Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Nghệ sĩ Bảy Cao (Trần Phước Thuận)
Nghệ sĩ Bảy Cao (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
19/09/2012

nullNghệ sĩ BẢY CAO - Người đầu tiên ghép phim ảnh vào kịch bản cải lương

* Trần Phước Thuận

Tên thật của ông là Lê Văn Cao, nghệ danh Bảy Cao, người sáng lập đoàn Hậu Tấn Bảy Cao và đoàn Hoa Sen, là một nghệ sĩ nổi tiếng cùng thời với Lư Hòa Nghĩa. Ông sinh năm Bính Thìn (1916) tại làng Vĩnh Lợi tổng Thạnh Hòa tỉnh Bạc Liêu. Cha ông là một thợ mả nổi tiếng thời đó, sản phẩm của cha ông làm rất khéo, khách hàng rất đông, nên được nhiều người theo học. Một số học trò của Nhạc Khị, cũng là những nghệ nhân nổi danh lúc bấy giờ như: Bảy Kiên, Sáu Lầu, Chín Cang, Ký Tấn, Tư Thoàng, Chín Qui... cũng đều là học trò của cha ông.

 

Có những lúc người ta đặt hàng nhiều, làm ngày không kịp phải làm đêm, những lúc như thế thì trong nhà ông có đủ mặt học trò để phụ tiếp làm “đồ mả” cho kịp ngày giao cho các thân chủ. Họ làm thâu đêm suốt sáng, vừa làm vừa nói chuyện Đông chuyên Tây rất vui vẻ. Bảy Cao là người có khiếu về cổ nhạc, ông biết ca rất sớm, chì nghe ai đó ca một lần là ông ca lại được ngay, nổi tiếng là một thần đồng lúc bấy giờ, năm lên bảy tuổi đã biết ca các bản : Hành vân, Bình bán, Khổng Minh tọa lầu... cả đến bản dài như Tứ đại oán, ông cũng ca được. Nhưng nghề nào cũng vậy “không thầy đố mầy làm nên” cho nên “cậu Bảy thần đồng này mặc dù biết ca nhiều bản, nhưng chỉ ca nghêu ngao chơi thôi, chứ ca với đờn vẫn chưa được. Vào một đêm, trong khi mọi người đang tập trung làm cho xong những “căn nhà bằng giấy” để sang mai kịp giao cho khách hàng thỉ Bảy Cao lại cất tiếng ca bài Tứ đại oán, giọng ca của ông vang lên giữa đêm trường nghe vô cùng thanh thoát. Lúc đó ông Sáu Lầu xoay người lại nói “Thầy Chín ơi, thầy nói với anh Bảy Kiên dạy nhịp cho thằng Cao đi, giọng ca của nó hay lắm, chắc là sau này nó sẽ thành danh.

 

Bắt đầu từ đó, cứ lúc nào rãnh thì Bảy Kiên dạy cho “Tiểu thần đồng”, ông học rất mau, học đâu biết đó, Bảy Kiên rất hài lòng với người em nhỏ này. Hết học ca với Bảy Kiên, ông lại tiếp tục học đờn với Cai Đệ và Sáu Lầu. Sau này Bảy Cao thường tâm sự với bạn bè và những người đồng nghiệp “Tôi rất mang ơn Sáu Lầu, chính câu nói của ông đã nói với cha tôi mấy mươi năm về trước đã mở đầu cho cuộc đời nghệ sĩ của tôi.

 

Năm 1941, do sự giới thiệu của Năm Nghĩa, Bảy Cao cùng với người bạn thân là Chín Qui (học trò của cha ông) đầu quân vào đoàn Phước Cương. Ông phục vụ một thời gian lại về đoàn Hề Lập. Đến năm 1944, Bảy Cao được ông bầu Phạm Minh Tấn mời về cộng tác cho đòan Hậu Tấn. Nhưng đòan Hậu Tấn hoạt động chỉ đến cuối năm 1945 thì bị giải thể (không rõ vì nguyên nhân gì). Ông Phạm Minh Tấn chia đoàn ra làm hai và giao cho Bảy Cao và Năm Nghĩa mỗi người một nửa. Năm đó là năm ra đời của hai đoàn Hậu Tấn Bảy Cao và Hậu Tấn Năm Nghĩa. Hai nghệ sĩ Bạc Liêu này bắt đầu sự nghiệp “gánh vác sân khấu” của mình, hai người cũng mở màn bằng hai kịch bản của Mộng Vân, riêng Bảy Cao đã khai trương với vở Cô gái Quảng Trị đã được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Dần dần theo sở thích của người xem, ông đã phát huy triệt để những vở kiếm hiệp, những vở mới thuộc loại hương xa của soạn giả Mông Vân. Ông luôn xem Mộng Vân là thầy, các kịch bản do ông sáng tác đa số đều ảnh hưởng bởi Mộng Vân vì chính các vở Lưỡng Long đại hiệp, Hồng châu hiệp nữ Đề Thám ... của Mộng Vân đã làm cho Bảy Cao nổi tiếng.

 

Nhưng ông cũng luôn tìm cái mới trong nghệ thuật để phục vụ khán giả, bằng khả năng sáng tạo của mình, ông đã làm một việc vô cùng lạ mắt, đó là việc đem phim ảnh của phương Tây để hòa nhập vào các kịch bản Cải lương để tạo ra một sắc thái thật mới mẻ, có sức thu hút người xem rất mạnh. Việc phối hợp này là một trong những đặc điểm sáng tác của ông. Tuy nhiên hoàn cảnh của ông cũng giống như Năm Nghĩa, vừa phải phụ trách vai diễn vừa điều hành đoàn hát nên không có thì giờ biên soạn kịch bản, vì vậy số lượng kịch bản của ông cũng không được nhiều, nhưng đều là những vở nổi tiếng lúc bấy giờ: Đoàn chim sắt, Mộng hòa bình, Nợ núi sông, Đêm lạnh trong tù, Tình trên đảo tuyết, Sanh dưỡng đạo đồng, Người mẹ Việt Nam. Các vở này đều đã có diễn ở Bạc Liêu nhiều lần, những người lớn tuổi đa số đều biết, nhất là các vở Đoàn chim sắt, Mộng hòa bình, Nợ núi sông có kết hợp với phim ảnh phương Tây tạo sự lạ mắt, hấp dẫn người xem nên các đêm diễn thường rất đông khách.

 

Đòan Hậu Tấn Bảy Cao sau đó đổi tên là Hoa Sen, một thời gian lại mang tên Hồng Long, ít lâu lại đổi tên Thanh Cần, nhưng chỉ hai năm sau đổi lại là Hoa Sen lần nữa. Đến năm 1971, đoàn Hoa Sen ngưng hoạt động, Bảy Cao sang làm trợ lý cho đoàn Út Bạch Lan tiếp theo là một số đoàn khác. Sau năm 1975, ông về làm soạn giả kiêm đạo diễn cho đoàn Lúa Vàng. Ông đã qua đời năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh, được an táng ở phía sau chùa Nghệ Sĩ tại Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Bảy Cao không những là một diễn viên giỏi, một tác giả hay, một ngưỡi lãnh đạo đoàn hát khéo léo, ông còn có những đóng góp rất quí báu trong các buổi Hội thảo khoa học có liên quan đến cổ nhạc và cải lương. Trong cuộc Hội thảo  Cao Văn Lầu nhân 70 năm ra đời bản Dã cổ hoài lang, ngày 25 tháng 4 năm 1989 do UBND tỉnh Minh Hải tổ chức tại thị xã Bạc Liêu, Bảy Cao đã cung cấp một chi tiết rất quan trọng đã xãy ra vào năm 1920, đó là thời điểm và chi tiết khởi đầu về việc canh tân, thay đổi câu chữ trong bài Dạ cổ hoài lang, ông Bảy Cao đã nói như sau : “Cuối câu năm theo nguyên bản của ông Cao Văn Lầu là hai chữ  tin chàng đã được ông Ký Tấn sửa lại là tin bạn. Đó chính là cái mốc mở đầu cho sự biến hóa thay đổi lời ca đã làm cho bản Dạ cổ hoài lang thay hình đổi dạng như ngày hôm nay. Tiếp theo trong bài tham luận tại Hội thảo về Hiện tượng Mộng Vân do Trung tâm nghiên cứu cải lương Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 29 tháng 3 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bảy Cao đã xác định Mộng Vân đã sáng tác trên 30 bản vắn để gát đầu vô Vọng cổ, đồng thời đã nêu ra tên gọi của những bản này như : Quý phi túy tửu, Sơn Đông hướng mã, Kiều nương, Bá hoa, Giang Tô điểu ngữ, Phong nguyệt, Tấn phong, Tân  xái  phỉ   Sương chiều... Ông còn xác nhận đây là một sáng tạo rất độc đáo của Mộng Vân làm tăng thêm giá trị của bản Vọng cổ.

 

Bảy Cao là một trong những người mở đầu cho sân khấu cải lương tỉnh Bạc Liêu, là một nghệ sĩ tên tuổi ở Việt Nam, ông có nhiều kinh nghiệm sân khấu và có óc sáng tạo rất phong phú, ông đã thành công trong nghệ thuật ghép phim ảnh phương Tây vào sân khấu cải lương Nam Bộ, loại hình nghệ thuật hỗn hợp mới lạ này đã gây thích thú cho rất nhiều khán giả. Ông đúng là một nghệ sĩ tiêu biểu cho sự nghiệp kế thừa và phát huy nghệ thuật Cải lương.

Cập nhật ( 19/09/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !