương khác đạo diễn thì chất lượng chắc chắn không thể sách bằng nơi đây. Về phía du khách cũng vậy, nhiều người đến Phú Quốc không chỉ để hưởng thụ sản phẩm (có thể nhờ người khác mua dùm) mà điều họ cần chiêm ngưỡng lại ở quy trình làm ra sản phẩm và tài nghệ hơn người của các nghệ nhân (tất nhiên là không thể làm theo được).

Được biết Phú Quốc có những sản vật có tiếng vang ra ngoài bờ cõi đất nước như nước mắm, hồ tiêu và loài chó tinh khôn. Những sản vật này hiện nay đang được khai thác nhưng chủ yếu ở tiêu thụ sản phẩm. Mà tiêu thụ sản phẩm không thôi, chúng tôi nghĩ vẫn chưa thực sự thu hút du khách. Như trên đã nói, người làm du lịch nên hướng dẫn du khách đến với các địa chỉ nổi tiếng làm nên các sản vật ấy, cho họ tiếp xúc với những chủ thể đã tác động vào thiên nhiên để có sản phẩm ra đời, cũng như ta đến Tây Nguyên vừa để được uống rượu cần vừa  để tìm hiểu nét độc đáo về xuất xứ của loại rượu này.

* Về ẩm thực: Chúng tôi không thể thống kê hết các món ăn đặc thù Phú Quốc ra đây. Và cũng cho rằng du khách đến Phú Quốc không phải cốt để ăn mà cái họ cần tiếp cận lại là cái ăn và nghệ thuật chế biến món ăn. Theo Nguyễn  Tuân, người nấu ăn, nhìn từ góc độ văn hóa cũng là nghệ sĩ tài hoa, tiết rằng sinh thời Cụ Nguyễn chưa một lần đến Phú Quốc, nếu đến cụ sẽ có những trang viết xuất thần, không kém thời vang bóng về ẩm thực nơi này. Ẩm thực Phú Quốc là điểm gặp gỡ, giao thoa cách chế biến của các dân tộc Việt – Hoa – Khme tạo nên hương vị độc đáo khó lẫn nơi khác. Tuy nhiên, hiện nay đi kiếm một nghệ nhân cao tay như xưa là chuyện không dễ, mặc dù nhà hàng khách sạn mọc lên khắp nơi.

- Về món ăn miền biển, Cơm ghẹ, cháo mực Phú Quốc được đưa vào di sản văn hóa vật thể của tỉnh nhà, bên cạnh các món ăn truyền thống như bún cá Rạch Giá, cháo nấm tràm Hà Tiên, cháo ong An Minh. Phú Quốc còn có những món ăn miền biển nổi tiếng như chả ghẹ, gỏi cá nhòng, cá trích, ốc vá, hào bao, hủ tiếu tôm mực, mắm mực, canh chua xả nghệ, khô thiều, ghẹ Hàm Ninh… Du khách ngồi bên bờ biển hoặc trên những căn sàn lộng gió mà thưởng thức những món này thì thú vị vô cùng.

- Ẩm thực miền rừng cũng không kém gì miền biển. Tuy tuổi đời còn non trẻ nhưng rượu sim Phú Quốc cũng đã trở thành thương hiệu nổi tiếng. Đến Phú Quốc, mà uống rượu Tây với sản vật địa phương thì chẳng giống ai, chẳng còn gì khoái khẩu. Có thể ví rượu sim Phú Quốc như boordeau ma-de-in Việt Nam vậy, vang Đà Lạt cũng chẳng hơn gì. Theo nhà nghiên cứu Trương Thanh Hùng, rượu sim xuất hiện ở Phú Quốc khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, do người miền trung đến thăm và chỉ cho cách ủ men, chưng cất. Còn rượu mỏ quạ chưa biết rõ thời điểm xuất hiện nhưng đây là trái (giống mỏ con quạ) của một loại cây leo có nhiều ở rừng Phú Quốc, người đi rừng mang về bỏ vào rượu ngâm một thời gian thì đem uống. Ngoài thú nhâm nhi với món ăn dân dã cùng bạn bè tri kỉ, rượu mỏ quạ còn có tác dụng chữa được nhiều bệnh nếu biết dừng lại đúng lúc.

Ở rừng Phú Quốc trước đây còn dồi dào những món ăn đặc trưng như càng tôm, càng cuốc, heo rừng, cồn, trăn, rùa, kì đà, têtê … cùng nhóm lấy từ thực vật như củ nầng, đọt cây nhum, đọt cây chà là gai, lá giang, lá sâm, lá mối, măng tre, bình linh, chòi mòi, cơm nguội … Những lâm sản này được người bản địa chế biến bao giờ cũng có cái lạ, cái thú vị riêng. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhờ những sản vật rừng mà những người yêu nước đã vượt qua được sự bố ráp của quân thù. Ngày nay sản vật rừng trở nên khan hiếm, phần do chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, phần do khai thác tràn lan, khó kiểm soát. Không còn cách khác là phải thực nghiêm ngặt luật bảo tồn để rừng Phú Quốc luôn thu hút du khách trong và ngoài nước về đây chiêm ngưỡng. Đồng thời cũng nên khuyến khích nuôi thú rừng trong dân cư một cách an toàn, đúng luật nhằm mục đích du lịch (được biết mới đây ở Phú Quốc xuất hiện hộ gia đình nuôi heo rừng trong trang trại với quy mô lớn, đang được chú ý).

Chúng tôi nghĩ rằng ẩm thực địa phương chỉ có ý nghĩa khi nó trở về với không gian dân dã, nói như Nguyễn Tuân: phở Hà Nội ăn ngoài hè phố mới ngon. Phú Quốc đang và sẽ có nhiều nhà hàng khách sạn sang trọng tầm cỡ thế giới, nhưng có lẽ những không gian dân dã vẫn không bị biến dạng hay bị thu hẹp quá mức; chắc các nhà hoạch định chiến lược du lịch nơi đây đã quá thấy điều đó.

Tuy nhiên, ẩm thực xứ ta cũng có nhiều điều cần thay đổi, nhất là trong thời mở cửa đón khách bốn phương trên thế giới. Chẳng hạn, do thiên nhiên ưu đãi, do tính khí hào phóng có khi thái quá, từ xưa người nơi đây đã có thói quen tổ chức bữa ăn hội ngộ phải thừa thải (cho rằng như thế mới sang), gây nhiều lãng phí, thiếu thẩm mỹ, có khi phản cảm. Người Việt còn có thói quen vừa ăn vừa uống vừa nói chuyện, thậm chí còn ca hát, nhảy múa, nhiều du khách nước ngoài tỏ ra không mặn mà bởi xứ họ không bao giờ như thế (chắc họ nghĩ kiểu ẩm thực này không hợp vệ sinh cho lắm). Đó là chưa nói đến một bộ phận cư dân vẫn giữ thói quan dùng quán ngữ không được đẹp để mở đầu trong các cuộc giao tiếp bằng lời.

* Về văn học dân gian: Phú Quốc hầu như không thiếu một thể loại nào, từ truyền thuyết đến ca dao, hò, vè… đều hội đủ về đây. Nhiều câu chuyện li kì, nhiều lời ca, điệu nhạc làm say đắm lòng người từ thưở xưa đã góp phần làm nên cái hồn Phú Quốc, chắc các nhà du lịch không thể bỏ qua.

Truyền thuyết trên đảo Phú Quốc khá nhiều, có thể phân thành từng chùm, mỗi chùm tập hợp những truyện có chung đề tài nhưng nội dung và lời kể thì khác nhau. Chẳng hạn, truyền thuyết về thời mở đất có hai chùm: chùm truyền thuyết địa danh (truyền thuyết Đá chữ, truyền thuyết về Bà Kim Giao, Đồng Bà) và chùm truyền thuyết về khai thác huyền, trầm hương.

Truyền thuyết lịch sử (dã sử) cũng có hai chùm:

- Chùm truyền thuyết về chúa nguyễn Ánh gồm: câu chuyện Giếng Ngự (hay giếng Gia Long), chuyện về chiếc ngai vua, về sự tích mũi Ông Đội, chuyện bầy cá bảo vệ chúa hải trình lánh nạn, chuyện Chúa thoát hiểm trong một cơn bão, lâm li nhất là chuyện kể về mối tình giữa Chúa với bà thứ Phi Yến (tên thật Lê Thị Răm). Bà Phi Yến có người con đoản mệnh tên Cải (Hoàng Tử Cải). Người ta nói rằng câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời (lời) đắng cay”, có xuất xứ từ Phú Quốc gắn với truyền thuyết này. Kì thực đây chỉ là phán đoán mà thôi.

- Chùm truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực: Cư dân Kiên Giang và Phú Quốc rất tôn thờ Nguyễn Trung Trực (thời gọi Ông Nguyễn, hay Cụ Nguyễn). Phú Quốc là nơi Nguyễn Trung Trực chọn làm căn cứ đánh Pháp. Tuy nghiệp lớn không thành nhưng uy danh của Ông lan rộng trong dân gian từ bấy đến nay. Tại xã Gành Dầu (Phú Quốc) có ngôi đình thờ Ông Nguyễn khá trang trọng, nhân dân thường đến đây hương khói. Những truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực mang màu sắc tín ngưỡng rất rõ. Như truyền thuyết Bà Lớn Tướng – Lê Kim Định, truyền thuyết đứa con và nãi chuối vàng, truyền thuyết về Cụ Nguyễn sa vào tay giặc và hồn của Cụ sau khi bị giặc hành hình … Nhiều gia đình ngoài bàn thờ tổ tiên, thờ giáo chủ và các vị thần, còn có bàn thờ Cụ Nguyễn, họ vẫn tin Cụ Nguyễn linh thiêng có thể độ trì cho họ trong cuộc mưu sinh.

- Truyền thuyết về tôn giáo: Trên đảo Phú Quốc có những truyền thuyết về các vị tu hành khá li kì. Có truyền thuyết hoàn toàn hư cấu (như chuyện kể nhà sư vân du để lại bài kệ trên vách đá ở một ngọn đồi nhỏ trên An Thới, tức sự tích Đá Chữ); có truyền thuyết thực mà như hư (truyền thuyết ông Đạo Đụng ở Hàm Ninh). Đáng chú ý hơn cả là truyền thuyết về Ngô Minh Chiêu (1878 – 1932), người được gọi là anh cả của đạo Cao Đài. Theo nhà nghiên cứu Trương Thanh Hùng: “Đầu thập niên 20 của thế kỷ 20, viên quận trưởng quận Phú Quốc, Đốc phủ sứ Ngô Minh Chiêu thường đến Dinh Cậu ngồi ngẫm sự đời, ông cũng thường xuyên đến chùa Quan Âm. Một hôm, ở Dinh Cậu, ông mơ màng thấy một con mắt thần bí. Con mắt ấy cứ thường xuất hiện mỗi khi ông đến đây. Ông cho rằng đó là hiện tượng thần tiên nên cầu nguyện nếu là duyên thì cho ông nhìn thấy tiên cảnh. Sau đó, ông mơ màng thấy cảnh bồng lai và được một vị tiên tự xưng là Cao Đài Tiên Ông dạy phải thờ thiên nhãn, truyền cho giáo lý để lập đạo Cao Đài. Cùng lúc ấy, nhiều viên chức trí thức cũng được Cao Đài Tiên Ông truyền đạo. Từ đó đạoCao Đài được khai sáng với 12 phái tiên thiên, Ngô Minh Chiêu được phong làm anh cả” Và chùa Quan Âm (Chùa Cao) trở thành nơi sáng một dòng Đạo tiêu biểu cho tính dung hợp trong nền văn hóa Việt Nam.

Truyền thuyết gắn liền với tín ngưỡng, gắn với văn hóa tâm linh. Trên hòn đảo này có nhiều lễ hội, đình chùa, miếu mạo thờ cúng những vị thần có công khai đảo và những anh hùng đã dược dân gian thần thánh hóa. Như cúng bà Kim Giao, bà Lớn Tướng, bà thứ phi Phi yến, cúng cá Ông, Bà Cậu, cúng cầu an ở đình thần Dương Đông, cúng Cô Sáu … Đặc biệt là cúng giỗ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại đình thờ Ông.

Hầu hết các địa danh du lịch trên đảo đều gắn bó với một vài truyền thuyết nào đó. Những giếng Ngự. Dinh Cậu, Đồng Bà, Chùa Cao, mũi Ông Đọi, Dinh Bà, mộ Bà Lớn Tướng, Ba Trại, Đá Chữ, chùa Sùng Hưng, chùa Ông Bổn, đình Nguyễn Trung trực, đình Dương Đông … đều mang nặng trong đó những giá trị văn hóa từ thưở khai sơn đảo đến nay. Đúng như câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Và ở đâu khắp ruộng đồng gò bãi / Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”. Thiết nghĩ không có gì lý thú hơn khi du khách đến những địa danh này được nghe những mẩu chuyện li kì về nó – cái mà người ta vẫn gọi là hồn thiêng sông núi: dân dã mà cao siêu, đời thường mà thoát tục. Được biết một số địa danh trên đã được đánh thức về diện mạo (có duy tu) nhưng về mãn văn hóa dân gian (phần hồn) thì hình như đang ngủ yên. Ngay cả hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp cũng chưa thông tỏ (thậm chí chưa nghe) nhiều truyền thuyết gắn bó những địa danh mà du khách cần tìm đến.

Về ca dao, dân ca: Do dân cư Phú Quốc được tụ họp từ nhiều nguồn, đến từ nhiều nơi nên kho tàng dân ca ở đây rất đa dạng về sắc điệu nhưng không pha tạp. Ngoài âm hưởng và hình thức diễn xướng đậm dấu ấn dân ca Nam Bộ (vọng cổ, cải lương, các điệu hò, điệu lí … ), dân ca Phú Quốc chịu ảnh hưởng của dân ca miền Trung hơn cả. Người ta nói trước đây dân đảo diễn tuồng. Ca bài chòi, hò hoan, hò mái nhì mái đẩy, hát ví, hát giặm … rất nhuyễn, không thua dân Trung Bộ. Không loại trừ thời xưa ở Phú Quốc có cả những hình thức biểu diễn cung đình nhưng vì một lí do nào đó mà không được phổ biến nên ngày nay bị mai một.

Nói đến Phú Quốc người ta nghĩ ngay đến hò thẻ mực: “Thẻ mực tuy cực mà vui / sáng đầy khênh mực cho vui vợ chồng”. Điệu hò thẻ mực vui nhộn, khỏe khoắn, thể hiện tính cộng đồng rất cao của ngư dân nơi biển cả. Ca dao trên đảo rất nhiều, trong đó đáng lưu ý hơn cả là những sáng tác gắn với địa danh, sản vật và con người nơi đây. Chẳng hạn: “Chi ngon bằng gỏi cá nhòng / Chi vui bằng được tin chồng vinh quy”.

 Mẫu đề địa danh – di tích, địa danh cảnh vật cũng thường xuất hiện trong ca dao nơi này: “Cửa dương có bãi cát vàng / Có nơi Dinh cậu, có nàng bồng con”, hoặc “Chim chuyền Bãi Bổn, Hàm Ninh / Chuyền qua Cửa Cạn, chuyền lên Rạch Tràm”. Có bài lại kết cấu theo dạng đối đáp, số tiếng, nhịp ngắt đổi linh hoạt na ná dân ca xứ Nghệ nhưng ngôn từ thì của dân bản địa: “- Thấy anh hay chữ văn chương / Em xin hỏi thiệt chợ Dương ai trồng” – “Em không thương anh – Em hỏi chuyện bao đồng, / Chợ Dương ông Thánh biểu dân trồng chứ  ai”.

Có một mảng ca dao mà chúng tôi cho rằng rất có thể do những chiến sĩ cách mạng trong nhà từ Mỹ - ngụy sáng tác. Thực chất đó là những thông điệp truyền miệng giữa những người bị giam cầm trong hai nhà tù lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ, họ muốn nhắn nhủ nhau giữ vững khí tiết và tinh thần chiến đấu: “Ngó ra Phú Quốc, ngó lại Côn Ôn, / Gió rao rao sóng bủa hết hồn / Bền gan sắt đá trừ phồn tà gian”.

 Ca dao dân ca cà các hình thức diễn xướng dân gian khác ở Phú Quốc rất dồi dào, nếu biết cách bảo tồn, khai thác thì chắc sẽ góp phần thu hút nhiều du khách, nhất là du khách chất lượng cao. Bởi họ đến dây không chỉ để ăn chơi thuần túy mà còn mong được được hưởng thụ những giá trị tinh thần mà nơi đây đem đến cho họ. Du lịch ở một số tỉnh khác đã làm từ lâu và tính hiệu quả thì quá rõ (ví dụ người ta đến Tây Nguyên để xem dân bản địa biểu diễn văn hóa của họ, tất nhiên là tính chuyên nghiệp của họ rất cao).

Tuy lịch sử mới trên dưới ba trăm năm nhưng tầng văn hóa của Phú Quốc không hề mỏng. Hiếm có nơi nào được thiên nhiên ưu đãi như Phú Quốc, đồng thời với tầng văn hóa như thế, hòn đảo này chắc chắn sẽ phát triển nhanh và bền vững. Hơn lúc nào hết, tư duy kinh tế hơn người, tầm văn hóa vượt ngưỡng cả chiều rộng lẫn chiều sâu của vị “tổng tư lệnh” ngành du lịch ở địa phương này có vai trò vô cùng quan trọng, nếu không muốn nói là gần như quyết định.

Du khách bốn phương đã và đang đến với Phú Quốc, không ngớt lời ngợi ca Phú Quốc. Chưa ai thống kê có bao nhiêu người làm thơ, soạn nhạc về Phú Quốc, nhưng chắc số lượng không ít. Tôi nhớ có du khách một lần đến với hòn đảo này đã ngất ngây cảnh sắc để rồi tuôn chảy những câu thơ dạt dào cảm xúc: “Ôi đẹp làm sao cảnh Suối Tranh! / Cây trùm bóng mát đá rêu xanh / Nhạc nền suối dạo chim ca hát / Kẽ lá nắng xuyên sương buông mành” (Tạ Đình Chiến). Và một em gái viết về Phú Quốc quê mình bằng tình cảm trắng trong, đầy trân trọng: “Xào xạc hàng dương hay nụ cười em trong gió / Biển ngọc quê em anh cứ ngỡ quê mình / Bãi cát vàng êm cho anh gửi lại chút tình / Biển xa xôi có hiểu lòng anh một nỗi” (Trịnh Kiều Trang).

Rồi sẽ có nhiều sáng tác hay hơn về Phú Quốc, nhất là khi hòn đảo thân yêu này trở thành trung tâm du lịch văn hóa đúng nghĩa./.

Cập nhật ( 22/08/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online