Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Nhận thức mới về Phật giáo của Hải Lượng thiền sư (ThS Trần Hoàng Hùng)
Nhận thức mới về Phật giáo của Hải Lượng thiền sư (ThS Trần Hoàng Hùng) PDF In E-mail
Người viết: ThS Trần Hoàng Hùng   
19/09/2012

Nhận thức mới về Phật giáo của Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm qua Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh

* Ths. Trần Hoàng Hùng (Thích Hạnh Tuệ)      

            1. Phật giáo Đại Việt đời Trần với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một Phật giáo nhất tông, mang đậm bản sắc Việt, chủ trương nhập thế, tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo, có sự dung hợp và Việt hóa ba hệ tư tưởng Phật – Nho – Lão.

            Tinh thần dung hợp và Việt hóa ấy của Thiền phái Trúc Lâm, đến cuối thế kỷ XVIII đã được danh nhân Ngô Thì Nhậm và các đạo hữu xiển dương trong tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Về tác phẩm này, trước đây các nhà nghiên cứu có tìm hiểu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Ở đây, bài viết này xin được góp thêm một tiếng nói bằng cách luận giải để làm sáng rõ nhận thức mới của Ngô Thì Nhậm về Phật giáo trong trước tác trên.

2. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được Ngô Thì Nhậm và đạo hữu hoàn thành tại Trúc Lâm thiền viện, thuộc phường Bích Câu, kinh đô Thăng Long vào năm 1896. Đây là một tác phẩm thuộc thể loại luận thuyết triết lý tôn giáo. Về nhan đề tác phẩm, bên cạnh nhan đề Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là tên gọi chính thức, thì tác phẩm này có khi được gọi là Đại chân Viên giác thanh, bởi gọi theo phần chính văn của tác phẩm, hay các tên khác: Nhị thập tứ thanh, Nhị thập tứ chương kinh, Kinh Viên giác.

            Về diện mạo kết cấu và các tác giả của tác phẩm thì Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh có cấu trúc hơi lạ, bởi ngoài bài tựa mang tên Trúc Lâm đại chân viên giác thanh tự do Bảo Chân đạo nhân Phan Huy Ích (em rễ của Ngô Thì Nhậm) viết, thì nội dung gồm các phần Thanh dẫn, Chính văn, Thanh chú và Thanh tiểu khấu. Thanh dẫn là phần dẫn dắt giới thiệu chung, do Hải Huyền tăng Ngô Thì Hoàng (em trai của Ngô Thì Nhậm) viết. Chính văn là phần chính gồm 24 thanh, có tên Đại chân Viên giác thanh, mang tư tưởng cốt lõi của tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, do Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm viết. Thanh chú là phần chú thích, giảng giải các thanh do Hải Âu hoà thượng Vũ Trinh và Hải Hoà tăng Nguyễn Đăng Sở viết (hai vị này là bạn của Ngô Thì Nhậm). Thanh tiểu khấu là phần tóm tắt yếu chỉ của các thanh, do Hải Điền tăng Nguyễn Đàm viết (ông này gọi thi hào Nguyễn Du là chú ruột). Phần sau tác phẩm còn có Nhị thập tứ thanh phối khí ứng sơn chi đồ (Biểu đồ 24 thanh phối với các tiết trong năm), Tướng thanh nhị thập tứ bồ tát (Bộ mặt, bản chất của 24 thanh). Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh tông (Đầu mối, điều kiện làm nên Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh), và Tam tổ hành trạng (Hành trạng của ba vị tổ Thiền phái Trúc Lâm). Có lẽ, do Ngô thì Nhậm viết phần Chính văn để xiển dương tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm nên ông được đệ tử và đạo hữu tôn vinh là đệ tứ tổ của thiền phái Trúc Lâm.

Qua pháp hiệu của các tác giả, có thể thấy, các vị trên đều xuất thân là nhà Nho chính thống, có nghiên cứu và hành trì về Thiền, có tu tập theo Đạo, như vậy, họ vừa là Nho sĩ, vừa là Thiền sư và Đạo sĩ, tức có sự dung hợp cả ba hệ tưởng trong một tác phẩm.

Hải Lượng Ngô Thì Nhậm, có tên là Phó, tự Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, sinh ngày ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (tức ngày 25 tháng 10 năm 1746), mất năm 1803, người xã Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội) trong một “thế gia vọng tộc” có truyền thống đạo đức, khoa bảng, văn võ song toàn. Đặc biệt, nhờ được sự giáo huấn nghiêm minh của thân phụ là Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780), một nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị, tư tưởng gia nổi tiếng thời Lê trung hưng nên Ngô Thì Nhậm sớm đã mang trong mình trách nhiệm nặng nề của dòng họ Ngô Thì và một hoài bão kinh bang tế thế. Vấn đề này thể hiện rõ trong tên húy, tên tự của ông. “Thì Nhậm” có nghĩa là “gánh vác đúng lúc”; “Hy Doãn” là “mong ước được như Y Doãn của nhà Thương”.

Pháp danh của Ngô Thì Nhậm là Hải Lượng. Căn cứ vào pháp danh, có thể truy tìm dòng Thiền mà người đó tu tập. Theo truyền thống của nhà Phật, pháp danh của đệ tử là do sư phụ dựa theo bài kệ truyền pháp của tổ sư mà đặt cho. Chữ “Hải” trong pháp danh của ông, chúng ta có thể nhận ra ông là đệ tử truyền thừa của một trong ba dòng kệ sau:

a. Một là dòng kệ của thiền sư Minh Hành Tại Tại (1596 – 1659), vị này là đệ tử của thiền sư Viên Văn Chiết Chiết:

Minh chân như tính hải / Kim tường phổ chiếu thông / Chí đạo thành chính quả / Giác ngộ chứng chân không.” [1]

b. Hai là dòng kệ của thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 – 1742):

Thiệt tế đại đạo / Tính hải thanh trừng / Tâm nguyên quảng nhuận / Đức bổn từ phong / Giới định phúc tuệ / Thể dụng viên thông / Vĩnh siêu trí quả / Một khế thành công / Truyền trì diệu lý / Diễn xướng chính tông / Hành giải tương ứng / Đạt ngộ chân không.” [2]

c. Ba là dòng kệ của thiền sư Trí Bản Đột Không:

Trí huệ thanh tịnh / Đạo đức viên minh / Chân như tính hải / Tịch chiếu phổ thông / Tâm nguyên quảng nhuận / Bản giác xương long / Năng nhân thánh quả / Thường diễn khoan hằng / Tính truyền pháp ấn / Chứng ngộ hội dung / Truyền trì giới định / Vĩnh kế tổ tông.” [3]

Như vậy chắc chắn là bổn sư truyền pháp cho Hải Lượng thuộc thế hệ chữ “Tính”. Căn cứ vào tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, thì có thể nói, Ngô Thì Nhậm là đệ tử truyền thừa theo dòng kệ của thiền sư Minh Hành Tại Tại, cùng môn phái với thiền sư Chân Nguyên. Bởi vì, trong chương 11 Trác thanh, tăng Hải Hoà có nhắc: “Chiết công (tức thiền sư Chiết Chiết) ta đi bộ đến phương Nam, ở lộ thiên dưới gốc cây ba tháng trời mới đến trụ trì ở chùa Nhạn Tháp ở Siêu Loại, sau đó phò mã Quốc công phải cờ quạt đến đón rước. Nay ở chùa còn thờ làm Tổ[4]. Trong khi đó, theo Lê Mạnh Thát thì Hải Lượng Ngô Thì Nhậm là đệ tử của thiền sư Tính Quảng: “Việc trình bày lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm qua ba vị tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang có thể nói là một sáng tạo đặc biệt của Phật giáo Việt Nam thế kỷ 18, khi Tính Quảng và người học trò của mình là Hải Lượng Ngô Thời Nhiệm đã sao trích những mảng tư liệu khác nhau, để tập hợp lại và cho ra đời sách Tam tổ thực lục[5]. Còn theo Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì thiền sư Tính Quảng còn được nhắc đến với vai trò là người đề tựa sách Thánh đăng lục.

Vấn đề hệ phái truyền thừa dòng thiền của Ngô Thì Nhậm, có lẽ cần phải tìm thêm những chứng cứ cụ thể thì mới có thể khẳng định được.

            Ngô Thì Nhậm là một danh nhân trong lịch sử văn hoá và văn học Việt Nam cuối thời trung đại. Ông đã có những đóng góp to lớn cho dân tộc Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như: văn hoá, triết học, văn học, giáo dục, quân sự, chính trị, ngoai giao… Chỉ xét riêng về lĩnh vực văn học, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau. Về thơ có các tác phẩm như: Bút hải tùng đàm, Thuỷ vân nhàn vịnh, Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận, Thu cận dương ngôn, Hoàng hoa đồ phả, Cẩm đường nhàn thoại. Về văn có các tập: Bang giao hảo thoại, Xuân thu quản kiến, Hào mân ai lục, Hàn các anh hoa, Kim mã hành dư, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.

            3. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là tác phẩm cuối cùng của Ngô Thì Nhậm, là kết tinh chín muồi về tư tưởng lẫn bút pháp nghệ thuật của danh sĩ này. Nói như kiểu nhà Thiền, thì tác phẩm này giống như “bài kệ truyền pháp” của các thiền sư lúc sắp viên tịch. Bởi vì, tất cả những gì tinh tuý nhất cũng như cả tâm huyết và kỳ vọng của cả một đời tác giả đều gửi gắm hết vào đây.

- Nội dung tư tưởng của tác phẩm thể hiện rõ ở nhan đề sách“Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”. Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát là: Giáo lý chân truyền của thiền phái Trúc Lâm. Chữ thanh có nghĩa là lời nói, ở đây chỉ giáo lý, học thuyết. Nhan đề tác phẩm có chủ đích là xiển dương tinh thần của Phật giáo Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử do Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, nhưng nội dung tư tưởng của tác phẩm là hướng đến sự dung hợp tư tưởng Phật – Đạo – Nho trên quan niệm Tam giáo đồng nguyên. Cụ thể hơn là tư tưởng cốt yếu trong các bộ kinh đại thừa Phật giáo như: Kim cương, Viên giác, Bát nhã, Lăng già, Pháp hoa, Hoa nghiêm và các bộ kinh sách quan trọng của nhà Nho như: Tứ thư ( Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử), Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu) được tác giả khai thác một cách hữu hiệu nhằm luận giải sự tương quan nhất trí giữa Phật và Nho. Có thể thấy những cốt lõi tinh túy của cả ba hệ tư tưởng Phật, Đạo, Nho đều được tác giả thể hiện trong tác phẩm. Những tư tưởng uyên áo và hàm súc đó được truyền tải và thể hiện bằng những hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi cảm, qua một nghệ thuật ngôn từ tuyệt diệu, bút pháp đạt đến mức tinh tế như hoán dụ, thậm xưng, ẩn dụ, so sánh, sử dụng điển cố, điển tích v.v.. Chẳng hạn như phần thuyết giảng về dục của tác giả trong chương Không thanhChính văn.

            - Trước hết, cách lý giải mới của Ngô Thì Nhậm thể hiện ở hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng nhà Phật giáo cũng như của Nho là “Lý”“Dục”. Từ điển Phật học Huệ Quang định nghĩa về “Lý” như sau: “Lý” là đạo lý, tức phép tắc làm tiêu chuẩn cho sự tồn tại biến hoá của tất cả sự vật; là lý tính, tức là lý chân thật bình đẳng nhất như, là bản thể của vạn tượng sai biệt. lý có hai đức tuỳ duyên và bất biến, tức là tuỳ duyên mà biến hoá ra vạn pháp sai biệt, nhưng tính của nó vẫn thường trụ bất biến. Vì nó vượt ra ngoài tri thức tương đối của phàm phu, cho nên không thể dùng ngôn ngữ văn tự để biểu hiện[6].

Khi bàn về “Lý”, nhà Phật thường xem xét dưới góc độ lý thuyết, triết lý (tức là ngược lại với “Sự” là thực hành, thực hiện). Phật gia nói “Lý Sự viên dung” nghĩa là lý thuyết và thực hành đều đầy đủ trọn vẹn. Tìm hiểu về “Lý” nghĩa là tìm ra bản chất của vạn vật, thực tướng của vạn pháp nói chung, bản lai tự tính của con người nói riêng. Đây là vấn đề quan trọng nhất của bản thể luận, và cũng là mấu chốt quan trọng nhất của giải thoát luận trong Phật giáo. Con người chỉ giải thoát khỏi khổ đau khi đã triệt ngộ về “Lý”.

            Theo nhà Phật, “Dục” là một trong những nguyên nhân chính dẫn con người đến con đường khổ đau. “Dục” là ham muốn, thuộc về Tham trong Tam độc (Tham, Sân, Si). Có rất nhiều loại “Dục”, nhưng nhà Phật chia ra thành năm thứ chính (Ngũ Dục) bao gồm: Tài dục (ham muốn tiền tài), Sắc dục (ham muốn sắc đẹp), Danh dục (ham muốn danh lợi), Thực dục (ham muốn ăn ngon, ăn nhiều), Thụy dục (hoặc Thùy dục, tức ham muốn ngủ nhiều). Trong năm thứ này Sắc dục (tham đắm sắc đẹp) là thứ dễ làm mê lòng người nhất, cũng là thứ mà người tu đạo khó vượt qua nhất. Người xưa từng nói:

            Vũ vô kiềm toả năng lưu khách,

            Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

            ( Mưa không bao vây, kìm giữ mà vẫn giữ được khách,

            Sắc chẳng phải là sóng gió mà dễ đắm lòng người.)

Trong kinh Trung a hàm, đức Phật dạy: “Ma ha nam, ta biết là dục không có lạc mà chỉ vô lượng khổ hoạn. Biết như thật rồi, Ma ha nam, ta không bị dục phủ kín, cũng không bị pháp ác quấn chặt, vì vậy đạt được xả lạc, vô thượng tịch tĩnh”[7]. Trong kinh Tứ thập nhị chương, Phật chỉ ra hậu quả của sự đắm nhiễm ái dục: “Chính ái dục làm cho con người bị ngu tế vậy[8].

Trong kinh Viên giác, đức Phật nhấn mạnh rằng, ái dục là gốc rễ của sinh tử luân hồi: “Các ông nên biết, gốc rễ của sinh tử luân hồi là “ái” và “dục” vậy. Vì có dục cho nên mới sinh ra ái luyến, do luyến ái nên mới sinh tử, tử sinh nối luân không dứt[9]. Vì nhận ra nguồn gốc của khổ đau là ái và dục cho nên: “Chúng sinh nào muốn thoát ly sinh tử luân hồi, thì trước phải đoạn trừ các tham dục và tâm luyến ái[10].

            Khi người học đạo hỏi thế nào là Lý ? thế nào là Dục? Hải Lượng Ngô Thì Nhậm trả lời: “Lý giống như lý lẽ của cây có đốt; Dục như nước muốn chảy xuống, như lửa nóng bốc lên[11].

            Xưa nay, khi đề cập đến , nhà Phật thường luận về thể tính, và phương pháp tu tập nhằm đi đến giác ngộ Lý tính; đề cập đến Dục là chỉ ra nguồn gốc và phương pháp xa rời và đoạn diệt tham Dục. Hãy nghe lời Phật dạy về nhiệm vụ của người xuất gia: “Những người xuất gia phải cắt đứt dục vọng, xả bỏ ái dục, nhận biết nguồn tâm, hiểu thấu giáo lý Phật, tỏ ngộ pháp vô vi” [12]. Còn Hải Lượng thiền sư thì góp phần làm rõ về Lý, Dục bằng cách chỉ ra hình thức, đặc tính và quá trình biểu hiện của hai phạm trù này với câu trả lời hết sức hàm súc. Theo tác giả, bản năng (thuộc về dục) của con người là một trong những dấu ấn của nghiệp và nó hoạt động có quy luật, nếu không hiểu thì rất khó chuyển hoá. Người tu học, một khi thấu rõ được quy luật của nó thì sẽ tìm ra phương pháp đối trị hợp lý. Hải Lượng đã chỉ ra quy luật của Dục: Dục như nước chảy xuống, như lửa bốc lên. Và ông còn đưa ra phương thức đối trị với Dục: “Không cắt đứt thì đứt, muốn cắt đứt thì lại không đứt. Nước chảy cuồn cuộn, chảy đi thì cạn. Dập lửa lốm đốm, dập thì bùng lên[13].

Trả lời câu hỏi “Thế nào là Lý ?” không khác gì tìm hiểu các công án “Phật là gì? hay “Thế nào là đạo? trong nhà Thiền. Chúng ta cùng xem lại công án của thiền sư Vân Môn:

            “ - Hỏi: Phật là gì?

  - Sư đáp: Que cứt khô.” [14]

            Người nào chấp vào ngữ nghĩa thì không bao giờ đạt được của thiền sư. Câu trả lời này không chuyên chở một ý nghĩa nào hết, mà nhằm mục đích dồn ép người học vào tuyệt lộ của tư duy lôgic, có công năng đập nát màn vô minh, khai thông trí tuệ, đưa người học vào thẳng thực tại của tuệ giác, không thông qua cánh cửa suy luận. Nói theo ngôn ngữ nhà Thiền là đương cơ trực ngộ. Nhưng theo thiển kiến của chúng tôi thì cách thức này chỉ phù hợp với những bậc thượng căn thượng trí, còn đại đa số là không thích hợp và không hiệu quả. Khoảng trống này được Hải Lượng lấp vào qua phương thức giảng giải, gợi mở với những hình ảnh và ý tưởng đầy sáng tạo. Đơn cử như cách giảng giải về “Lý” trong chương Không thanh, chúng ta sẽ thấy rõ điểm này.

Hải Lượng nói “Lý giống như lý lẽ của cây có đốt”, tức là chỉ ra quy luật của tự nhiên, cái đạo của tự nhiên. Đốt cây sinh ra, thể hiện ra bên ngoài cho chúng ta nhìn thấy được, đương nhiên là do sự vận hành, sinh trưởng và phát triển ở bên trong. Nghĩa là nó có thứ tự đầu đuôi; có trong, có ngoài; có cái thấy được và cái không thấy được.

Hải Lượng nói tiếp“Lý không thể nào theo hết được”, là muốn cho người nghe thấy được có tương đối và tuyệt đối. Nếu thiền sư muốn xiển dương cái Lý tuyệt đối thì đã không ngồi thuyết pháp và giải thích cho người học. Bởi vì, ngôn ngữ thông thường không thể diễn đạt được cái Lý tuyệt đối. Các vị thiền sư hay dùng những phương pháp đặc biệt, kể cả dùng thiền ngữ dồn thúc đệ tử vào đường cùng của tư duy lôgic, giúp họ bừng vỡ chân lý tuyệt đối, ngộ được chân tâm, Phật tính. Trong khi đó thì Hải Lượng từ từ dẫn dắt người học vào con đường tu nhân đạo, tu tâm dưỡng tính, nên mới nói cái Lý tương đối.

Khi thiền sư giảng: Lý không thể nào theo hết được là nói cái lý tương đối, thế là chúng tăng ngồi quay lưng vào án thư, thầy khẽ thở ra và co một chân lại. Thiền sư lại gợi cho người học nhận ra rằng co, duỗi; thở ra, hít vào; nói năng hay im lặng cũng đều không ngoài cái Lý.

Lý có giống và khác (đồng, dị) được Hải Hòa diễn đạt bằng hai câu thơ đầy hình tượng và sinh động:

Vạn thuỷ giai đông Nhược thuỷ tây,

  Cúc hoa bất dữ bách hoa tề.” [15] (Tất cả các con sông đều chảy về đông, riêng Nhược thủy chảy về tây, Hoa cúc không nở cùng lúc với trăm hoa).

Nước của các dòng sông chảy xuôi về hướng Đông là thiên kinh địa nghĩa, nhưng Nhược thuỷ lại chảy ngược về Tây. Tây phương là cõi Phật, đất Thánh, chỉ có nước hoàn toàn thanh khiết, không nhơ bợn thì mới chảy ngược dòng. Ở đây Nhược thuỷ chỉ cho người tu hành thanh tịnh, tâm không ngũ dục làm cho mê mờ, đắm nhiễm. Cũng như trăm hoa đua nở vào mùa Xuân tiết trời trong lành, ấm áp, mùa Thu sương gió rét lạnh thì trăm hoa héo tàn, chỉ có hoa cúc mới chịu đựng được nên mới có thể nở hoa làm đẹp cho đời. Phải chăng thiền sư chỉ cho người học thấy được rằng những người nhẫn nại tu tâm dưỡng tính, thân tâm thanh tịnh, làm đẹp cho cuộc đời, mới về được cảnh Tịnh độ ở Tây phương cực lạc. Cần lưu ý rằng Nhược thủy là nơi chốn của Đạo, là Tiên cảnh, trong cụm từ Bồng sơn Nhược thủy (Non Bồng nước Nhược). Bên cạnh dung hợp giữa Phật và Nho thì chi tiết này đã chứng tỏ trong tác phẩm còn có sự dung hợp giữa Thiền và Đạo. 

tương đối cả về thời gian, không gian; sớm, muộn; bắt đầu, kết thúc; hướng Đông hay hướng Tây được chuyển tải qua lời của Hải Hoà:

Thuỷ khứ đông tây lô chuyển trục,

Hoa khai tảo vãn nghị ma bàn.” [16] (Nước chảy đông rồi tây như cần giếng chuyển trục, Hoa nở sớm, nở muộn, tựa con kiến bò quanh.)

Khi cần giếng xoay tròn thì đâu là đông, đâu là tây; con kiến bò quanh bàn thì đâu là điểm bắt đầu, đâu là điểm kết thúc; lúc nào là sớm, lúc nào là muộn ? Theo thuật ngữ nhà Phật thì đó là nhị biên, nếu chấp vào bên này hay chấp vào bên kia thì khó thông nỗi .

Sở dĩ không thể theo hết được vì không thể khiên cưỡng. Ngủ có cái lý của ngủ, thức có cái lý của thức; mê có cái lý của mê, tĩnh có cái lý của tĩnh. Cho nên thiền sư nói: “Dậy, dậy, dậy! Đánh mà chẳng dậy. Ngủ, Ngủ, ngủ! Chửi mà vẫn ngủ.[17]

Người có định lực và trí tuệ nhìn thấu thì không bị cảnh làm cho mê hoặc, nhìn thấu hư, thật, nhận rõ chân, huyễn:

Điểu thân phi điểu, / Hoa hồn phi hoa.

 Hành chỉ nhiêu tha,/ Ngã nại ngô hà.” [18] (Thân chim không phải chim, Hồn hoa không phải hoa. Đứng đi là bởi nó, Ta có làm gì đâu.)

- Phạm trù sắc, không theo tư tưởng kinh Bát nhã được sư Hải Tịnh sử dụng để làm sáng rõ lý, tức là sắc, không cũng không ngoài Lý:

Thị sắc phi sắc

Thị không phi không.” [19] (Sắc chẳng phải sắc, không chẳng phải không)

“Sắc” và “không” là hai phạm trù của nhị nguyên, đối đãi, khác nhau về hình thức biểu hiện, nhưng thật tính của chúng thì không khác nhau.

Trả lời câu hỏi của sư Hải Hòa: “Mã phùng thản lộ hành vô ngại, / Mộc đáo bàn căn giải bất khai.” (Ngựa gặp đường bằng đi không vướng, Cây được vũng gốc bửa không ra), thì sư Hải Tịnh đã giảng giải một cách trực tiếp về sự thuận, nghịch của lý: “Đường phẳng là ngựa thuận “Lý”, gốc rắn là cây nghịch “Lý”, “Lý” có thuận có nghịch, vậy thì, người không câu nệ cố chấp thì không theo nổi “Lý[20].

- Vấn đề Chấp trước (dính mắc) lại là một trở ngại rất lớn đối với những người muốn tu tâm dưỡng tính, hoàn thiện bản đạo đức bản thân, liễu ngộ tự tính, nhất là chấp trước về . Phá chấp là phương thức vô cùng quan trọng nhằm tấn tu đạo nghiệp của nhà Phật.  

Hình ảnh “Thầy chống ngược gậy trúc, đi lên am làm lễ Thế Tôn”[21] cũng là một phương thức giảng giải về rất độc đáo, mà không cần dùng đến ngôn ngữ. Cây trúc, khi chưa chặt làm gậy thì gốc ở dưới, ngọn ở trên; khi chặt làm gậy, thì ngọn chống xuống, gốc ở trên. Cách nói trên cho thấy  thuận hay nghịch, gốc hay ngọn cũng không ra ngoài . Vậy làm sao theo hết được ? Thiền sư không chống xuôi mà lại chống ngược gậy trúc, tức là chống gốc gậy trúc xuống đất là muốn dạy người học quay trở về nguồn cội Trúc Lâm. Phải chăng, mà thiền sư muốn cho người học hướng về là triết lý của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần.

Trong phần thanh chú, tăng Hải Hoà đã làm sáng tỏ thêm cái Lý tự tại của thiền sư Hải Lượng: “Thầy ta xử thế bằng đạo Nho, xuất thế bằng đạo Thiền, há phải biện luận quá làm cho người đời kinh hãi. Vì rằng thầy ta ung dung trong cái Lý ấy, rồi vượt ra ngoài cái Lý ấy. Chỉ có thầy ta mới thấy được cái đúng, nên nói ra được gãy gọn”[22].

Chúng ta có thể thấy cái mới của Hải Lượng thiền sư trong việc giảng giải Phật lý qua sự so sánh của Hải Hoà: “Xưa kia, đức Bản sư nhón tay cầm hoa giơ lên, chỉ có Ca Diếp mỉm cười, đó là khế cơ lĩnh hội được ý chỉ, không đợi truyền thụ bằng lời. Nay chân không chẳng còn chướng ngại, Phật thuyết pháp với đồ đệ phải lộ ra chút thần sắc, phát ra thành lời. Chúng nhân công hành chưa sâu, ma chướng còn nặng, mới vừa nghe thầy nói mà đến nỗi ngồi quay lưng vào án thư. Nếu không cố sức nói thì làm sao lĩnh hội được? Cho nên đặt ra vấn đề vấn đáp để biện minh nghi hoặc với chúng nhân, đó cũng là một điều khổ tâm của đức từ bi[23].

Trong chương Định thanh, phần thanh dẫn, Hải Huyền Ngô Thì Hoàng có nhận xét rất đáng lưu ý: “Giáo lý nhà Phật chưa sáng rõ, nên làm cho người đời báng bổ xằng bậy, chỉ biết nhìn vào hình thức thô sơ của cái đó (bắt cá), cái dò (bắt thỏ), vì vậy mà bàn luận rối mù, không có một chuẩn mực nào cả.” [24]

Xưa nay, chỉ nghe nhà Nho nói đến khái niệm Nho quân tử và Nho tiểu nhân, chưa từng nghe nhà Phật bàn về quân tử và tiểu nhân. Bởi vì chủ trương Trung Đạo của nhà Phật cho rằng, đi vào hướng phân tích nhị nguyên, đối đãi thì càng xa rời tự tính thanh tịnh, không có lợi cho con đường tu hành giải thoát. Hải Lượng thiền sư mạnh dạn đưa ra cách giải thích mới về Thích quân tử và Thích tiểu nhân trong sự đối sánh với khái niệm Nho gia: “Nho thì có Nho quân tử, Nho tiểu nhân; Thích thì có Thích quân tử, Thích tiểu nhân. Nho quân tử thì vị kỷ, Nho tiểu nhân thì vị nhân. Thích quân tử thì vị nhân, Thích tiểu nhân thì vị kỷ. Nhà Nho bàn về chữ “kỷ” và chữ “nhân” là nhìn nhận về mặt tâm tính. Thích quân tử xả “kỷ” để cứu vớt người. Thích tiểu nhân doạ người để nuôi mình. Đứng về mặt “Lý” và “Dục” mà phân chia, thì chữ “nhân” và chữ “kỷ” của đàng này ( Phật ) so với chữ “nhân” và chữ “kỷ” đàng kia ( Nho) công phu tác dụng tuy không giống nhau nhưng qui kết lại về tâm tính, thì chỉ một mà thôi. Vì vậy cho nên nhà Nho nói “chính tâm”, nói “thành tính”; nhà Phật nói “minh tâm”, nói “kiến tính”đều là nói: Đạo người quân tử rộng khắp mà kín đáo[25].

Đứng về mặt (tức là mặt tu tâm) mà xét thì vị kỷ (vì mình) mới là quân tử, còn vị nhân (vì người) là tiểu nhân. Nhưng từ góc độ Dục (ham muốn) mà nhìn thì vị kỷ là tiểu nhân, còn vị nhân là quân tử. Khổng Tử nói: “Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân.[26] (Điều mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác). Qui Sơn Đại Viên thiền sư nhấn mạnh bổn phận của người xuất gia tu theo Phật: “Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức.”[27] (Bản thân mình thì gắng công tu tập, Đối với người ngoài thì dùng cái đức không tranh hơn thua). Thấu rõ điểm này mới thấy sự trải nghiệm sâu sắc và cách giải thích chí lý của thiền sư.

- Xu hướng thực tiễn hoá lý luận Phật giáo là xu hướng chính trong cách giảng giải cho đồ đệ của Hải Lượng. Khi học trò hỏi những vấn đề liên quan đến các khái niệm “tưởng”, “phi tưởng”, “phi phi tưởng” thì thiền sư lấy cớ bản thân mình chưa đạt đến “phi phi tưởng” để giảng tiếp vấn đề tu thân trong mức độ nhân thừa. Nhà Phật chia cảnh giới tu hành ra năm cấp (Ngũ thừa) gồm: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Bồ tát thừa, và Phật thừa. Nhân thừa là thấp nhất, bàn về cách thức tu tập trong cõi người, ví dụ như muốn làm người tốt phải giữ năm giới: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nói đến “phi phi tưởng” là luận đến những vấn đề ngoài nhân thừa.  

Khi học trò hỏi đến chuyện người chết thì làm dê, dê chết thì làm người, thì thiền sư Hải Lượng viện dẫn sách Nho để làm sáng tỏ: “Nho nói: Thấy lợn đội bùn, chở ma một xe thì nhà ngươi cho đó là ma thật, lợn thật hay sao? Mắt vốn sáng mà hoa, tai vốn tỏ mà ù, mắt hoa thì không có bóng, tai ù thì không có vang.” Thiền sư khẳng định: “Người là người, ma là ma, súc sinh là súc sinh[28]. Rõ ràng, không phải Hải Lượng không hiểu về luân hồi, nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật mà ông muốn “đơn giản hoá” những vấn đề dễ gây hiểu nhầm và khó giải thích tường tận bằng cách thức thông thường. Đây cũng là một một vấn đề đáng lưu ý của các Pháp sư Phật giáo trong nhiều thế hệ.

- Luân hồi là một phần quan trọng trong giáo lý Phật giáo. Thuyết luân hồi của nhà Phật chủ yếu đề cập đến vấn đề mọi chúng sinh sau khi chết, tuỳ theo hành nghiệp thiện hay ác của chính bản thân họ mà sau này sẽ tái sinh vào cõi tốt hay xấu. Nghiệp (hành động tạo tác) là nhân tố quyết định sự tốt hay xấu của cuộc sống sau khi tái sinh. Nhà Phật cho rằng, chúng sinh do si mê, từ thân miệng ý tạo ra nhiều nghiệp ác,  nên theo luật nhân quả phải luân hồi trong các đường xấu ác, chịu khổ, không bút mực nào tả xiết. Chỉ có tu hành theo con đường giác ngộ của Phật, chấm dứt tất cả các việc làm ác, siêng làm tất cả các việc tốt, ngộ được bản tính, thấu rõ bản chất của mọi sự vật hiện tượng, mới thoát khỏi luân hồi sinh tử, đạt được an vui tịch diệt. Tức là thuyết luân hồi nhà Phật chú trọng ở các khía cạnh liên quan đến các vấn đề nhân quả, nghiệp báo và tái sinh. Hải Lượng thì triển khai theo vấn đề này theo hướng thực tiễn: “Một năm có cái luân hồi của một năm, một tháng có cái luân hồi của một tháng, một ngày có cái luân hồi của một ngày. Vì luân (bánh xe) cho nên hồi (xoay tròn), cũng như nhà Nho nói tuần hoàn, vì hoàn (cái vòng) cho nên tuần (ven theo), không phải cái vòng thì không xoay.[30]

- Vấn đề thần thông biến hoá cũng được thiền sư hiện thực hoá: “Bốn mùa không thay đổi, thì công dụng của năm không thể thành được, vạn vật không biến hoá thì phẩm loại không sinh sôi. Người biết đạo thì thông, người không biết đạo thì không thông. Kẻ nào thông thì sống, kẻ nào không thông thì chết. Vì vậy sống thuộc về thần, chết thuộc về hình.” [31]

Hải Lượng thiền sư dùng sách Nho gia để giải thích thuyết nhân quả của nhà Phật một cách rõ ràng, dễ hiểu: “Đây là chữ quả trong quả nhiên, như chữ tất của nhà Nho trong tất nhiên. Nhà Nho nói: Nhà nào tích thiện, tất có thừa phúc; nhà nào tích bất thiện tất có thừa ương. Quả có cái ấy, thì được cái ấy, đó tức là quả. Thạc quả giống hệt với công quả, phúc quả. Vì vậy cho nên phúc không nên hưởng hết, công không nên kể hết, quả không nên ăn hết.[32]

Thế giới quan của nhà Phật được thiền sư làm rõ qua nhận thức về quy luật khách quan chi phối sự vận hành của vạn vật trong vũ trụ. Thấu suốt bản chất và quy luật của vạn hữu là điều kiện thiết yếu đưa con người đến tự do, an lạc và giải thoát. Người biết đạo là người thông suốt bản chất và các quy luật chi phối các pháp; người không biết đạo là người không thông suốt bản chất và quy luật chi phối vạn vật, sẽ bị trôi lăn trong lục đạo (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Nhân, Atula, Thiên) luân hồi, chịu khổ vô cùng.

- Trong chương Biểu lý thanh, tác giả phần chính văn bộc lộ quan điểm của mình về cách thức diễn giải giáo lý qua lời nhận xét về kinh điển Đại thừa của nhà Phật như sau: “Cương yếu của đạo lý là ở Lăng già, Lăng già giảng chữ tinh rất là rạch ròi. Đại để Phật gia thích dùng chữ nghĩa sâu kín, không có sức hiểu biết sắc bén thì không hiểu được, mà đã hiểu được thì hiểu sâu sắc.” [33].  Ông cho rằng, tiến trình nhận thức cũng có quy luật: “Nếu không bắt đầu từ cái thô thì cái tinh của đạo lý không do đâu mà vào được[34]. Đối với những người chấp trước vào văn tự, chữ nghĩa, không khỏi không có quan điểm như trên. Nhưng đây lại là bài học kinh nghiệm cho những người có trọng trách hoằng dương Phật pháp.

Đóng góp của Hải Lượng thiền sư về cách giảng giải Phật lý qua tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được Bảo Chân đạo nhân Phan Huy Ích tán dương rất đáng để chúng ta quan tâm: “Ông anh vợ tôi là Hy Doãn Công, quan Thị trung Đại học sĩ, học thức cao rộng, hơn hẳn người thường. Kinh nghiệm đúc kết càng uyên thâm, sự nghiệp càng thêm tinh tuý, Tam giáo cửu lưu, Bách gia chư tử không gì là không thâu tóm được đầy đủ, hợp với tấm lòng rộng lớn, đủ để điều khiển được muôn vật, nắm vững được Tam huyền. Bộ sách Hai mươi bốn thanh âm của ông soạn ra, đã đem hết những chỗ mà lời lẽ của nhà Phật còn lờ mờ huyền bí, chia cắt thành từng đoạn, thâu tóm, tập hợp thành đầu mối theo thứ tự từng tiết, cho nên những gì là tinh tuý, uẩn súc đã được mở rộng ra, rồi đem công hành trên bản in để tỏ rõ cho rừng Thiền được biết.” [36]

4. Tóm lại, có thể nói, một số phạm trù cơ bản trong giáo lý Phật giáo như: lý, dục, luân hồi, nhân quả, thần thông, tịch diệt, phá chấp…được Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm thực tiễn hoá, đơn giản hoá một cách rạch ròi, khúc chiết, làm cho người học dễ dàng nắm bắt được đường hướng và tông chỉ tu tập. Đây là nhận thức mới, lý giải mới của Ngô thì Nhậm về Phật, về Thiền. Ông vận dụng một cách nhuần nhuyễn và khéo léo những tri thức Nho học vào việc giảng giải một cách dễ hiểu những phạm trù uyên áo của nhà Phật. Để ứng dụng tư tưởng nhà Phật vào trong đời sống, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay một cách hữu hiệu thì bài học của Hải Lượng thiền sư Ngô Thì Nhậm là bài học mà những ai quan tâm đến tiền đồ của Phật giáo cũng phải suy nghĩ.                                                                                Mùa Phật đản 2554 (năm 2010)                                                                                

 


[1]  Nguyễn Lang (2008), Việt Nam Phật giáo sử luận (trọn bộ), Nxb Văn học, HN, tr 538.

[2]  Nguyễn Lang, sđd, tr 603.

[3]  Thích Như Tịnh( 2009), Lịch Sử truyền thừa thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, Nxb Phương Đông, tr 557.

[4]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN, tr 263.

[5]  Lê Mạnh Thát (2006), Trần Nhân Tông toàn tập, Nxb Tổng hợp TP HCM, tr 291.

[6] Thích Minh Cảnh (Chủ biên), (2009), Từ điển Phật học Huệ Quang, tập 2, Nxb Tổng hợp TP HCM, tr 2416.

[7]  Tuệ Sỹ (dịch và chú), Kinh Trung a hàm, Nxb Phương Đông, TP. HCM, tr 216.

[8]  Hoà Thượng Tuyên Hoá (1999), Phật thuyết Tứ thập nhị chương kinh, Ban phiên dịch Việt ngữ, Tổng hội Phật giáo Pháp giới, CA xuất bản, trang 67.

[9]  Thích Thiên Hoa (Phiên dịch & lược giải) (1993), Kinh Viên giác, Hội Phật giáo TP HCM ấn hành, tr75.

[10]  Thích Thiện Hoa, sđd, tr 77.

[11]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH, HN, tr 125.

[12]  Hoà Thượng Tuyên Hoá, sđd, tr 63.

[13] Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN,  tr 144.

[14] Vô Môn (1995), Vô môn quan, Trần Tuấn Mẫn dịch và chú,Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, tr 71.

[15]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN, tr 125.

[16]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Mai Quốc Liên chủ biên, Nxb VH, HN, tr.145.

[17]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN, tr 126.

[18]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH, HN, tr 127.

[19]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH, HN, tr 127.

[20]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH, HN, tr127.

[21]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN, tr128.

[22]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH., HN, tr 130.

[23]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội., HN, trang 131-132.

[24]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội., HN, trang 235.

[25]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội., HN, trang 236.

[26]  Trần Tiến Khôi (2008), Luận ngữ với người quân tử thời hiện đại, trang 320. Nxb Từ điển Bách khoa

[27]  Trí Quang (1993), Luật Sa di và Sa di ni (Qui Sơn cảnh sách), tập 3, trang 1006

[28]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội., HN, trang 193

[29]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb Khoa học Xã hội., HN, trang 373

[30]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr 217.

[31]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr 217.

[32]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr 221.

[33]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr193.

[34]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr 193.

[35]  Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002), Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb VH, HN, tr 134.

[36]  Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Lâm Giang chủ biên (2006), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 5, Nxb KHXH, HN, tr 37-38.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online