Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Di sản Chiêu Anh các (Trương Thanh Hùng)
Di sản Chiêu Anh các (Trương Thanh Hùng) PDF In E-mail
Người viết: Trương Thanh Hùng   
19/09/2012

DI SẢN TAO ĐÀN CHIÊU ANH CÁC TRÊN ĐẤT HÀ TIÊN

* Trương Thanh Hùng

Kiên Giang ngày nay, trấn Hà Tiên xưa tự hào rằng nơi đây là cái nôi của văn học miền Nam với sự xuất hiện của tao đàn Chiêu Anh Các cách đây 176 năm. Có thể nói rằng tao đàn Chiêu Anh Các rất độc đáo vì nó chỉ xuất hiện sau tao đàn Hồng Đức của Lê Thánh Tôn, nhưng quy mô lại lớn hơn, số người tham gia đông hơn, tập hợp tao nhân mặc khách của trấn Hà Tiên, trong nước ta và cả ở Trung Hoa; tác phẩm của tao đàn có cả chữ Hán và chữ Nôm

Trong khi di sản mà tao đàn Chiếu Anh Các để lại, tập  An Nam Hà Tiên thập vịnh là một tác phẩm khá đồ sộ với 320 bài thơ đường luật ca ngợi mười cảnh đẹp  của Hà Tiên, ca ngợi thiên nhiên, khu vực trấn lỵ Hà Tiên, mà hơn nữa là ẩn trong đó cái tinh thần quyết bảo vệ vùng đất biên cương của nước Đại Việt. Mười bài thơ xướng, 321 bài thơ họa (sau này, Nguyễn Cư Trinh có thêm 10 bài nữa, tổng cộng là 320 bài thơ họa) là một hiện tượng gần như độc nhất trong lịch sử văn học nước ta, từ xưa đến nay chưa từng thấy. Bên cạnh đó là một phần còn xót lại của tập Minh Bột di ngư, những bìa khúc vịnh viết theo thể lục bát gián thất và 10 bài thơ Đường luật bằng chữ Nôm còn truyền lại cho đến hôm nay. Ngoài ra còn có một số  bài thơ bằng chữ Nôm, trên mỗi bài thơ đều có ghi là nguyên tác của Mạc Thiên Tích.

Một cảnh mà có 33 bài thơ ca ngợi thì thật là hiếm thấy trong lịch sử văn học (Riêng cnahr Lư Minh bột di ngư), càng hiếm thấy hơn khi đó lại là những bài thơ Đường theo học cùng một bài xướng. Điều đó cho chúng ta thấy ảnh hưởng của tao đàn rộng lớn đến chừng nào và tài đức của vị chủ soái, vị tướng, nhà thơ Mạc Thiên Tích đã làm nhân sĩ bốn phương cảm phục đến chừng nào mà cùng về xướng họa.

Đọc An Nam Hà Tiên thập vịnh Thụ Đức hiên tứ cảnh hồi văn, ta có thể nhận thấy ngoài một số nhân sĩ trong nước còn có rất nhiều văn nhân từ Trung Hoa dã vượt biển về đến Hà Tiên để thưởng ngoạn và cùng họa vận với Mạc Thiên Thích, bên cạnh đó cũng có những người chỉ nghe tiếng, mến đức mà họa thơ ca Hà Tiên. Nhưng cho dù có mặt tại hà Tiên hay không thì tất cả những bài thơ ấy đều nói lên được cái tinh thần mà Mạc Thiên Tích gởi gắm trong đó mà khẳng định Hà Tiên là một vùng đất biên cương trù phú của tổ quốc Việt Nam, được quân dân Hà Tiên  quyết tâm bảo vệ, gìn giữ và xây dựng thành một vùng đất yên bình, no ấm và giàu chất văn hóa. Những cái tên: Kim Dự lan đào, Nam phố trừng ba, Bình san điệp thúy, Giang Thành dạ cổ đã nói lên rằng  Hà Tiên sẵn sàng canh giữ và trừng trị bất cứ thế lực nào dám xâm phạm quê hương mình. Nội dung của những bài thơ xướng cũng như họa cũng đều phụ thêm nét mạnh mẽ, kiêu hùng của phong cảnh và tinh thần bất khuất của người dân Hà Tiên. Bên cạnh đó là những cảnh thanh bình, an lạc và no ấm như: Lộc trĩ thôn cư, Lư Khê ngư bạc. Những cảnh đẹp thiên nhiên như: Thạch Động thôn vân, châu Nham lạc lộ. Đời sống tinh thần phong phú như: Đông Hồ ấn nguyệt. Lồng trong tất cả các bài thơ ấy là lòng trung thành của con dân nước Việt, những người canh giữ biển trời chốn biên ải xa xăm đối với triều đình Đại Việt.

Các nhà thơ, nhất là các nhà thơ Trung Hoa còn dám công nhiên ánh sánh vùng đất Hà Tiên với những thắng cảnh nổi tiếng của Trung Hoa, coi Hà Tiên như cảnh trời Trâu, đất Lỗ.

Về nhôn ngữ thơ ca và hình tượng văn học thì chúng ta thấy có nhiều chỗ như lặp lại. Điều  đó không có gì ngạc nhiên vì chỉ một cảnh, một sự kiện mà phải nhắc lại đến trên 30 lần thì làm sao tránh khỏi đôi lần trùng ý, trùng lời. Nhưng ở đây, các thi nhân không phải có điều kiện cùng ngồi lại với nhau trong một thời gian và không gian nhất định, mỗi người một phương, có người có điều kiện thăm thú từng cảnh đẹp, nhưng không ít người chỉ được nghe tiếng mà khi làn thơ thì lại có những ý tứ rất gần nhau. Có phải chăng chính những tên chữ mà Mạc Thiên Tích  đặt ra cho từng cảnh đẹp đã làm cho tất cả các văn nhân, thi sĩ đều quy về mọt mối, quy về trong ý tưởng sáng tạo như tinh thần Chiêu Anh.

Tao đàn Chiêu Anh Các chỉ thật sự tồn tại trong vòng vài chục năm, kể từ năm Bính thìn (1836) đến khi Hà Tiên lâm vào cảnh loạn lạc, Mạc Thiên Tích phải bỏ thành mà về Trấn Giang Chiêu Anh Các đã làm cho Hà Tiên được các nơi biết đến như một xứ sở văn hiến, đồng thời tạo ra một cái nền vững chắc cho nền văn học hà Tiên, Văn học miền Nam vào thế kỷ XVIII.

Nghiên cứu về lịch sử Hà Tiên xưa thì có khá nhiều người thực hiện, nhưng nghiên cứu về tao đàn Chiêu Anh Các thì quả thật là hiêm hoi. Có thể nói rằng nhiều người chỉ tìm về Chiêu Anh Các qua các tác phẩm của Lê Quý Đôn và Trịnh Hoài Dức. ĐẶc Biệt Đông Hồ Lâm Tấn Phác có xem thêm các tác phẩm còn ghi lại trên tường của lăng Mạc Cửu, Nam hành ký đắc tập của Phạm Nguyễn Du và 10 bài vịnh thập cảnh Hà Tiên được truyền tụng trong dân gian của Hà Tiên và được mộ Tần La Thành Đầm tiên sinh cho xuất bản 1907 mà viết thành tập  Văn học Hà Tiên. Gần đây,  nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh có sưu tầm thêm một số bài thơ trong tập Minh Bột di ngư  và đã công bố. Có lẽ trên đất nước ta hiện nay, người đã đọc hết 320 bài thơ trong tập An Nam Hà Tiên thập vịnh chỉ có nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh và một số rất ít nhà nghiên cứu khác mà thôi. Còn dịch thơ văn Chiêu Anh Các thì nhà nghiên cứu Trần Phình Chu đã dịch gần 60 bài thơ Đường luật đăng tải trên tạp chí Chiêu Anh Các  của Hội Văn nghệ Kiên Giang từ năm 1998 đến nay, trong đó có một số bài theo thể hồi văn rất khó dịch.

Di sản thơ văn Chiêu Anh Các được đánh giá là đồ sộ rất có giá trị về mặt văn chương cũng như góp phần để hiểu thêm về văn hóa, lịch sử của đất Hà Tiên xưa, nhưng một phần lớn văn thơ ấy lại viết bằng chữ Hán mà thời buổi bây giờ không phải ai cũng đọc và hiểu được, như vậy giá trị của Chiêu Anh Các có còn bền vững cho đến hôm nay không? Trách nhiệm của thế hệ hiện tại cần làm gì để giữ gìn và phát huy gá trị của di sản mà tiền nhân đã để lại? Đó là hai câu hỏi không phải dễ trả lời.

Theo chúng tôi, gia tài mà Chiêu Anh Các  để lại, chúng ta nhất thiết phải gìn giữ và phát huy. Để gìn giữ giá trị Chiêu Anh Các, không phải chỉ mỗi năm một lần tổ chức kỷ niệm (cho dù là kỷ niệm rất chu đáo), mà cần làm cho thế hệ hôm nay và mãi mãi sau này có thể đọc, thưởng thức và khám phá như một bảo vật của tiền nhân để lại. muốn như thế, chúng ta phải làm cho người đời nay đọc được toàn bộ thơ văn Chiêu Anh Các  có thể sưu tầm được. Nhưng chúng ta không thể buộc mọi người phải biết chữ Hán. Do đó, nhất thiết chúng ta cần phải sưu tầm, phiên âm và dịch tất cả thơ văn Chiêu Anh Các và xuất bản để đông đảo người yêu văn chương có thể tiếp cận được. Từ việc tiếp cận đó, người thưởng thức có thể tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa của từng bài thơ, từng câu thơ và sống lại vứi người xưa. Chúng ta cũng không loại trừ người dịch ban đầu còn đơn giản hoặc không hay không diễn đạt hết ý nghĩa, thậm chí còn có thể dịch sai ý tác giả, nhưng dù sao thì cũng có điều kiện cho người sau tiếp cận.

Người Hà Tiên, Kiên Giang tự hào đã có một Chiêu Anh Các tiếng tăm lừng lẫy một thời. Còn hiện nay thơ văn Chiêu Anh Các đã trở thành di sản quý giá, di sản ấy không phải chỉ để chiêm ngưỡng như là một thắng cảnh, một di tích, mà giá trị của nó chính là ở bản thân thơ văn, ở giá trị nghệ thuật của từng bài thơ, bài phú, ở từng câu thơ và ở chung của ý tứ nằm trong những bài thơ, phú ấy. Nếu chúng ta đã từng thưởng thức bài Phong kiều dạ bạc hay Hoàng hạc lâu… cà cảm nhận được hết cái giá trị văn chương của nó, thì thơ văn Chiêu Anh Các  cũng vậy, những bài  Giang Thành dạ cổ hay Thạch Đồng thôn vân… cũng hết sức đáng để cho chúng ta chiêm ngưỡng về giá trị văn chương.

Xin được dẫn bài Thạch Động thôn vân của Trịnh Liên Sơn như sau:

Kỳ phong bất tín hạ năng đa

Ái đãi bình không kết nhất oa

Hô hấp đáo thiên thông đế tọa

Vãn lai tùy địa luyến nham a

Thôn tàng thiên địa tinh hoa khí

Tịnh xuất bồng lai ngũ sắc ca

Vạn lý phi quy trình cẩm tú

Tùng long tiêu tức hựu như hà

Tạm dịch:

Ngọn lạ chẳng tin đẹp thế này

Mịt mù trống lỗng kết nồi mây

Hút phun đến chốn trời cao ngự

Qua lại tùy nơi mến đá cây

Nuốt hết đất trời tinh khí tốt

Nhả ra năm sắc ấy bồng lai

Bay về gấm vóc từ ngàn dặm

Tin tức theo rồng phải chón đây

Ngoài những bài thơ chữ Hán, Chiêu Anh Các còn có 10 khúc vịnh 10 cảnh đẹp của hà Tiên bằng chữ Nôm viết theo thể song thất lục bát, cuối mỗi thể xong thất lục bát, cuối mỗi khúc vịnh có một bài thơ Đường luật bằng chữ Nôm đã được phiên âm phổ biến. những bài vịnh và thơ Nôm này không thể nói là không hay, cho dù nó có hơi lạ đối với một số nhà thơ trẻ bây giờ.

Điều đáng nói ở đây là thơ văn Chiêu Anh Các không chỉ thể hiện cái tình của nhà thơ như những nhà thơ đời Đương – Tống hay rất nhiều bài thơ Đường luật khác, mà lại còn lồng trong đó tình yêu quê hương Hà Tiên thêm yêu tổ quốc, làm cho những người đọc các nơi càng thêm yêu Hà Tiên mà tìm đến thưởng ngoạn.

Chúng ta thử đọc một bài thơ của Mạc Thiên Tích được chép trong quyển gia phả họ mạc bằng chữ Nôm do nhà nho Dưỡng Hối - Trần Đình Quang viết để thấy tinh thần trên:

Giang thành dạ cổ

Nhật hạ tây lầu nguyệt chính thanh

Phong truyền cổ giác chấn giang thành

Điền lưu thạch lũy xung kình nộ

Dạ nhập quan trung khắc lậu thanh

Nghi võng du ngư tâm bất định

Kinh tôi lúc điểu mộng nan thành

Kinh thu phong hỏa đình biên tức

Bảo chướng quần lê tọa thái bình

Tạm dịch:

Trời xuống lầu tây trăng sáng rõ

Gió đưa tiếng trống động Giang Thành

Lấp đầy lũy đá còn vang vọng

Đêm đến trong thành vẳng trống canh

Ngờ lưới cá bơi tâm chẳng định

Sấm rền chim ngủ mộng không thành

Thu qua khói lửa đâu còn nữa

Giữ vững muôn dân hưởng thái bình.

Có thể nói không sai rằng, quê hương ta nơi nào cũng đẹp, nhưng để chỉ ra rằng Hà Tiên có 10 cảnh đẹp tiêu biểu thì mới thấy rằng Chiêu Anh Các, mà đặc biệt là Mạc Thiên Tích, người chủ soái tuyệt vời của tao đàn này tuyệt vời đến chừng nào. Chính Chiêu Anh Các làm cho Hà Tiên thêm đẹp, thêm xinh, làm cho bạn bè các nơi biết đến, không chỉ để ca ngợi mà còn góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một vùng đất xã xôi này. Đó chính là giá trị vật chất của Chiêu Anh Các  còn lại để cho thế hệ hôm nay mà chúng ta cần phải gìn giữ và phát huy.

Cập nhật ( 19/09/2012 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online