Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow C.Nghệ T.Tin arrow Vài nét về đàn bầu (ST)
Vài nét về đàn bầu (ST) PDF In E-mail
Người viết: ST   
04/11/2012

Vài nét về Đàn Bầu

* TH

Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo đó, Tiên trên trời bèn hiện ra và cho nàng cây đàn một dây, dặn rằng: "Cây đàn này sẽ giúp con nuôi được mẹ và sau này gia đình con sẽ được đoàn tụ." Nàng nhận đàn, lạy tạ Bà Tiên. Từ đó hai mẹ con dắt nhau đi đàn ca để kiếm tiền độ nhật.

Từ xưa các cụ thường nhắc con gái rằng: “Đàn bầu ai gảy thì nghe. Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu”. Đó là bởi vì sự quyến rũ của nó.

Dựa vào chuyện kể của GS Trần Văn Khê rằng ngày xưa có một người tên là Trương Viên cùng các trai tráng phải lên đường đánh giặc. Trước khi đi, Trương Viên dặn vợ, nếu chẳng may loạn lạc khắp nơi, thì hãy dẫn mẹ trở về quê lánh nạn. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, vợ Trương Viên phải dắt mẹ trở về quê, trên đường đi vất vả, cực khổ, nhiều khi nàng phải nhịn đói để nhường cơm cho mẹ. Một buổi sáng kia, khi đi ngang qua một làng nọ, bỗng nhiên người trong làng đổ xô ra niềm nở chào đón, lại còn đãi mẹ con một bữa cơm thịnh soạn. Hai mẹ con nhìn nhau ngơ ngác, không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa. Đợi cho hai người ăn xong, một bô lão trong làng mới nói lý do. Đó là mỗi năm làng phải tế cho hung thần cặp mắt của một người phụ nữ. Không muốn người trong làng bị móc mắt, làng bèn đặt ra lệ rằng mỗi năm đúng ngày giờ này, người phụ nữ nào đặt chân vào làng trước thì sẽ được đãi một bữa ăn thịnh soạn, sau đó thì bị xin cặp mắt. Nay bà lão đặt chân vô trước, vậy xin cặp mắt của bà lão. Nghe vậy, vợ Trương Viên òa khóc, rồi quỳ xin được hiến cặp mắt của mình thay cho mẹ. Dân làng bằng lòng, thế là họ móc cặp mắt nàng.

 

Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo đó, Tiên trên trời bèn hiện ra và cho nàng cây đàn một dây, dặn rằng: "Cây đàn này sẽ giúp con nuôi được mẹ và sau này gia đình con sẽ được đoàn tụ." Nàng nhận đàn, lạy tạ Bà Tiên. Từ đó hai mẹ con dắt nhau đi đàn ca để kiếm tiền độ nhật.

 

Chiến tranh chấm dứt, Trương Viên trở về nhà thì không thấy mẹ và vợ đâu cả. Hỏi thăm mọi người thì cũng không ai biết. Đoán là hai người đã về quê, Trương Viên vội vã đi tìm.Trên đường đi, anh cũng đi ngang qua làng có hung thần, hỏi thăm thì mọi người thuật lại sự hiếu thảo của nàng , nhưng họ không biết sau đó hai mẹ con đi đâu nữa. Trương Viên buồn bã, đành lang thang đi tìm khắp nơi. Bỗng một hôm khi ngang qua một cái chợ nhỏ, Trương Viên nghe thấy tiếng đàn rất lạ, rồi lại thấy một đám đông đứng chen chúc nhau, hình như họ đang bị quyến rũ bởi tiếng đàn đó. Hiếu kỳ, Trương Viên lách vào coi, thì giật mình nhận ra vợ mình đang đàn một cây đàn lạ, còn mẹ đang ngồi ngả nón xin tiền. Trương Viên mừng rỡ, ôm chầm lấy mẹ và vợ, cả ba người khóc như mưa. Riêng người vợ thì bao nhiêu nhớ nhung, khốn khổ vất vả, lạ còn bị đui mù nữa khiến nàng tủi thân, khóc mãi, khóc đến khô cả nước mắt, rồi thì máu mắt chảy ra. Lạ thay khi dòng máu bắt đầu chảy cặp mắt nàng trở lại như xưa. 

 

Mặc dầu đây chỉ là một truyền thuyết, nhưng khi một nhạc khí mà đã có được một truyền thuyết lưu truyền rộng rãi trong dân gian như thế đủ chứng tỏ rằng nhạc khí đó được yêu thích biết bao nhiêu.

 

Vì đàn bầu xuất phát từ dân gian, nên ít được nhắc đến trong sách sử. Phải đợi tới thời Vua Thành Thái, đàn bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tuy vậy, trong sách Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quí Đôn có ghi lại rằng sứ nhà Nguyên khi sang nước Việt có nói đã thấy cây đàn một dây tại nước Việt.

 

Nói về cây đàn một dây, thì không phải chỉ nước ta mới có. Theo tài liệu của GS Trần Văn Khê, thì tại Châu Á, có nhiều cây đàn một dây:

 

Trung Quốc có đàn Yi xian qin 一絃琴 (Nhất huyền cầm) hay Du xian qin 獨絃琴 (Độc huyền cầm) có dây tơ, gảy bằng các ngón tay mặt, tay trái chặn dây tại nhiều chỗ. Độ cao của các âm tùy theo sự dài ngắn của sợi dây được chặn ở tay trái.

 

Nhật Bản có đàn Ichigenkin 一絃琴, nhất huyền cầm, cũng một dây tơ (xem hình phía dưới), mà tay gảy bằng móng đeo vào mấy ngón tay của tay mặt, tay trái cầm một miếng ngà chặn dây và vuốt trên dây.

Campuchia có đàn Sadev, một dây căng trên cần đàn giữa hai trục. Cần đàn có một bầu gắn vào một đầu của đàn, bầu áp vào người. Gảy đàn bằng ngón tay áp út của tay mặt, tay trái nhấn trên dây ở nhiều điểm khác nhau.

 

Ấn Độ có đàn Gopi Yantra ,gồm một dây căng giữa, một đầu tre và một miếng da có hai thanh tre cặp hai bên. Tay mặt gảy dây, tay trái bóp hai thanh tre làm cho mặt da chùng, thẳng,phát ra những âm thanh có độ cao khác nhau. Độ cao nhất là khi mặt da để thẳng. Chủ yếu phụ họa theo những bài ca hành khất Ấn Độ.

 

Châu Phi có rất nhiều đàn một dây có cung kéo, cung không có bả cung (mèche) mà bằng một cành cây rừng trụi lá có thoa chất làm cho thân ráp để cọ vào dây.

 

Cổ Hy Lạp có đàn một dây, không dùng để đàn mà để làm tiêu chuẩn định thang âm (Pythagore).

 

Ngay tại Việt Nam chúng ta cũng có cái trống quân 1 dây.

 

Qua những đàn một dây kể trên, chúng ta nhận thấy rằng nghệ sĩ đều tạo âm thanh bằng cách thay đổi độ căng-chùng hoặc dài ngắn của sợi dây, mà không dùng kỹ thuật tạo âm bồi như của đàn bầu, vì thế chúng ta có thể khẳng định rằng đàn bầu chính là nhạc khí độc đáo của dân tộc ta.

 

Mô tả đàn bầu:

 

 Đàn bầu là loại đàn hình hộp chữ nhật, một đầu to, một đầu nhỏ , thường dài khoảng 110cm, bề ngang khoảng 12,5cm, đầu nhỏ khoảng 9,5cm, cao khoảng 10,5cm. Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tùng. Mặt đàn hơi cong lên một chút, đáy đàn phẳng có một lỗ nhỏ để treo đàn, một hình chữ nhật ở giữa để cầm đàn,và một khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai, hoặc mun ,để cho chắc chắn và có thể khảm ốc. Trên thành đàn phía tay mặt người gảy đàn có một miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn, qua ngựa đàn, sợi dây thép dầy khoảng 40mm được luồn xuống và cột vào cái trục xuyên qua thành đàn gọi là cái trục lên dây đàn, trục này đẹp vì nó được dấu phía sau thành đàn, nhưng rất dễ tuột dây, vì vậy ngày nay người ta dùng khóa sắt cho chắc chắn hơn. Về phía tay trái người đàn, có một cần dây  còn gọi là vòi đàn ,trên đó gắn nửa trái bầu khô hoặc một bầu tiện bằng gỗ, một đầu dây đàn cột vào cần khoảng giữa bầu đàn. Ngoài ra, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp mobin điện vào dưới mặt đàn, đồng thời khoét một lỗ cắm  zắc dẫn tín hiệu rung của dây vào bộ phận tăng âm. Chính vì dùng điện nên dây đàn phải dùng dây bằng thép thay vì bằng inox.

 

Cách cột dây đàn:

 

Cột dây đàn bầu tương đối khó nên chúng ta xem qua cách cột dây 1 chút.

 

Que gảy đàn: Đây là một bộphận quan trọng dể gảy đàn bầu, Que thường được vót bằng tre, bằn giang, bằng thân dừa gỗ mềm mại hơn, người ta hay làm bông boặc tua, đầu nhọn một chút. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4,5cm.

 

Các tư thế diễn tấu:

 

Thông thường  đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có hai chỗ chặn để khi kéo dây, đàn không bị di chuyển theo).


Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch.Cũng có thể đứng đàn, nhưng không đẹp và cây đàn không được vững bằng cách ngồi.

 

Cách cầm que đàn:

 

Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay phải, còn đốt thứ nhất của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1,5cm. Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa. Khi gảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bồii âm, hất nhẹ que đàn cùng lúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bồi.

 

Cách xác định điểm trên đàn:

 

Nếu gọi dây buông là nốt C thì thứ tự chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn là:

 

1/2 dây có nốt C1 cao hơn dây buông 1 quãng 8
1/3 dây sẽ là nốt G1
1/4 ta sẽ có nốt C2
1/5 dây sẽ có E2
1/6 dây sẽ có nốt G2
1/7 dây sẽ là nốt Bb. Nhưng nốt này ít được sử dụng.
1/8 sẽ có nốt C3

Tóm lại, sáu điểm trên đàn la C1 – G1 – C2 – E2 – G2 – C3 là sắu diểm thông dụng nhất. Ngoài ra ta có âm thực tức là gảy dây buông, thường gảy gần ngựa đàn chứ không gảy vào các điểm đã ghi.Bây giờ, trên bẩy âm thanh này, tay trái chỉ cần điều chỉnh dây căng hoặc chùng , ta sẽ tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa.

Nếu chỉ dừng lại ở chỗ tạo ra những âm thanh rời rạc thì đàn bầu chẳng thể làm cho ta mê mẩn hay xúc động được. Vậy đàn bầu hay ở chỗ nào?Chúng ta cũng thấy rằng chính những kỹ thuật của tay trái đã nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh, cho âm thanh một hơi thở, một sinh khí, một cái hồn.


Cách đặt tay trái trên cần đàn:

 

Ngón rung:

 

Khi gảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ cần đàn, âm thanh sẽ phát ra tựa như làn sóng thì ta có ngón rung. Ngón rung rất quan trọng vì không những nó làm cho tiếng đàn mềm mại mà nó còn thể hiện phong cách của bản nhạc. Với các bài buồn, hoặc bài vui, ta phải rung theo những âm đã được qui định.

 

Ngón vỗ:

 

Vỗ ngón cái, vỗ ngón trỏ. Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uất ức, nghẹn ngào.

 

Ngón vuốt:

 

Miết ngón tay vào cần đàn để cao độ trượt qua các âm và dừng lại ở âm qui định.

 

Ngón luyến:

 

Kéo thẳng cần lên hoặc xuống tới âm qui định

 

Ngón tạo tiếng chuông:

 

Ngón tạo âm bồi trên âm bồi có sẵn. v.v.


Đàn bầu và sự biến đổi của nó:

 

Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng trâu để cho mềm dễ kéo hơn.
Bầu đàn thay vì bằng vỏ bầu khô, người ta dùng sừng trâu, hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể khảm ốc được.

 

Que đàn:

 

Ngày xưa que đàn dài khoảng 10cm, nay có que ngắn khoảng 4cm. Que thường được chuốt bằng tre, giang, nay có thêm bằng gỗ,gỗdừa, hoặc bằng sừng trâu, nhưng sừng trâu dở nhất vì nó quá trơn.


Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm, thì vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quí cho Việt Nam.Sau đó thì cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê trên 1 dây đánh bồi âm trên bồi âm.

 

Thân đàn:

 

Ngày trước không dùng điện nên thân đàn to mặt đàn mỏng, khóa đàn bằng gỗ, ngày nay xử dụng mobine nên đàn thường nhỏ hơn, khóa đàn bằng sắt, gắn mobine trong đàn, khoét lỗ cắm zắc, và điểm táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm, đó là cưa đôi đàn ra, xếp lại cho gọn,khi nào sử dụng thì kéo thẳng ra.

 

Hộp đàn:

 

Ngoài cái hộp thông thường dể đựng đàn, còn có loại hộp vừa để đựng đàn, vừa để làm bàn, rất tiện lợi và gọn gàng. Như chúng ta đã biết, đàn bầu luôn phải căng  và chùng dây, vì vậy rất cần phải có hai chỗ chặn hai đầu cho đàn khỏi bị xê dịch.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !