Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Những huyền thoại Tam Cốc (Đỗ Trung Lai)
Những huyền thoại Tam Cốc (Đỗ Trung Lai) PDF In E-mail
Người viết: Đỗ Trung Lai   
04/11/2012

NHỮNG HUYỀN THOẠI TAM CỐC

* Đỗ Trung Lai

Tam Cốc (Ba Hang) - Bích Động là một danh thắng quốc gia, nằm ở Hoa Lư, Ninh Bình, nơi phát tích của nhà Đinh (968 - 980)… Tôi sẽ không kể về những gì mà sách du lịch đã viết, tôi chỉ kể về những huyền thoại dân gian Tam Cốc, do tôi nhặt nhạnh được từ phía sau vẻ đẹp nước non vùng này.

Hổ Tam Cốc

Ở chân một ngọn núi trong Tam Cốc, có một cái "hang" (nói theo kiểu chúng ta), cũng tức là có một cái "hốc" (nói theo kiểu người Văn Lâm bản địa), gọi là "hang hùm" (hay là "hốc hùm").

Cách đây 40 năm, đột nhiên có một ông chúa sơn lâm lừng lững về hang, "Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng - Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc" (thơ Thế Lữ). To quá, người ta gọi là Hùm chúa.

Dân làng hám lợi, đem gỗ và tre cứng tới cửa hang, dựng nên một chiếc bẫy bắt hùm. Làm cách gì, Hùm chúa cũng không lộ diện! Họ bèn hè nhau chất rơm rạ đầy cửa hang rồi đốt, định bụng hun cho chúa sơn lâm ngạt mà ra.

Rơm rạ cháy hết, khói tan cả rồi, mà bẫy vẫn trống không! Làng treo thưởng cho ai dám vào hang thám thính. Cuối cùng, có một gã trai lực lưỡng, can đảm nhất làng, nhận lời.

Đi mấy chục thước, bằng ánh sáng của một cây đuốc lớn, gã trai thấy chúa rừng nằm phủ phục, oai phong trên nền đá cuối hang. May cho gã, Hùm chúa đã "thăng"! Dân làng, theo lời gã trai, đốt đuốc cùng vào hang, đo từ đầu mũi đến mỏm đuôi, chúa rừng dài gần 5 thước!

Nhìn kỹ chiếc hang trông như họng một con rồng trong phim kinh dị Mỹ, khói cũng không sao lùa vào tới cuối hang. Họ chợt tỉnh ra và hiểu rằng, không phải họ đã hun chết chúa rừng, mà chính là chúa rừng đã tìm về để "tự táng" mình trong họng rồng!

Họ lặng lẽ xếp đá thành mộ chúa rừng rồi thường xuyên hương khói. Họ nhớ lại rằng, cha ông họ, xưa kia đã từng đi thuyền qua Tam Cốc, rồi dựng nên cả một ngôi đền, gọi là đền Nội Lâm (đền Trong rừng), để thờ chúa sơn lâm và "bà bói". "Bà bói" thì không ai rõ tích, có lẽ là người đàn bà đã chế ra câu sấm "Hổ chết để huyết" và trỏ chỗ cho làng xây đền, còn chúa sơn lâm thì vừa hạ sơn và "tự táng".

Họ cũng nhớ ra rằng, xưa nay chỉ có người làng khác đến rừng Văn Lâm là bị hổ vồ, chứ hổ chưa từng vồ một người dân Văn Lâm nào. Hổ chính là linh vật, là vật khước, là thần hộ mệnh của làng Văn Lâm. Chắc rằng xưa kia, cha ông họ đã chứng kiến nhiều điều kỳ lạ, huyền hoặc về chúa sơn lâm mà phải dựng đền Nội Lâm.

Ngay cả bây giờ, chữ "Lâm" trong tên làng cũng phần nào được coi là để chỉ giống hùm. "Văn" nghĩa là "nghe" trong chữ Hán, Văn Lâm là "Nghe tiếng rừng". Tiếng rừng, vô địch là tiếng hổ.

Bây giờ, đền Nội Lâm còn đó, "Hốc Hùm" còn đây. Và vẫn có người, không chỉ nghe tiếng hổ, mà còn gặp hổ. Đó là ông Dư, Trưởng thôn. Hai năm trước, tức là năm 2005, ông đi xem bẫy thú, thấy bẫy của mình sập, lông gà mồi bay tơi tả, cây cỏ quanh bẫy dập nát, nghiêng đổ. Nhìn lên núi, ông thấy một con hổ xám vàng cỡ tạ đang nhìn mình, ông vội bỏ về.

Mấy hôm sau, ông đem bẫy xuống đầm lầy, mồi là một con cuốc, rồi nấp ở đằng xa, rình đợi cho hổ xuống đầm, sa lầy mà đến bắt. Nhưng con hổ chỉ đến cách ông 500 thước thì dừng lại. Hai kẻ nhìn nhau một hồi rồi kẻ trở lại rừng, kẻ về nhà.

Đã mấy lần, ông Dư định đem gà và kíp mìn đi đặt, nhưng sợ kiểm lâm, lại thôi. Có người biết, bảo ông bỏ ý định bắt hổ đi. Kiểm lâm là một nhẽ. Nhẽ khác, lớn hơn là người Văn Lâm thờ hổ. Ông Dư nghe ra và đã bỏ bẫy. Nhưng "Hổ chết lưu huyết" là thế nào? Ấy là, huyết hổ, ngay cả khi đã bị nướng chín, vẫn cứ đỏ ròng ròng, như để khẳng định cái vị thế kỳ lạ, oai linh, vô địch của chúa sơn lâm vậy.

Cá Tam Cốc

Thoa và Hải bảo, Hưởng là "vua câu" Tam Cốc. 20 năm nay, "ngoài việc câu cá và nhậu, Hưởng không làm gì khác". Năm nay Hưởng 45 tuổi. Quý tôi, Thoa và Hải bảo Hưởng vác cần vào núi, câu cá quý về cho tôi ăn thử. Hưởng vác cần đi nhưng nói trước, cuối tháng chín ta, trời trong thế này, câu khó lắm, đi cầu may thôi.

Cả một ngày, Hưởng đem về một con cá chó. "Thế cũng tốt" - Thoa bảo thế và xiên con cá chó duy nhất ấy vào một cành tre, nổi lửa nướng cá, cá chín, mùi thơm ngày chăn trâu cắt cỏ bay về, đầy cả ngôi nhà sàn Thái dựng ven hồ.

Con cá chó chỉ to cỡ chuôi liềm, mọi người nhường tôi khúc giữa với bộ lòng. Gọi là bộ lòng, thực ra nó chỉ bằng hai cái đầu tăm. Nhưng nó còn nguyên huyết đỏ tươi như huyết hổ, ngậm vào, ngọt lừ vị quý!

Cá chó chỉ khác con cá sộp nhỏ ở chỗ, diềm vây mang, vây lưng và vây bụng của nó đỏ rực như lửa. Thịt nó rắn, ngọt và thơm nhất, may ra chỉ có cá tràu là địch nổi, không hề có mùi tanh. Ngày xưa, cá chó, cá tràu chỉ để dâng cho Đinh Bộ Lĩnh - Hưởng kể. Hai giống cá này chỉ chuyên sống trong núi đá vôi.

Tràu lớn nhất cũng chỉ khoảng hai cân, chó thì chỉ một vài lạng. Các nhà hàng ở đây đặt Hưởng 80 đến 90 ngàn đồng một cân. "Nhưng tội gì mà bán cho họ. Để nhắm với nhau thích hơn nhiều" - Hưởng bảo thế. Đi câu tràu, chó cũng như câu chuối, sộp, cùng một thứ mồi, chỉ nên đi vào mùa nước lớn, lụt thì càng hay.

Một ngày mùa mưa, Hưởng có thể câu được một cân chuối, sộp, một tháng bán tới 30 cân. Nhưng cả vụ câu, chỉ có thể câu được một yến tràu; chó thì còn ít hơn, Hưởng bảo, nơi nào bên trên có tổ ong là ở dưới dễ có tràu, chó. Chúng thích ăn ong nhất. Chú ong nào bay thấp là bị ngay. Chúng cũng biết nhảy lên bờ cho kiến bâu rồi nhảy trở xuống nước để đớp kiến nổi lên như chuối, sộp.

Chúng cũng thích nhái, cào cào, châu chấu. Các loài cá nhỏ khác cũng là mồi của chúng. "Thịt cá chó ngon gấp nhiều lần thịt cá anh vũ. Bây giờ đi mua cá chó cũng khó như mua hổ châu Á" - Hưởng cười - chỉ có Hưởng với bạn bè Hưởng mới được dùng mà thôi

Tam Cốc còn có một thứ cá, hiếm quý hơn cả cá tràu, cá chó - Hưởng làm tôi tròn mắt. Đó là cá hổ sộp, nó hệt con sộp nhưng dài hơn. Lên cạn, nó nhảy như rắn. Nó là "Hổ mang chúa" trong các loài cá. Nó có nọc độc. Để nó cắn phải là chết ngay tức khắc. Dưới nước thiếu mồi, nó lên bờ kiếm ăn.

Hưởng chưa câu được hổ sộp, nhưng con chuối to nhất anh câu được nặng tới 4 cân rưỡi. Nó đớp mồi như chó đớp rồi chui tụt vào hang. May là dây câu ngoại nên không bị đứt. Hưởng kéo mãi nó mới ra, đè nó xuống đất, cởi quần, tống nó vào ống quần, Hưởng mới gỡ được lưỡi câu.

Đem về nhà, không thể chặt được, phải lấy chày đập vào sống dao, những khoanh cá mới đứt ra. Có 9 khúc tất cả, khúc nào cũng kín một chiếc đĩa đường kính 15 phân. Con trắm đen to nhất của Hưởng nặng tới 6 cân rưỡi.

"Tôi xin thằng em vào đồng cá của nó câu tràu, trắm đen nó nuôi. Tôi lặng lẽ đè hai bó củi lên cá câu được rồi dong thuyền về. Nó không biết" - Hưởng cười, mắt lấp lánh, nâng chén rượu, khà một tiếng, vuốt bộ tóc như bờm sư tử đực, rồi châm một điếu thuốc lào.

Hưởng bảo, cá quý, cá to để nhắm tất, "Cả đời câu mới gặp, mình đói khát gì đâu mà phải bán".

Thoa còn kể rằng, bạn Thoa, anh Chính ở thôn Khê Đầu, đi đổ rọ rô, được nửa thuyền rồi thì câu được con tràu cân rưỡi. Bắt được tràu thì loạng choạng làm lật thuyền, mất cả nửa thuyền cá rô!

Thoa bảo: "Mày ngu thế! Được con tràu cân rưỡi mà mất nửa thuyền rô". Chính cười: "Có mày ngu thì có, nửa thuyền rô là tao gửi sông Ngô Đồng, hôm khác tao bắt lại, còn con tràu này lấy đâu ra?". "Đúng là em ngu thật! Nó mới đúng" - Thoa kể rồi bảo tôi thế.

Cứ vậy, hễ ngồi bên các bạn ở Tam Cốc là bao nhiêu chuyện lạ bay ra, y như ong thấy hoa kéo về. Chúng làm cho non nước Tam Cốc thêm kỳ bí, ảo huyền.

Trăn, rắn Tam Cốc

Nhiều người dân ở đây bảo rằng đã từng trông thấy một con hổ mang chúa, thân to như cái phích nước, nặng ước 50 - 60 cân, sống quanh quẩn bên núi Đá Lở, xã Ninh Mỹ, cạnh Tam Cốc. Khi tự vệ hoặc bổ mồi, nó cất đầu lên cao hơn ngọn lúa chừng vài thước! Người ta truyền nhau, gặp hổ chúa thì thợ rắn phải bỏ đồ nghề, bỏ luôn, rồi nhanh chân mà xéo! Ông Hứa, thợ rắn - thợ ba ba ở Ninh Hải, đã từng gặp nó, nhờ bỏ chạy mà sống.

Dân xã Ninh Mỹ thấy nó ra bắt vịt đàn, bèn bỏ cả đàn vịt mà thoát thân. Một anh dân quân nghe nói, xách súng AK47 ra, thấy nó cất đầu lên thì hồn vía lên mây, bỏ cả súng, mã hồi! Đó là rắn thần, không thể làm gì nó được.

Khủng khiếp nhất là lần nó vồ anh Dương, con cụ Thái ở Văn Lâm. Thấy hổ chúa bổ mình, anh cúi đầu chịu chết, may mà anh đội chiếc mũ cối, rắn bổ vào mũ chứ không vào mặt. Không hiểu sao anh chạy thoát được? Có lẽ rắn chỉ cần người ta để yên cho nó kiếm ăn là được.

Về nhà, giở chiếc mũ cối khỏi đầu, hai vết răng độc gần xuyên thủng mũ. Xung quanh hai vết răng, nửa chiếc mũ của anh, vốn là màu xanh lá cây, đã trở nên bạc xóa. Chao ôi, nọc độc mạnh đến nỗi biến nhựa thành vôi! Nếu nó bổ vào mặt, vào đầu thì còn gì là mạng? Từ đó, Dương thôi nghề bắt rắn.

Nghe chuyện rắn, tôi ước giá có ly rượu rắn thì tốt quá. Anh Hưởng, một tay giang hồ trong vùng, bảo thiên hạ vốn không biết chọn rắn mà ngâm. Tôi hỏi, Hưởng bảo, nếu là rắn bắt vào mùa mưa, thì tốt nhất là băm rán, chứ ngâm làm gì.

Chỉ có rắn mùa khô, khi nó tích mỡ, tích độc để qua đông, thì mới ngâm rượu được. Nói thế, tức là rắn các tháng ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín đều chỉ đáng nhắm rượu. Rắn bắt vào các tháng mười, một, chạp và giêng, hai thì mới đáng ngâm. Nọc rắn bảo là độc thì cực độc; bảo là tốt thì lại rất tốt. Nó chữa được nhiều bệnh.

Anh Cừ, thợ rắn ở Ninh Sơn, bóp cho hổ mang há mồm phun nọc ra mặt kính, rồi thè lưỡi liếm nọc, nuốt chửng, chỉ chiêu qua một ngụm rượu. Cừ bảo, Cừ luôn làm thế và chả tật bệnh gì bao năm nay, nọc rắn chỉ độc khi nó đi được vào đường huyết người ta, ngoài ra thì không sao.

Tôi hỏi, thế nhỡ người ta sứt môi, lưỡi, họng, ruột, dạ dày… mà nuốt vào thì sao? Cừ cười, chả bảo gì! Tôi nhìn Cừ, chợt thấy cả người anh ta là một bọng nọc rắn.

Từ chuyện rắn, lại sang chuyện trăn. Anh Thoa ở Văn Lâm, đi câu cùng người em trai tên là Hải. Hai anh em thấy trên mặt nước, có một cái đầu nhô lên, to như quả bưởi, hai mắt thao láo! Thoa và Hải để lưỡi câu trần, ném ra rồi giật, nó chẳng thèm chạy.

Đánh hơi thấy trăn lớn, hai anh em bỏ về. Sau đó ông Dương Át, người ở khu tập thể Nhà máy Điện Ninh Bình, vào đánh cá đẻ, thấy cây cỏ đung đưa, nghĩ là chép vật, ông quăng ngay một mẻ chài. Nhưng có lẽ, ông đã gặp phải con trăn mà anh em Thoa - Hải đã gặp. Nó đội chài chạy tuốt vào núi rồi gỡ chài bỏ lại, đi mất.

Nghe chuyện, ông Sít, một thợ bẫy hổ, đi dò thấy vết trăn, ông đặt một cái bẫy kiềng rồi buộc bẫy vào đầu một đoạn xích sắt lớn, dài 1,5 thước. Đầu xích kia cột chặt vào một chiếc xà beng dài hơn một thước và đóng hết xuống đất.

Hai ngày sau, đi thăm bẫy, ông thấy chỉ còn độc cái lỗ xà beng! Trong khoảng bán kính 10 thước, cây cỏ nát bét. Con trăn đã tha cả bẫy, cả xích sắt, cả xà beng theo vết máu vào núi! Từ đó, không còn ai thấy bóng trăn lớn đâu nữa…

Bây giờ vào đồng rừng kiếm cá, rất nhiều lần mồi câu của cánh thợ câu đã bị rắn ra ăn mất. Và nếu không cẩn thận, chính họ cũng bị rắn tấn công. Hốc đá, lau sậy, nước rừng, thức ăn đều sẵn, rắn và trăn Tam Cốc luôn như ở trong xứ thần tiên của chúng!

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online