Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Chuyện về tấm bia (Nguyễn Văn Thành)
Chuyện về tấm bia (Nguyễn Văn Thành) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Văn Thành   
03/10/2012

Chuyện về tấm bia khắc di nguyện của Đại danh y Tuệ Tĩnh

* Nguyễn Quang Thành

Đền Bia là một trong ba địa danh của huyện Cẩm Giàng- Hải Dương thờ Đại y Thiền sư Tuệ Tĩnh. Đền Bia được xây dựng từ thời Lê, trùng tu vào năm 1936, năm 2007 trùng tu một lần nữa. Di tích đền Bia còn nhiều cổ vật có giá trị từ các triều đại phong kiến như bệ đá thời Nguyễn chạm khắc tứ linh, tứ quý, cỗ khám sơn son thiếp vàng, tượng Tuệ Tĩnh. Trước khi có Đền Bia, nơi đây chỉ là một đống đất cao, nhưng vì khu đất có hình con dao cầu nên nhân dân vẫn thường tự đến cắm hương lễ bái. Sau khi tấm bia được dựng nên thì mới dựng đền thờ tấm bia, ban đầu đền làm bằng gianh, tre, nhưng năm nào cũng bị cháy, vì thế dân làng mới cho lập một ngôi đền gọi là Đền Trung ở gần vị trí làng Văn Thai để thờ vọng lên đền Bia, sau đó mới xây dựng đền Bia bằng vật liệu gạch, gỗ lim chắc chắn hơn. Từ đó dân làng gọi là đền Trung và đền Thượng.

Trải qua hàng trăm năm cùng với bao nhiêu biến cố của lịch sử, tấm bia đá khắc di nguyện của danh y Tuệ Tĩnh vẫn tồn tại cùng với thời gian.

 

 Đền bia

Ngôi đền mang tên kỷ vật

 

Đền Bia nằm phía trong chân đê sông Thái Bình, thuộc thôn Văn Thai, xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ngôi đền này được xây dựng gồm ba tòa; Tiền tế, Nhị đệ và Hậu cung theo lối kiến trúc tiền nhất hậu đinh. Đây là một không gian thờ tự rộng rãi khang trang. Trong khuôn viên, cùng với những cây cổ thụ toả bóng còn có những vườn thuốc Nam xanh tươi.


          Ở Hậu cung, trong khám thờ tượng Tuệ Tĩnh, đó là một bức tượng đúc bằng đồng ngồi trên ngai nhỏ, đầu đội khay, mắt sáng, râu dài, hai tay chắp trước ngực, mặc áo thêu hình rồng. Theo sử sách trong chùa viết lại thì bức tượng này do nhân dân trong làng Văn Thai tự tay đúc để thờ từ những ngày đầu xây dựng đền. Từ lâu, bức tượng thờ Đại y Tuệ Tĩnh bằng đồng là một tuyệt tác thể hiện sự điêu luyện trong điêu khắc của người nông dân vốn chỉ quen với ruộng đồng. Tuy nhiên, đem lại sự nổi tiếng cho đền Bia không chỉ có bức tượng đồng này mà còn bởi tấm bia đá cũ kỹ được đặt phía sau cùng của gian hậu cung. Tấm bia như một cột đá nhỏ, cao khoảng 80cm rộng khoảng 20cm đầu được mài nhọn.

 

          Theo năm tháng, tấm bia đã xuống màu cùng thời gian. Những dòng chữ ở trên bia đã bị đục nham nhở, rất khó đọc. Theo Ban quản lý Đền Bia: Bia đá này có xuất xứ từ Trung Quốc. Nội dung tấm bia đá đó được khắc lại di nguyện của Thiền sư Tuệ Tĩnh trước khi ông mất ở nơi đất khách quê người: "Về sau có ai bên nước nhà sang, nhớ cho hài cốt tôi về với". Nói về xuất xứ cũng như số phận "nổi trôi" của tấm bia, ông Trần Văn Hiếu- Cán bộ của Ban quản lý đền Bia chia sẻ: " Tấm bia này tồn tại được đến ngày hôm nay quả là sự kỳ diệu, khó lòng mà tin được ".

 

Tấm bia hiện không còn chữ nào nguyên vẹn nữa nhưng vẫn được cất đặt cẩn thận phía sau Hậu cung đền Bia.

Ông Trần Văn Hiếu kể về mối nhân duyên hai người đồng hương khác thời: Tuệ Tĩnh và Nguyễn Danh Nho.


Long đong tấm bia khắc di nguyện của Đại y

 

          Ngược dòng lịch sử: Năm 1385, lúc đó danh y Tuệ Tĩnh đang là một thầy thuốc lỗi lạc. 55 tuổi, danh y bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn dồn tâm sức cho việc làm thuốc, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư sau khi cứu sống Hoàng Hậu nhà Minh lúc đó. Từ ngày sang phương Bắc, ông không một lần được quay lại quê hương. Sống ở nơi đất khách quê người nên hậu thế không ai biết chính xác ông mất năm nào.


          Hơn 200 năm sau, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho là người cùng làng với Tuệ Tĩnh soạn khắc lại ước nguyện của người thầy thuốc tài ba khi ông đi sứ Trung Quốc đã đến viếng mộ Tuệ Tĩnh tại Giang Nam, đọc mặt sau tấm bia trên mộ thấy có ghi chữ : "Về sau có ai bên nước sang, nhớ cho hài cốt tôi về với", Nguyễn Danh Nho vô cùng xúc động trước tình cảm luôn hướng về quê hương đất nước của Tuệ Tĩnh. Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã thuê thợ làm lại tấm bia và mang về quê hương. Khi đó cả vùng quê thôn Nghĩa Phú xã Cẩm Vũ của ông bị ngập nước. Xuôi thuyền gần đến nơi thì thuyền bị lật, tấm bia rơi xuống nước không lấy lên được. Những tưởng công sức bị bỏ sông bỏ biển thì không lâu sau khi nước sông cạn, nhân dân lại tìm thấy bia. Thấy doi đất ở đây có hình con dao cầu (dao thái thuốc Nam) người dân đã dựng miếu thờ bia. Ngôi miếu đơn sơ dựng thờ tấm bia đá chỉ cách quê hương Tuệ Tĩnh khoảng hơn 1km.


          Dân gian kể lại: Từ ngày dựng bia, người dân khắp nơi kéo về lấy thuốc, hái lá và xin nước ở đền Bia chữa bệnh. Mỗi ngày có hàng nghìn người đến đền xin thuốc. Năm 1846, vua Thiệu Trị đã hạ chiếu cấm việc cúng bái và xin thuốc mang màu sắc mê tín. Nhà vua đã sai lính mang tấm bia cất giữ trong kho. Đến năm 1936, có một người làng Văn Thai làm chức thủ kho đã lấy lại tấm bia bí mật đem về đền. Từ đó người dân tứ xứ lại trở lại đền xin thuốc. Tin đồn lại đến tai vua, nhà vua sai lính đục hết chữ khắc tạc trên tấm bia làm cho không ai còn đọc được nữa. Theo các cụ cao niên trong làng: Để cất giấu tấm bia đá này, người dân làng Văn Thai đã đặt trong tường chùa Văn Thai rồi xây kín lại. Nhờ đó mà tấm bia tồn tại được cho đến ngày hôm nay. Người dân ở đây tin rằng: Chính cái doi đất hình lưỡi dao cầu (dao cắt thuốc) mà thiên nhiên tạo nên là vùng đất đắc địa cũng là nơi Đại y Thiền sư Tuệ Tĩnh muốn tấm bia khắc di nguyện của mình dừng chân. Ông Hiếu cho hay, từ lâu người nhân dân ở đây đã có ý sang Trung Quốc tìm cách đưa hài cốt Thiền sư Tuệ Tĩnh về quê theo di nguyện của ông. "Cũng đã có nhiều chuyến đi sang Giang Nam nhưng vì lý do này lý do khác mà vẫn chưa làm thỏa nguyện của người xưa- Đó cũng là nỗi niềm đau đáu của người dân nơi đây".

 

* Tuệ Tĩnh chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh, biệt hiệu là Hồng Nghĩa, pháp hiệu (theo tên gọi của nhà chùa) là Tuệ Tĩnh (1330-1400), Ông sinh ra ở làng Nghĩa Phú (tục gọi là làng Xưa), thuộc tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng (gần Kẻ Sặt), phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương - nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tuệ Tĩnh là một nhà sư thông minh lỗi lạc, thi đậu Ðệ nhị giáp tiến sĩ, tức Hoàng giáp và lại giỏi thuốc trị bệnh nên nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: " Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy đã đưa ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online