Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Du lịch Kiên Giang (Nguyễn Quốc Văn)
Du lịch Kiên Giang (Nguyễn Quốc Văn) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Quốc Văn   
02/09/2012

DU LỊCH KIÊN GIANG QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

* Nguyễn Quốc Văn

Khi cuộc sống vật chất con người được ổn định, nâng cao. Khi cái bụng no đủ thì cái chân cuồng, đòi đi; con mắt đói, đòi xem… Du lịch ở ta có muộn so với người ta nhưng nó đã và đang diễn ra như một nhu cầu tất yếu của loài người.

1. Du lịch nói chung ở ta có từ bao giờ? Tôi chưa có dịp đọc tài liệu nào nói về chuyện này. Riêng tại Kiên Giang xin nêu vài ý để cùng tham khảo. Cách nay ngót ba trăm năm nhà thơ, chủ soái Tao đàn Chiêu Anh Các, Mạc Thiên Tích đã chỉ cho ta thấy, riêng phần đất ven biển Tây Nam, từ Ba Hòn đến biên giới thuộc xã Mỹ Đức Hà Tiên, dài chừng 20 cây số, có đến 10 cảnh đẹp, ngài đã tạo dấu ấn đậm nét đó trong Hà Tiên Thập Vịnh. Theo tôi, chính đó là mười địa chỉ mà người nay mong muốn một lần tận mắt nhìn thấy.

Đầu thế kỷ 19 Người Pháp chiếm nốt lục Tỉnh Nam kỳ, đặt bộ máy cai trị toàn cõi Đông dương (gồm Việt – Miên – Lào) Cùng lúc xây dựng các trụ sở công quyền như dinh Tỉnh trưởng, nhà Việc, Tòa  án, Nhà tù, nhà Băng, Hải quan, Chợ… họ còn chọn điểm thích hợp để xây dựng nơi dã ngoại, nghỉ mát cho gia đình công chức người Pháp và Dân Tây (một tổ chức kiểu như Hội người bản xứ thân pháp). (Sau đó mô hình này cũng được Vua Quan Nhà Nguyễn làm theo) Xin điểm một số nơi nghỉ mát của người Pháp xây dựng mà tôi từng đến, như: Sa pa, Tam Đảo, Đồ Sơn, Cửa Lò, Qui Nhơn, Bà Nà, Nha Trang, Bạch Mã, Vũng Tàu, Đà Lạt… Và trong hệ thống đó, rất may, có cả Hòn Heo thuộc tỉnh Rạch Giá chúng ta xưa… Phải chăng, những sự kiện trên đã manh nha đặt nền móng cho nền “công nghiệp không khói”, cho cả nước nói chung và Kiên Giang nói riêng ngày nay?

Giữa đầu thế kỷ 20 Nhà thơ Đông Hồ - Lâm Tấn Phác cùng nữ sĩ Mộng Tuyết (người Hà Tiên) Đôi tình nhân này đi nhiều, Nhà thơ họ Lâm có một câu tổng kết và so sánh nổi tiếng” “Thiên nhiên Kiên Giang, Hà Tiên giống như một nước Việt Nam thu nhỏ”. Câu nói này ai “chịu đi” mới thấy đúng là hay! Đơn cử, những ai đã từng ra Huyện đảo Phú Quốc bằng thuyền từ bến Hà Tiên, hoặc tử Kiên Hải (hòn Tre) ra các xã đảo của hai huyện này, giữa vời mênh mông của quần đảo Bà Lụa, giữa hàng trăm hòn đảo, lớn nhỏ, cao thấp nhấp nhô, liền có ngay cảm giác mình đang đi vào Vinh hạ Long (dưới nước). Nếu dừng xe tại Ba Hòn (Kiên Lương) hướng tầm nhìn về phía dãy núi Mo So ta liền liên tưởng ngay đến Hạ Long (trên cạn) của tỉnh Ninh Bình!... Khi vào chùa hang, nơi có hòn Phu Tử ta liền có cảm giác mình đang lạc vào các động đá Hương tích…

Nhiểm “máu xê dịch” từ đời ông nội. Cuộc đời tôi, tổng cộng lại có 50 năm đi đó đi đây. Có nơi đến một lần không có dịp trở lại. Có nơi đi nhiều lần, trong đó có nơi ở hẵn cả thời tuổi trẻ như Hà Nội. 23 năm. Tôi lặn lội khắp miền Bắc. “…Sau 1975 nhất là mấy năm về hưu trí gần đây tôi còn đi nhiều hơn đến phần đất phương nam. Tôi đi gần kín hết 64 Tỉnh thành trên bản đồ Việt Nam bằng đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường không. Xâu chuổi lại những chuyến đi với nhau, thấy rất rõ bờ biển hình chữ S Việt Nam đúng như ai đó ví von đẹp như giải lụa màu thiên thanh. Hơn thế, từ Trà Cổ, Hạ Long, mũi Cà Mau vòng lên miệt thứ, Hà Tiên, tôi còn tắm biển ở bãi Cát vàng Bãi Kép, Koong pong xom, Biển Hồ (Cam-pu.Chia) bãi biển thơ mộng Pát-tay-a (thái lan). Trên đất liền, Tôi chọn Thái Lan bên ohe tư bản, Trung Quốc bên Xã hội chủ nghĩa coi người ta tổ chức cuộc sống ra sao? Thiên nhiên, cảnh vật đẹp bằng nào? Ngành Du lịch của họ phát triển tới đâu?... Có vài so sánh, nhưng điều khập khiểng. Chỉ biết tất cả họ đều rất giỏi. Họ đáng là bậc thầy, còn lâu ta mới đuổi Kịp.

Cuối thập niên 1980 rất nhiều lần, nhân các chuyến đi công tác, tôi ghé U Minh, Hòn Đất, Hà Tiên, Phú Quốc… bằng ghe biển và xe đạp cùng vài anh em. Ngồi dưới các tàng cây, gặm bánh mì, uống nước mưa đựng trong bi đông nhìn cảnh đẹp thiên nhiên chung quanh mà quên cả mệt mỏi. Chợt nhớ câu thơ Tố Hữu: “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!” Ai cũng hi vọng nơi đây, sau này, tất cả trở thành địa chỉ du lịch dành cho mọi người… Mười năm sau. Tôi lần lượt trở lại những nơi trên, lúc mà ngành du lịch Kiên Giang bắt đầu khởi động, làm tôi thất vọng ê chề! Người ta chặn ngang đường bắt mua vé vào chùa hang. Mua vé cũng phải thôi. Nhưng thật buồn, vào phía sau chùa hang nơi có hòn Phụ tử, phía trên bờ hàng quán lộn xộn, mái hiên, dù che, ghế ngồi ngỗn ngang, âm thanh ì xèo như cái chợ nhà quê. Những thân cây lâu năm, đặc trưng của biển, mọc hoang cho hình dáng ẻo lả tự nhiên, hiếm hoi, lạ mắt, người đi du lịch thường làm tiền cảnh để chụp ảnh, quay phim, cho họa sĩ vẽ, cho thi văn xúc cảm, bị người ta đốn sạch, để gọi là “giải phóng mặt bằng. Chia lô, cất chòi, cho mướn! Bãi trước, Bãi sau Mũi Nai đẹp là thế nếu có nghề, chỉ cần chỉnh sửa đôi chút là đã đẹp, Không! Những cái đầu “hai lúa” đã tàn hạ Mũi nai, đã “xi măng hóa” toàn bộ… bây giờ thì quan chức ngồi trên xe hơi có thể vi vu dọc theo bờ biển Mũi nai, qua mõm núi đèn, qua vùng lấn biển về lại tâm Thị xã. Khổ nổi, người ta cho vậy mới là hiện đại, mới là văn minh. Họ biết đau người thành phố rủ nhau đi du lịch là giành thời gian tránh xa ồn ào, tránh xa nhà lầu, xe cộ. Du lịch là tìm cách, xả bớt năng lượng. Leo núi, tắm biển, đi bộ, bơi sông… tự làm cho mình đói, theo đó là tìm món ngon vật lạ thưởng thúc…

Không biết có bi quan không, thử hỏi, bây giờ đi du lịch Kiên Giang xem gì? Có cái gì để đáng xem? Cái cần, cái đáng xem, ví như di tích lịch sử thì không có. Nếu có thì bị xuống cấp, bị hoang phế, hoặc bị lãng quên. Hang Mo So, một thắng cảnh, được mệnh danh là Hạ Long trên cạn. Nơi quân giới khu 9 sản xuất vũ khí đánh Pháp suốt thời kỳ 9 năm. Nơi đại hội đầu tiên thành lập Đảng cộng sản bạn Cam-pu-Chia. (Đại hội bầu Sơn ngọc Thành làm Tổng bí thư) Nơi tiếp nhận người và vũ khí từ hậu phương miền bắc chi viện cho chiến trường miền nam thời chống Mỹ. Đây là điểm cuối của con đường mòn 1C, đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trên bộ. giống như Lạng sơn, người ta nghiền hòn Vọng Phu ra làm xi măng; ở Kiên Giang người ta đã, đang cắt đôi dẫy Mo so, nghiền di tích lịch sử ra bột, đóng bao đem ra thị trường rao bán! Việc làm chụp giựt, ăn liền, gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều đời sau, của những người lãnh đạo tiền nhiệm địa phương, bị phản đối kịch liệt bởi những người hiểu biết, trong đó có các vị lão thành cách mạng, nhưng đáng tiếc, lời nói phải bị bỏ ngoài tai và, phản đối bị vô hiệu! Còn di tích Hòn Đất, Nhà tù Phú Quốc thì sao? Không níu kéo được khách du lịch, những ai có đến một lần đều thấy buồn không hẹn đến lần sau!

Người Pháp xây dựng thị xã Hà Tiên vào thập kỉ 30 thế kỷ trước. Qui mô nhỏ, làm nơi sinh hoạt cho chừng một vạn dân trong tỉnh vùng biên giới xa, đi lại khó khăn. Tuy nhiên nó cũng có đầy đủ trụ sở ban bệ như mô hình của một tỉnh đông dân khác. Quy hoạch cũ thị xã Hà Tiên còn nhận thấy được sau ngày nước nhà thống nhất. Nó hợp lý, thoáng, có cái duyên riêng, thành phố bên sông, trên bến, dưới thuyền…là đặc trưng của các thành phố miền sông nước Nam bộ. Hà Tiên hôm nay nếu không còn cái chợ nhà lồng cũ khó mà định hướng, khó mà nhận ra hình dáng của vùng đất từng được mệnh danh là xứ thơ. Phát triển, xây mới là việc phải làm khi thị xã phải đựng số dân gấp nhiều lần trước đây. Nhưng phát triển như thế nào, hướng phát triển từ đâu. Cái gì nên chừa, cái gì buộc phải phá. Nơi nào cho xây, nơi nào cấm không được vi phạm… Nói chung phải có quy hoạch. Tầm nhìn của quy hoạch không phải một nhiệm kỳ 5 năm, cũng không phải mười năm mà phải là trăm năm hoặc xa hơn thế. Nhưng than ơi! Nay đứng trên giữa cầu Tô Châu nhìn về trung tâm thị xã trông nó chật chội, rối rắm, chằng chịt như cái tổ ong. Dãy nhà cao tầng dọc bờ sông che hết tầm nhìn, chiếm hết nét thơ mộng của những đêm trăng soi xuống mặt hồ đông, che cả gió mát và sự thảnh thơi sảng khoái của du khách và người dân tại chỗ. Giá nhưc có phép lạ, dời tất cả ngôi nhà cao tầng kia về phía lấn biển, núi đèn, trả lại bến Cầu câu thì Hà Tiên đẹp biết bao nhiêu! Đã nói, thì nói luôn một thể. Ngôi nhà khách sạn trên đỉnh núi pháo đài, một trong những thắng cảnh, nằm trong thập vịnh Hà Tiên không nên có. Nó là hiện thân của chủ nghĩa cá nhân, mạnh ai nấy được. Ngôi nhà vô duyên đó giống như vết thẹo bị chém trên gương mặt một cô gái đẹp. Cũng như vậy, khu trụ cơ sở quan Đảng và chính quyền huyện Kiên Lương, sáng ngữ mất tầm nhìn, cụm nhà đó giống như bức tường che kín cái, đáng khoe…Trừ cái tâm xấu xa ra, ai cũng muốn quê hương mình đẹp. Nếu ăn sổi, ở thì liệu con cháu chúng ta thế kỷ sau thôi, bốc gì mà ăn đây! Trên đường từ cầu Tô Châu về Trung tâm người ta rất đổi ngạc nhiên thấy biểu trưng hình ba con chim hạc trong trống đồng bị “gô cổ” lại bằng một vòng tròn. Cỗng chào ra mũi nai, trên hai cây cột vuông to đùng có hai cái lỗ thò ra hai cái đầu như con giun đũa, người ta cho biết đó là “hai con rồng”! Cái cỗng chào tại biên giới giữa ta và nước bạn Cam-pu-chia. Nó chính là “cửa cái” vào nước mình. Trong khi cái cổng bên bạn làm công phu hoành tráng rất đặc trưng cho đất nước chùa tháp. Thì cái cổng phía bên ta làm quá vội vàng, sơ sài giống như chiếc xuồng ba lá nhỏ đặt lên chiếc xuồng ba lá to. Người ta hô, đó là kiến trúc hiện đại. Và ông chủ tịch Tỉnh (lúc đó) không tiếc lời ca ngợi trên đài phát thanh truyền hình địa phương rằng, “đây là công trình thế kỷ” (!) Nhà hàng Hải Âu tại đầu cấu kinh nhánh (cầu đúc) Mỗi lần đổi chủ là một lần đạp phá. Người ta xài tiền nhà nước như “tiền chùa”. (lạ cái, lần nào cũng được duyệt, được cấp kinh phí (?!) Theo tôi, nhà hàng Hải Âu (đang phá lần 3) còn phải đập phá lần nữa, bởi chỗ ấy là điểm xuất phát con đường đi dạo ven khu lấn biển tuyệt vời, lâu nay bị lấn chiếm… Đành chào thua những việc “đã rồi” nhắc thêm buồn, cũng không ai hơi đâu giải quyết…Chỉ còn cầu trời cho những chuyện tương tự như trên đừng tiếp tục xảy ra.

2. Hiện tại, Du lịch Kiên Giang, theo tôi, đang dẫm chân tại chỗ. Và dừng ở điểm “hái lượm”. Các tua du lịch đổ khách, thả rong họ xuống Thạch động, Đá dựng, Mũi nai Chùa hang, Phú Quốc… để cho khách “tùy nghi di tản” , hết giờ lên xe về khách sạn, ăn, và ngủ. Đáng lý ra người hướng dẫn du lịch đến điểm nào có phải nói cho khách biết, tại sao mình đến đây. Ở đây có gì cho ta quan tâm. Thí dụ: Thạch động Hà Tiên có đầy đủ dấu vết phù hợp hiếm có, trùng khớp với chuyện thần thoại Thạch Sanh. Ở đây có đường lên trời, có hang sâu yêu tinh dấu Công chúa. Trên vách đá từ xưa tự nó hiện lên những hình vẽ minh họa các cạnh ngẫu nhiên về Công chúa, mặt vua, mặt chằn, mặt tên Lý Thông cớp công, hại bạn… Theo đó kể luôn những chuyện ly kỳ đồn thổi trong dân gian quanh vùng đất Hà Tiên cổ, như chuyện người ta thả quả dừa xuống hang Thạch động, hôm sau thấy nó trôi ra biển. Hoặc chuyện Hòn kim dự ngày xưa (hồi chưa dính với đất liền) “nổi trên mặt nước”. Khi nước lớn nó trôi vào gần bờ. Nước ròng nó lại trôi ra xa. (nước lớn người ta bơi xuồng ra đảo, trên mặt nước đường thẳng. nước ròng người ta đi bộ từ bờ ra đảo qua đáy con rạch, nghĩa là đi trên đoạn đường cong, dài hơn)…

Tuy nhiên những năm qua du lịch Kiên Giang cũng đạt những thành tích nhất định.. So với các tỉnh bạn không nhiều, nhưng từng quí, từng tháng cũng có tiền nộp ngân sách.

Ưu điểm dễ nhận ra nhất là hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, quy mô của nó không thua kém các nước quanh khu vực. Đó là thỏa mãn mục tiêu “Tứ Khoái”. Tuy nhiên cái khoái thứ 3 vẫn còn tiếp tục nghiên cứu, bởi người ta cho rằng không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. (Việc tế nhị này thời thuộc Pháp người ta cho phép gái hành nghề, mục đích: kiểm soát bệnh xã hội, và thu thuế…) Việc đôi nam nữ vào nhà trọ, khách sạn nay đỡ bị hành, đòi Đăng ký kết hôn. Thật vô lý nhiều đôi vợ chồng đi du lịch quên mang theo giấy kết hôn buộc phải thuê hai phòng, ngủ riêng!

Trong tua du lịch Kiên Giang, nếu được chọn một vài điểm để khen không ngượng mồm. Tôi sẽ chọn tập thể mấy ông già không vụ lợi, giữ lăng Danh nhân Mạc Cửu, đứng đầu là nhà sử học Trương Minh Đạt. Tập thể người già này dùng cái tâm trong veo của mình bảo vệ, phục hồi, duy trì một di tích lịch sử hiếm hoi còn nguyên vẹn của quốc gia. Được như vậy: Các cụ hiểu việc mình làm và biết cách làm. Làm tới đâu đạt yêu cầu tới đó.

3. Giữa năm 2007 này Kiên Giang đón nhận tin mừng, Chánh phủ chính thức phê duyệt dự án nâng cấp Hà Tiên, Phú Quốc thành khu du lịch lên tầm cỡ quốc gia. Tôi rất ủng hộ và chia sẻ chủ trương đúng đắn này. Nhưng, vẫn còn lo, tuy tôi chả là thứ gì. Bởi là cán bộ hưu trí. Hơn nữa đây là quê hương mình, mình phải có trách nhiệm góp tiếng nói.

- Muốn dự án thành công như mong muốn, nên xem lại đội ngủ ngành Du lịch. Nếu không thay đổi nhân sự. Không thay đổi cách hiểu, cách nghĩ, cách làm, cộng cả máu nghề…khác gì bình cũ châm thêm rượu mới. Rót vốn vào một ngành đã từng làm ăn không hiệu quả, khác chi đổ vàng vào túi không khâu đáy! Nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11, xin nhắc lại câu nói của cụ Hồ “Một dân tộc Dốt là một dân tộc yếu” Tôi hiểu câu nói này của Cụ sâu xa hơn. Bề nổi của câu nói chỉ việc học chữ quốc ngữ. Còn nội hàm của câu nói Dốt không làm gì được gì.” Dốt cộng với hăng hái bằng phá hoại! (Phạm Văn Đồng) Việc đề bạt, bổ nhiệm cần đổi mới. Thời chiến cần người biết xông lên đối mặt với quân thù và biết bóp cò súng là đủ. Ngày nay lãnh đạo phải có tri thức, phải thông thạo tường tận nghề nghiệp của ngành mình quản lý.

- Phải đào tạo “tận răng” hoặc tuyển dụng những người được đào tạo kỷ lưỡng trong các chuyên ngành Du lịch. Họ phải được học chính qui dài hạn, học thực. Bằng cấp thực. (Từ người phục vụ phòng, người chạy bàn, người đầu bếp, người tiếp khách, cả đến người quét dọn vệ sinh đều phải qua đào tạo).

- Tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trẻ, đẹp, có nghề, có duyên, nói – nghe – dịch được nhiều ngoại ngữ. Trước mắt là tiếng Anh. Họ chính là bộ mặt của ngành. Sức hút trực tiếp của từng tua. Là cầu nối mời gọi khách đến lần sau…

- Tạo dựng lại lầu Chiêu Anh Các, khôi phục thập cảnh Hà Tiên thời Họ Mạc,.

- Ẩm thực? Nghiên cứu món bún ngãi “ca chơi” nâng thành thương hiệu, đặc sản Kiên Giang…

- Nghiên cứu, chế biến theo dây chuyền công nghiệp, nước uống từ cây thốt nốt.

- So với ta, các nước láng giềng, ông trời không ưu đãi cảnh đẹp thiên nhiên cho họ bằng ta. Thí dụ. Vườn bướm bên Thái Lan, nằm trên miếng đất bình thường, chẳng có gì nói là địa hình đặc biệt. Khách tham quan vào, trước tiên phải qua phòng trưng bày. Tại đây có hàng ngàn mẫu bướm ép khô, Từ loại bươm bướm Bà to bằng bàng tay người, cho đến loài bướm bé tẹo bằng đầu ngón tay út. Các loài bướm trên hành tinh đều có mặt tại đây. Trong đó có hàng trăm loài do các nhà côn trùng học nước sở tại sưu tầm. Đơn giản vậy, nhưng người ta biết cách làm, biết cách thu hút, khách du lịch nờm nợp vào mỗi ngày trung bình có đến hàng ngàn lượt người vào tham quan… Đẹp lắm Việt Nam mình, Kiên Giang mình! Nhưng trời cho ta núi quặng, chỉ còn cách đào nó lên, nấu thành vàng. Nếu không biết khai thác thì muôn đời nó chỉ là hòn quặng vô dụng. Phải tầm sư học đạo. Phải biết tôn trọng chuyên môn. Lãnh đạo địa phương không nên can thiệp quá sâu, hay thô bạo về những đề án hay mô hình của các kiến trúc sư, những người thiết kế ra nó. Họ biết phải làm gì sau khi nghiên cứu thực địa và mục đích sử dụng công trình.

- Hiện trạng vườn hoa, cây cảnh trong hệ thống khuôn viên du lịch tỉnh nhà vẫn trong tình trạng chấp vá, manh mún. Kinh phí đầu tư cho các công trình này không nhỏ. Vườn, cây cảnh các nước bạn, nó là cả ý thức hệ. Một quan điểm, một trường phái nghệ thuật. Rõ thấy nhất ở hai nước gần ta như Trung Quốc và Nhật Bản… đâu phải chuyện xây hộc đựng đất, trồng cây gọi là “vườn hoa”… Theo các nhà bảo tồn, bảo tàng, đồ vật nào trên trăm năm đều được gọi là đồ cổ. Nam bộ ta có Đà Lạt được mệnh danh Pa-Ri thu nhỏ. Kiến trúc, quy hoạch nơi đây người Pháp đã “Việt Nam hóa” cách nay hơn 100 năm. Kiểu nhà, khuôn viên dường, vườn, hoa, cảnh…đặc biệt là kiến trúc, Nhà tường dù là Trường phái Gô-tích-rốc hay Ra co co…đều có bóng dáng đường nét, kiến trúc dân tộc (Tây Nguyên) Đó là vốn của ta, ta cần nghiên cứu và phát triển theo hướng đó, Đâu cần bắt chước. (Bắt chước không bao giờ bằng cả)

- Hà Tiên, Phú Quốc là trọng điểm. Theo tôi, du lịch Kiên Giang cần nghiên cứu triển khai ít nhất là một mũi về hướng U Minh. Còn làm sao kéo khách về đó thì là việc của ngành Du lịch. Những người mua vé đến U Minh, trong họ đã có sẵn cảm tình với miền đất này. Giờ tổ chức cho họ mướn xuồng vỏ gòn đi câu cá, đặt trúm (bắt lươn)… Cho họ mướn xuồng hai chèo, mui rèm, riêng hai ngừi nam nữ tự duy chuyển trong rừng. Những chiếc ghe đò chở nhiều người vào những điểm xưa là nền lán trại bộ đội. Tổ chức những bữa ăn của những người chiến sĩ từng ăn như các loại rau sẵn có của U Minh như: đọt choại, đọt dớn, cải trời, rau đắng, rau bợ, rau mác…các loại rau sống chấm cá, mắm kho như: Đọt choại, đọt xộp, hẹ nước, lá lụa, lá me, lá cóc, dọt cơm nguội, cù nèo… Cùng với vô số cá nước ngọt U Minh…Đêm đốt lửa ngồi quanh nhau nhắc chuyện hai thời đánh giặc, bổ ích và lý thú lắm chứ! Không lẽ vùng đất căn cứ của hai cuộc kháng chiến thần thánh, nơi nhà sản sinh ra hàng chục anh hùng, hàng trăm trận thắng, vô lẽ lo làm giàu dân quên, lãnh đạo cũng quên theo!?

Cập nhật ( 02/09/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online