Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Tục cà răng của người Cơ Tu (Trần Đức Sang)
Tục cà răng của người Cơ Tu (Trần Đức Sang) PDF In E-mail
Người viết: Trần Đức Sang   
17/10/2012

TỤC CÀ RĂNG CỦA NGƯỜI CƠ TU

* Trần Đức Sáng

          Mỗi tộc người nói chung đều gắn liền với kiểu thức làm đẹp theo cách của mình. Những kiểu thức này được nâng lên thành nguyên tắc bất di bất dịch, một khi mình đang là thành viên của cộng đồng. Có thể bắt gặp rất nhiều hình ảnh đa dạng, phong phú trong biểu hiện làm đẹp của con người như chiếc vòng quấn quanh cổ; dái tai căng rộng thành những lỗ tròn đeo đồ trang sức cho ngày một dài ra; khuôn mặt vẽ những mô típ hoa văn; chiếc dùi nhọn bằng ngà xuyên qua mũi v.v… nhưng gần gũi, ấn tượng nhất có lẽ là “những chiếc răng mài mòn đến tận lợi” của các tộc người cư trú ở khắp dải cao nguyên miền Trung Việt Nam.

          Tục lệ cưa răng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, góp phần định danh nhiều tộc người thiểu số ở Việt Nam. Từ những tư liệu đầu thế kỷ trước, chúng ta thấy cụm từ “Cà răng – căng tai”, tuy bị quan niệm là mang tính miệt thị, nhưng lại thường dùng để chỉ các cộng đồng Cơ – tu, Ba – na, Tà – ôi, Xơ – đăng… Tuy vậy, do nhận thức về thẩm mỹ, tín ngưỡng khác nhau khiến cà răng ở mỗi tộc người có những biểu hiện, cách thức và tín nhiệm khác nhau.

          Bằng những phỏng vấn hồi cố, cùng một tư liệu liên quan, chúng tôi thử tìm hiểu tục lệ cưa răng của người Cơ – tu trong xã hội cổ truyền. Qua đó, có thể làm sáng tỏ quan niệm thẩm mỹ, nhân sinh quan, luật tục v.v… của cộng đồng tộc người; cũng như ý thức của cá nhân đối với gia đình, dòng họ, và cả cộng đồng của người Cơ – tu.

          Nhiều dân tộc thiểu số thường dùng trâu làm vật hiến sinh dâng cúng thần linh (Yang). Từ đó, việc cưa răng để giống răng trâu hình thành như một dạng thức tôn thờ linh vật nên với nhiều cộng đồng tộc người, có thể, tục cưa răng ban đầu là một dạng tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp, mang tính chất cầu mùa v.v…

          Ở người Ba – na, theo Nguyễn Quang Lê (Bàn về phong tục và nghi lễ gắn với đời người của người Ba – na ở Kon Dỡng, Mang Yang, Gia Lai; Văn hóa Dân gian, số 3 (39) – 2004) có viết: Từ thời xa xưa, trâu được xem là vật thiêng, được tôn thờ làm vật tổ. Trong quan niệm của tộc người này, những đối tượng không cưa răng, sau khi chết linh hồn không thể về với thế giới tổ tiên. Một số tộc người khu vực Trung Á cho rằng bộ răng phải lấp lánh vàng mới là bộ răng đẹp và quyền quý, chính vì thế, nam nữ thanh niên trong cộng đồng đều cưa bớt răng để nạm vàng. Trai, gái người Nhật Lão (ở Tứ Xuyên, Trung Hoa) đến tuổi trưởng thành đều phải nhổ 2 răng ở hai bên cửa hàm trên để làm đẹp (Trịnh Sinh, Nguyễn Văn Huyên, Trang sức của người Việt cổ, Nxb. Văn hóa Dân tộc, 2001, tr. 18). Hay người Naga ở Mianmar có tục lệ vừa cà răng và nhuộm răng. Hình thức này cũng rất phổ biến ở tộc người Samrê (Campuchia). Ở người Khơ – me, lễ cà răng chính là một trong những nghi thức cổ xưa từng tồn tại (Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện. Những phong tục lạ ở Đông Nam Á, Nxb. Văn hóa Thông tin, 1996, tr. 136). Hoặc như người Việt cũng có tục lệ nhuộm răng đen, để khi cười không làm lộ rõ hàm răng “trắng nhởn”, và quan niệm: “cái răng, cái tóc là góc con người”…

          Đối với người Cơ – tu, tục lệ cưa răng có từ lâu đời, đó là hình thức bắt buộc đối với mỗi thành viên. Cưa răng, ngoài chức năng làm đẹp, còn là nghi lễ đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành: lễ thành đinh. Luật tục ở đây quy định: điều kiện tiên quyết để trở thành thành viên, được cộng đồng thừa nhận, được quyền thiết lập quan hệ hôn nhân v.v… là cá nhân đó phải trải qua nghi lễ cà răng. Với ý nghĩa quan trọng đó, tục cà răng không những liên quan đến quan niệm thẩm mỹ của người Cơ – tu, mà còn là sự kiện đánh dấu việc xác lập vai trò và quyền lợi của cá nhân trong xã hội. Mặt khác, đây cũng là hình thức thử thách lòng dũng cảm, sức chịu đựng của cá nhân như một kiểu hành xác, huấn luyện sức chịu đựng tinh thần v.v… đặc biệt đối với nam thanh niên – những trụ cột chính trong gia đình cũng như xã hội.

          Qua khỏi “ngưỡng cửa” này, cá nhân đủ điều kiện trở thành thành viên chính thức trong gia đình, dòng họ (cabu) và trong làng vêêl). Riêng với cộng đồng làng, nếu là con trai, tối đến anh ta sẽ được ngủ ở nhà làng (gươl), nghe già làng truyền đạt các kinh nghiệm trong đời sống thường nhật, cũng như trong sản xuất; có quyền tham gia vào những “cuộc săn máu” (trong quá khứ); đi sim – hẹn hò với bạn tình trên rẫy, hát với bất cứ cô gái nào mà mình thích ở trong hoặc ngoài vêêl và khi có lễ hội. Nếu là con gái, cô ta cũng được tự do làm những việc tương tự: hẹn hò cùng người con trai của lòng mình, hay cất lên những điệu hát (baboách) mời gọi bạn tình. Ngược lại, những đối tượng không cưa răng sẽ bị xem là hèn nhát, không có lòng dũng cảm, không làm tròn bổn phận của một thành viên đối với luật tục làng. Người con trai đó sẽ không được ngủ ở gươl mỗi khi đêm về, thậm chí không có người phụ nữ nào màng đến, và điều quan trọng nhất, anh ta sẽ không có được sự bảo vệ của cộng đồng trước những biến cố mang tính cá nhân.

          Trước đây, tục cưa răng của đồng bào Cơ – tu thường diễn ra vào “thời gian nông nhàn”. Lúc này, lúa trên nương đã vào kho và công việc săn bắt, hái lượm v.v.. chuẩn bị cho lễ hội đã “vào mùa”. Địa điểm cưa răng thường là những nơi có thác nước mạnh. Ở đó, không gian thoáng đãng của thiên nhiên sẽ là liệu pháp tâm lý giúp đối tượng quên đi đau đớn, sẽ làm dịu bớt sự căng thẳng trong lòng mọi người; tiếng gầm thét của thác nhước cũng là âm thanh dùng để lấn át tiếng kêu la, cách thức để ma xấu (abhui mốôp) không nghe thấy, nhằm né tránh và hạn chế tối đa sự quấy rối, làm hại của các ác thần đối với đối tượng cưa răng.

          Trước khi cưa răng, để phòng tránh những rủi ro bất thường và cũng là để an ủi tất cả linh hồn (rơ vai) sống trong vêêl, người Cơ – tu thường tổ chức lễ cúng (bhuôi) cho các thần hộ mệnh. Chủ làng (taco vêêl) sẽ làm một con gà, lấy máu (ahăm/ ahơm) chấm lên trên trán người sắp cưa răng, với ngụ ý chúc phúc, cầu xin sự tiếp sức của thần linh, giúp họ không chảy nhiều máu v.v…, và quan trọng nhất là không gây tử nạn.

          Tục cưa răng ở vùng cơ – tu ngày xưa dành cho cả nam và nữ la thành viên của vêêl có độ tuổi từ 15 – 17. Trước khi diễn ra lễ cưa răng, taco vêêl chọn ba người đàn ông uy tín, đến địa điểm cưa răng của vêêl. Hai trong số ba người này sẽ dùng một “lưỡi cưa” (cái rựa đã làm thành lưỡi cưa) để cưa răng. Nhân sự nằm bên thác nước, một người ngồi trên bụng, hai đầu gối khép chặt vào thân, những người khác giữ lấy tay, chân và đều của người được cưa, rồi họ thay nhau cưa. Các tộc người ở Tây Nguyên thường cưa 6 răng cửa hàm trên, nhưng với người cơ – tu, để tạo sự cân đối, số lượng răng cưa bao giờ cũng là 12 (hàm trên 6, hàm dưới 6 cái). Khi 12 chiếc răng  đã được cưa xong, công việc tiếp theo của người đàn ông thứ ba là dùng những viên đá (lấy ở dưới suối) mài những chân răng cho mòn đến sát lợi.

          Theo kinh nghiệm, để bảo vệ vết thương, chống nhiễm trùng, họ thường dùng một loại cây có tên là axớp/ axáp bôi vào chỗ vết răng vừa bị cưa, còn lá và vỏ được nấu để uống. Trong khi cưa răng, máu chảy nhiều, người ta dùng nước muối để súc miệng, nhổ máu vào ống tre (cơ ram). Xong việc, ba người nói trên dùng lá đót (a teeng) nhét đầy ống tre đó rồi cẩn thận đặt lên một tảng đá gần địa điểm cưa. Nếu những ống tre đó bị đổ trong khi đặt, người ta cho rằng nhân sự cưa răng sẽ gặp điều chẳng lành, đó là dấu hiệu cho biết các thế lực hung ác đang đe dọa họ. Khi ấy, một cuộc cúng tế sẽ được tổ chức nhằm làm nguôi lòng thần linh.

          Khi các nhân sự cưa răng được đưa về gươl thì công việc kết thúc. Lúc này, người được cưa răng phải ở lại đó 3 đêm mới về nhà. Trước khi vết thương lành hẳn, các cá nhân này được người thân cùng những thành viên trong vêêl chăm sóc chu đáo. Họ ăn loại cơm được nấu bằng ống tre có lót lá chuối bên trong (avixrlung) và buộc phải thực hiện một số kiêng cữ (điêng) mà luật tục đã quy định.

          Để chứng tỏ sự trưởng thành của mình, sau ba đêm, các nhân sự được cưa răng phải ra suối, dùng tay bắt một loại cá gần giống cá trôi, thân dài khoảng 10 – 20 cm, thường bơi ngược dòng nước. Đồng bào cơ – tu coi chúng là loại cá mạnh mẽ, ăn những thứ trong sạch, nên có thể giúp cho người ăn chóng bình phục vết thương. Ngoài ra, một số thức ăn sẽ bị cấm sử dụng trong vòng một năm như: gạo nếp, thịt trâu, bò cùng một số động vật săn bắn khác. Không được tắm rửa, uống rượu trong vòng một tháng. Uống nước phải dùng một ống tre thông nòng và dùng tay bịt kín phần đáy lại, sao cho nước không chảy ra. Họ chỉ uống khoảng ½ số lượng nước trong ống tre rồi đổ đi, khi ăn phải dùng tay v.v…

          Nhớ vào những kiên cữ trong cách ăn uống và sinh hoạt, khoảng ba tháng sau, vết thương bình phục. Các nhân sự lại bắt đầu tham gia công việc dành cho người lớn như các thành viên khác trong buôn làng.

          Cưa răng ở người cơ – tu là một phong tục mang đậm nét văn hóa đặc trưng, phản ánh nhân sinh, thẩm mỹ tộc người. Đây chính là mốc chuyển tiếp cuộc đời của một cá nhân.

          Nghi lễ này biểu hiện rất rõ ý thức của mỗi cá nhân đối với gia đình, dòng họ và làng (vêêl), bởi với người cơ – tu, làng là tổ ấm, là đại gia đình, nơi kết tinh các giá trị nhân văn của cả cộng đồng, nơi họ cùng chia sẻ những thịnh suy, niềm vui cũng như nỗi buồn từ lúc sinh ra cho đến khi “về với thế giới tổ tiên”.

          Phong tục cưa răng của người cơ – tu đã dần được bãi bỏ sau những thập niên 50 của thế kỷ trước. Đây là sự kiện được rất nhiều người tán thành khi chúng tôi thẩm vấn hồi cố. Bởi đã hơn 60 năm trôi qua, già làng A Lăng Tụa (thôn A Réc, Xã A Vương, Tây Giang, Quảng Nam) đã từng trải qua nghi lễ này đều không khỏi rùng mình khi nhớ lại sự đau đớn đến chết của mình lúc đó. Và có một điều mà chúng tôi không thể ngờ rằng, nhiều nhân sự được cưa răng ngày xưa, ở tận vùng biên giới Việt – Lào hiện nay đã đi bộ gần trăm cây số xuống thành phố để làm lại 12 chiếc răng đã cưa trước đây theo luật tục của làng.         

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online