Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Trần Phước Thuận)
Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
04/11/2012

Nhạc sĩ TRẦN TẤN HƯNG - NGƯỜI BIÊN SOẠN BẢN VỌNG CỔ NHỊP 32

* Trần Phước Thuận

          Ông là môn sinh nhỏ tuổi nhất của Nhạc Khị, nhưng được giao trọng trách tổ chức lễ giỗ tổ cổ nhạc hàng năm tại Bạc Liêu, lại là người thừa kế sự nghiệp nghệ thuật của các bậc tài danh Sáu Lầu, Mười Khói, Ba Chột - ông đã lập thành sáu câu Vọng cổ nhịp 32 đầu tiên ở Nam bộ, tạo dược công lớn trong quá trình phát triển bản Vọng cổ, nên không những người Bạc Liêu mà đa số các nghệ sĩ gần xa đều biết.

 

          Ông sinh ngày 26 tháng 9 năm Tân Dậu (26/10/1921) tại nội thành Bạc Liêu và mất cũng tại đây vào ngày 11 tháng 3 năm Nhâm Tuất (04/4/1982), xuất thân từ một gia đình khá giả người Minh Hương, cha là Trần Tấn Lâm và mẹ là Tống Thị Phước đều là những người cố cựu ở Bạc Liêu. Ông có hai chị, một anh và một em gái, vợ của ông tên Lê Ngọc Báu một phụ nữ hiền lành ở cùng quê với ông. Về con cái thì ông có khá nhiều, đến những năm trai hai gái, nhưng chỉ có hai người là Minh Nguyệt và Tấn Hùng (Hề Bún) đã trơ thành diễn viên cải lương.

 

          Từ thuở ấu thơ ông đã được người nhà gọi một cách thân thương là Em Nhỏ không ngờ cái tên này lại gắn bó với cuộc đời của ông – ông vốn là người con thứ 5 trong gia đình (nếu tính theo người Triều Châu là thứ 4), nên khi lớn lên đa số người xung quanh đều gọi Em Nhỏ thành Năm Nhỏ và sau đó cái tên Năm Nhỏ lại được ông dùng làm nghệ danh, nên từ đó không những người Bạc Liêu mà nghệ sĩ các nơi đều gọi ông bằng cái tên này .

 

          Cha của ông nguyên là một nhà Nho nhưng có đầu óc tiến bộ nên rất chú trọng việc học hành cho con cái, vì vậy các anh em của ông từ nhỏ đã được học hành, riêng ông đã học đến lớp 9 thời đó (classe de neuvième) và đậu được bằng Brevet d’etude du premier cycle (Trung học đệ nhất cấp); có lẽ đến đó cái duyên với trường học đã hết nên cậu học sinh Trần Tấn Hưng đã rời ghế nhà trường; tuy nhiên sau 10 năm đèn sách ông cũng đã nói rất thông thạo tiếng Pháp.

 

          Vào những năm đó phong trào đờn ca tài tử đang lên, nhất là từ khi bài Vọng cổ Văng vẳng tiếng chuông chùa ra đời, phong trào này như diều gặp gió – lớn mạnh rất mau chóng; khách ái mộ cũng nhiều, người tham gia cũng đông, sức thu hút của bài Vọng cổ rất mạnh mẽ. Trần Tấn Hưng ngay những năm còn học đã mê cổ nhạc, nên ngoài giờ học ông thường dợt đờn để giải khuây, ông say mê  đến nỗi phải mua riêng một dàn hát máy và một cây đờn ghi ta để mò mẫm từ nốt nhạc trong đó, nhưng cái lối học đờn không người hướng dẫn này mặc dù có nhiều cố gắng cuối cùng vẫn chẳng tiến bộ được bao nhiêu, tuy nhiên ông cũng đờn lõm bõm được vài bản vắn.

 

          Năm 1936 Trần Tấn Hưng chính thức thọ giáo với Nhạc Khị, Nhạc Khị lúc này đã quá già yếu lại thường hay bệnh, nên việc dạy đờn cho các môn sinh mới đều ủy thác Ba Chột, Sáu Lầu ; vì vậy Trần Tấn Hưng tuy làm lễ bái sư với Nhạc Khị nhưng kể như chính thức mở đầu cuộc đời nghệ thuật từ hai vị sư huynh này.  Ông rất thông minh lại chuyên cần tập luyện cộng thêm sự hướng dẫn tận tâm của các huynh trưởng nên việc học đờn tiến bộ rất nhanh ; chỉ hai năm đầu đã thông suốt ba Nam, sáu Bắc và các nhạc bản do Nhạc Khị, Sáu Lầu, Ba Chột sáng tác .

 

Ông tâm đắc nhất là bản Vọng cổ và tiền thân của nó là bản Dạ cổ hoài lang, sở trường của ông lại là chiếc đờn ghi ta phiếm lõm (lục huyền cầm) nên rất thích hợp với giọng mùi mẫn của loại nhạc điệu này. Chiếc đờn ghi ta vốn có nguồn gốc từ phương Tây là một nhạc cụ rất phổ thông của tân nhạc, vào khoảng năm 1935 được nhạc sĩ Arman Thiều của đài Pháp Á dùng để đờn cổ nhạc, lúc đầu cây đờn cũng vẫn để nguyên một thời gian, nhận thấy chữ nhạc thiếu mùi nên vị mhạc sĩ nầy đã dũa phiếm để dễ nhấn chử đờn, thành ra chiếc đờn ghi ta phiếm lõm và bởi nó có sáu dây nên gọi là lục huyền cầm. Tuy tiếng đờn rất êm nhưng lúc bấy giờ chiếc đờn ghi ta vẫn chưa được phổ biến rộng trong giới cổ nhạc, nhất là ở các tỉnh miền tây Nam bộ chỉ có một ít người sử dụng. Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ) chính là người đầu tiên sử dụmg ghi ta như là một nhạc cụ chính thống của cổ nhạc ở Bạc Liêu và ông đã thành công lớn với chiếc đờn nầy, nhà nghiên cứu Huỳnh Minh trong khi viết tác phẩm Bạc Liêu xưa và nay đã xác nhận “Năm Nhỏ thì sở trường lục huyền cầm, ai ai cũng dều biết tiếng tài tình”.

 

           Lúc đó bản Vọng cổ đang trên đà phát triển, mỗi câu càng lúc càng được kéo dài ra, chữ đờn nhiều hơn và êm ái, nhẹ nhàng hơn … đã trỡ thành bản Vọng cổ nhịp 16, nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của những người ái mộ. Nắm bắt được nhu cầu này ông đã cố gắng sáng tạo chử đờn để biến bản Vọng cổ trở thành nhịp 32. Theo nhận xét của ông bản Vọng cổ 20 câu nhịp 16, về số câu thì quá dài còn lòng câu của mỗi câu lại ngắn, chỉ phù hợp với đờn ca tài tử không phù hợp với sân khấu cải lương; ông muốn rút số câu lại còn 6 câu và mở bung mỗi câu thành 32 nhịp cho diễn viên dễ trình diễn hơn. Ước muốn của ông đã được thầy với các sư huynh khuyến khích và giúp đỡ; riêng ông Ba Chột luôn chú tâm theo dõi và giải quyết những khó khăn trong suốt thời gian sáng tác của người sư đệ nhiều tâm huyết này.

 

          Cuối cùng Trần Tấn Hưng đã thành công; ông đã độc tấu bản Vọng cổ nhịp 32  do ông sáng tác với chiếc đờn ghi ta trong ngày giỗ tổ ngày 12 tháng 8 năm Tân Tỵ (1941). Nhạc Khị thật không ngờ người môn sinh nhỏ tuổi nhất của mình lại biên soạn được một bản Vọng cổ nhịp 32 hay như thế, nên sau khi khen tặng ông đã đồng ý cho phổ biến ở Bạc Liêu. Hôm đó mọi người đều rất hân hoan, ai nấy đều mỗi câu chúc mừng thành quả của người “em nhỏ; nhạc sĩ Cao Văn Lầu mừng rỡ hơn ai hết vì ông đã thấy bản Vọng co - hóa thân của Dạ cổ hoài lang thêm một lần chuyển mình và phát triển ; sau đó ông cũng đã nhiều lần phát biểu : “Bản Dạ cổ hoài lang nhịp đôi do tôi đặt ra, nhưng biến đổi thành bản Vọng cổ có nhiều nhịp như hiện nay là do công của Trịnh Thiên Tư, Năm Nghĩa, Mộng Vân và Năm Nhỏ”. Bản Vọng cổ nhịp 32 của nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình phát triển của Vọng cổ nói riêng va Cải lương Nam bộ nói chung; đã góp phần tạo điều kiện cho người sáng tác cổ nhạc, biên soạn kịch bản và diễn viên sân khấu có điều kiện để thực hiện được hết khả năng và nghệ thuật của mình.

 

          Sau khi được phổ biến ở Bạc Liêu, bản Vọng cổ nhịp 32 được truyền đi nhanh chóng ở các nơi, càng về sau bản này càng được nhuận sắc và canh tân, đến nay ở Nam bộ đã có rất nhiều dị bản. Các bản càng mới càng tươi mướt hơn, chữ đờn mùi hơn vơi nhiều loại dây khác nhau; tên của các loại dây cũng tùy theo tên của mỗi địa phương có sự xuất hiện của mỗi dị bản mà gọi như : Dây Bạc Liêu, Rạch Giá, Long An, Sài Gòn … hoặc gọi thẳng nghệ danh của người đã cải biến ra bản đó như: Dây Văn Vĩ, Văn Giỏi, Hoàng Thành … hoặc các tên khác như : Dây Ngân Giang (Bảo Chánh), dây Tứ Nguyệt, dây Xề ... Bản Vọng cổ càng ngày càng có vị trí lớn trong các vở  cải lương, đến nay có thể nói đã chiếm được vị trí độc tôn trên sân khấu cải lương và vô hình trung đã trở thành bản tiêu bieu nhất của cổ nhạc Nam bộ.

 

          Bản nhạc gốc của nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã được nhà nghiên cứu cổ nhạc Trịnh Thiên Tư ghi lại và sau đó đã in trong tác phẩm Ca nhạc cổ điển của ông.  Nhân sự ra đời và phát triển của bản Vọng cổ nhịp 32, Trịnh Thiên Tư đã sáng tác hai bài ca Vọng cổ mang tên : Huyền Trân tủi phậnTìm bạn lạc loài ; bản chép tay của hai bài ca này đã được tác giả gởi tặng nhạc sĩ Trần Tấn Hưng để làm kỷ niệm; đây là hai bài Vọng cổ đầu tiên loại 6 câu nhịp 32 được sáng tác ở Bạc liêu (sau đó cũng được in trong sách Ca nhạc cổ điển).

 

          Sau khi biên soạn bản Vọng cổ nhịp 32, nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã tiếp tục nghiên cứu các nhạc khúc cổ ; cuối cùng đã biên soạn thêm được ba bản vắn mang tên : Phước Châu (1942), Minh Vương thưởng nguyệt (1943) và Tùng lâm dạ lãm (1943). Ba bản này sau khi ra đời đã được sử dụng trong đờn ca tài tử và cải lương Nam bộ.

 

          Năm 1948 Nhạc Khị qua đời, các đệ tử lớn của ông như : Sáu Lầu, Chín Khánh, Tư Bình, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân … đa số đều đã thành danh và có sự nghiệp riêng; nhạc sĩ Ba Chột cũng đã xoay qua nghề làm nón, ông đã mở một cửa hiệu nhỏ ở chợ Bạc Liêu để bán nón và sửa nón nỉ nên rất bận rộn với công việc này; vì vậy ban nhạc Bạc Liêu lúc bấy giờ chỉ còn lại những nhạc sĩ trẻ và những người mới gia nhập, vì vậy ban  nhạc khi hợp khi tan, hoạt động càng ngày càng yếu đi . Nhận thấy tình hình này không thể kéo dài được nữa, nên trong lần cúng tổ ngày 12 tháng 8 năm Canh Dần (1950) hai nhạc sĩ đờn anh là Sáu Lầu và Ba Chột đã chủ động đề cử nhạc sĩ Trần Tấn Hưng làm trưởng ban nhạc Bạc Liêu, các nhạc sĩ khác đều đồng tình hưởng ứng. Cũng trong buổi lễ đó nhạc sĩ Ba Chột đã tuyên bố với các bạn đồng môn vì hoàn cảnh sinh sống của ông lúc đó rất khó khăn, việc làm ăn lỗ lã lại sắp phải dời nhà, nên việc thờ tổ và cúng tổ sợ e khó đảm đang, vì vậy xin giao lại trọng trách này cho các huynh đệ. Tập thể nhạc sĩ lúc đó bàn tán rất lâu đối với vấn đề này, cuối cùng đã thống nhất đề cử nhạc sĩ Trần Tấn Hưng phụ trách việc thờ tổ và cúng tổ. Kể từ đó, ông phải đảm đang hai trọng trách; vừa đứng đầu ban nhạc vừa chịu trách nhiệm tổ chức lễ giỗ tổ cổ nhạc vào ngày 12 tháng 8 hàng năm ở Bạc Liêu. Địa điểm thờ cúng sau buổi lễ năm đó được chính thức dời về nhà riêng của nhạc sĩ Trần Tấn Hưng toạ lạc tại số 225 đường Minh Mạng - Bạc Liêu (hiện nay là số 165 đường Nguyễn Thị Minh Khai - phường 5 - thị xã Bạc Liêu ). Trong thời gian này uy tín và tiếng tăm của ông khá lớn trong giới cổ nhạc nên đa số các đoàn cải lương về trình diễn ở Bạc Liêu như  : Thanh Tao, Thanh Minh Năm Nghĩa, Hoa Sen, Kim Chưởng, Thanh Hương Hùng Minh, Minh Chí Việt Hùng, Văn Chung Thanh Hương, Thống Nhất Thủ Đô … đều có  mời ông đến đờn chầu cho các đêm hát.

 

          Đến năm 1965, Ban cổ nhạc có phần đông hơn trước, địa bàn hoạt động cũng rộng hơn, nhạc sĩ Trần Tấn Hưng nhận thấy có nhiều người ca hay đờn giỏi, với lực lượng này nếu khéo tổ chức có thể thành một đoàn cải lương. Bởi nghĩ thế nên một mặt ông xin phép lập đoàn hát một mặt liên hệ với Hoài Phong Tử (cũng là người Bạc Liêu) để hợp đồng tập tuồng. Các thành viên của Ban cổ nhạc sau đó đa số đều biến thành đào kép; đoàn hát ra đời mang tên Đoàn cải lương Nam Dương - Bạc Liêu; kịch bản đầu tiên là vở Tiếng sáo vọng chinh phu của soạn giả Hoài Phong Tử, sau khi tập luyện được 4 tháng ở đình An Trạch (phường 5-Bạc Liêu) đã khai trương tại rạp Thuận Hóa (Sóc Trăng). Nhưng có lẽ cái số làm bầu của ông quá ngắn ngủi nên đoàn Nam Dương chỉ trình diễn được một ben hát ở đây rồi giải tán.

         

Nhưng cái duyên nghiệp với cải lương còn dài nên chỉ vài tháng sau khi ông về nhà, đoàn Dạ Minh Châu (Thanh Minh Thanh Nga II) đã cử người đến mời ông phụ trách  dàn cổ nhạc của đoàn này; nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã ký hợp đồng và kể từ đó bắt đầu cuộc đời của một nghệ sĩ cải lương rày đây mai đó. Suốt hai năm phục vụ cho đoàn này ông đã hướng dẫn thực tập bài bản cho rất nhiều tài năng trẻ, trong đó ngoài con gái của ông là Minh Nguyệt còn có Thanh Kim Huệ, Huyền Nga, Thu Nguyệt … Sau khi dứt hợp đồng với đoàn Dạ Minh Châu (1967), ông tiếp tục ký hợp đồng với một số đoàn cải lương khác; nhưng có một điều đặc biệt là dù cho đang hợp tác với đoàn hát nào hoặc đang phục vụ ở đâu; cứ gần đến ngày 12 tháng 8 âm lịch là ông đều có mặt ở Bạc Liêu để lo  tổ chức lễ giỗ tổ.

 

          Đến năm 1972 nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã chính thức chấm dứt cuộc đời hồ thủy của mình, ông ở tại nhà lo mở lớp dạy đờn ca cổ nhạc để thực hiện lời dặn bảo của thầy lúc còn sinh tiền; trong 10 năm cuối đời không những ông đã tạo được một lượng lớn nghệ sĩ đờn ca tài tử ở Bạc Liêu mà còn đào tạo thêm một số nhạc sĩ, diễn viên cho sân khấu cải lương Nam bộ; tiêu biểu nhất trong số này là Hoàng Thọ, Tấn Tiết, Tấn Hùng, Kim Cúc, Mộng Thu ... Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời của mình cho nghệ thuật, ông thực sự đã đóng góp lớn lao cho phong trào đờn ca tài tử ở Bạc Liêu và cho  sự phát triển cổ nhạc Nam bộ, cũng vừa là người tiên phong tạo nguồn lực cho bản Vọng cổ nhịp 16 thay hình đổi dạng biến thành bản Vọng cổ nhịp 32 - một sản phẩm diệu kỳ của cổ nhạc và cải lương Việt Nam.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !