Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Lễ cưới của người Dao (TS Đàm Thị Uyên)
Lễ cưới của người Dao (TS Đàm Thị Uyên) PDF In E-mail
Người viết: TS Đàm Thị Uyên   
04/11/2012

LỄ CƯỚI CỔ TRUYỀN Ở NGƯỜI DAO QUẦN TRẮNG BẢN KHÂU LÌNH

* TS. Đàm Thị Uyên – Nguyễn Văn Luyện

          Ở bản Khâu Lình, xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có một nhóm người Dao Quần Trắng với 65 hộ, 325 nhân khẩu rất coi trọng việc hôn lễ.

          Khi anh con trai trong gia đình đến tuổi lấy vợ (khoảng 18 – 20) thì cha mẹ gắng tìm một nàng dân vừa ý. Để lựa chọn được nàng dâu phù hợp với con trai mình, gia đình phải nhờ những người thân giới thiệu hoặc họ lưu ý đến những cô gái trong các dịp giao tiếp. Khi đã ưng ý một cô nào đó, cha mẹ chàng trai sẽ để ý tìm hiểu về lai lịch gia đình, cá tính, năng lực và các quan hệ của cô gái đó qua nhiều kênh thông tin.

          Cô gái được chọn thường phải là người biết làm ăn, chăm chỉ, nhanh nhẹn. Trước khi đi tới hôn nhân, nam nữ Dao Quần Trắng thường được tự do tìm hiểu nhau ở mức độ nhất định, được thổ lộ tình yêu qua các buổi làm đồng, làm nương, nhất là qua các dịp hát đối đáp giao duyên ngày xuân hay tại các đám cưới trong bản. Nhưng mọi chuyện chỉ dừng lại ở tình yêu, còn việc đi đến hôn nhân lại là do cha mẹ quyết định.

          Người Dao Quần Trắng tuân theo nguyên tắc ngoại tộc hôn. Những người cùng dòng họ, cùng huyết thống không được lấy nhau. Dư luận trong thôn bản rất khắt khe với nguyên tắc nói trên.

          Đám cưới truyền thống ở đây phải trải qua đầy đủ các nghi thức như sau:

          * Lễ dạm hỏi và lễ hợp mệnh (nai bòng). Khi cha mẹ chàng tai đã chọn được nàng dâu tương lai, thì phải nhờ ông mối (lài cóng) giúp sức. Đó là một người đứng tuổi, am hiểu phong tục – tập quán, có tài ứng đáp, có uy tín, được nhiều người kính nể, gia đình hòa thuận, đông con nhiều cháu, nhất là phải gần nhà cô dâu.

          Ông mối thay mặt nhà trai sang nhà gái thưa chuyện về ý nguyện và gia cảnh của nhà trai. Thông qua ông mối và những gì đã biết về chàng trai, gia đình nhà trai, bố mẹ cô gái đưa ra ý kiến của mình. Nếu nhà gái không thuận thì tìm cách từ chối khéo sao cho khỏi mếch lòng nhà trai. Còn nếu ưng thuận thì sẽ cho biết tuổi cô gái. Tuổi cô gái (tính theo âm lịch) sẽ được ông mối ghi nhớ cẩn thận rồi đem cô để gia đình chàng trai nhờ thầy cúng so đôi tuổi.

          Thầy cúng sắp xếp bản lộc mệnh của đôi trai gái theo ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Các hành luôn tương tác với nhau theo 2 xu hướng. Ngũ hành tương sinh (thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa và hỏa sinh thổ) và ngũ hành tương khắc (thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ…)

          Nếu nam nữ “hợp mệnh” thì được quan niệm là cuộc sống sẽ êm ấm, hạnh phúc, nhiều con cháu. Ngược lại, nếu tương khắc thì cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, làm ăn lụn bại, có khi phải chia lìa nhau. Bên cạnh đó, người ta còn phải xme cung số của đôi trai gái có sát nhau không.

          Trước đây, việc so tuổi có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của hôn nhân, chỉ khi nào tuổi hai người hợp nhau thì đám cưới mới được tổ chức; nếu không thì dù hai bên gia đình và đôi trai gái có ưng thuận, đám cưới cũng phải hủy bỏ.

          * Lễ xem chân gà (tảng chảy). Nhà trai chọn một ngày tốt, bố chàng trai cùng ông mối sang nhà gái, lễ vật đem theo là một con gà trống (gà giò) của nhà ông mối, một chai rượu. Trong buổi lễ, nhà trai cho biết kết quả của việc so tuổi và xin được thực hiện các nghi thức tiếp theo. Họ mổ gà cúng tổ tiên, trình báo mong muốn của hai gia đình, xin tổ tiên phù hộ. Nếu thấy chân gà (cúng) cong đều, chụm, không ứ máu là tốt. Trong trường hợp chân gà không như ý, hai gia đình có thể lập lại nghi lễ này, để xem việc hôn nhân có thể được tiếp tục không.

          Nhiều trường hợp cung số hợp nhưng chân gà không tốt, hôn lễ cũng không được tổ chức. Sẽ tùy vào hoàn cảnh, thời điểm lễ tàng chảy, nhà trai sẽ báo ngày giờ làm lễ dạm hỏi chính thức để nhà gái cói thể chuẩn bị chu đáo.

          * Lễ ăn hỏi (trò chảy toi). Đúng ngày đã định, bố chú rể, ông mối và một người mang lễ vật gồm: 4 gà trống thiến, 4 lít rượu, một kg chè, một túi thuốc lá sang nhà gái. Phía nhà gái tiếp đoàn nhà trai có anh em họ hàng, làng xóm gần gũi. Sau bữa cơm, đại diện hai gia đình bàn bạc việc cưới xin, thỏa thuận về sính lễ, về việc ở rể… Lễ vật thách cưới nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào khả năng của ông mối, cũng như kinh tế của từng gia đình, thông thường gồm: 50 kg thịt lợn, 5 đôi gà trống thiến, một con gà già, 10 lít rượu, một kg chè, trầu cau, 3 đồng bạc trắng. Nội dung cụ thể được ghi vào tờ “hôn thư” trước sự chứng kiến của mọi người.

          Dựa vào tờ “hôn thư”, hai gia đình thực hiện nghĩa vụ của mình, đặc biệt là việc chuẩn bị lễ vật của nhà trai.

          Sau lễ ăn hỏi, bố mẹ chàng trai đem lễ vật gồm một con gà trống, một chai rượu, nhờ thầy cúng xem cho ngày cưới. Dựa vào tuổi của cô gái, thầy cúng tra sách lịch chọn ngày hoàng đạo để tổ chức lễ cưới.

          * Lễ báo cưới (chò meng) là ngày rất hệ trọng của việc hôn nhân đối với người Dao Quần Trắng. Nhà trai chuẩn bị lễ vật là một con lợn khoảng 30 kg sang nhà gái làm lễ báo cưới, có ông mối, bố chú rể, và hai chàng trai mang theo lễ vật. Chủ nhà mời những người bề trên trong họ tới dự rồi mổ lợn, làm cơm cúng tổ tiên. Nhà trai báo cho nhà gái biết ngày giờ tổ chức hôn lễ. Mặc nhiên, ngày cưới không được trùng với ngày sinh tháng đẻ của cô dâu và chú rể.

          Tại lễ này, nhà trai chính thức xin bản “lộc mệnh” của cô dâu tương lai. Bản lộc mệnh đã được ghi chép đầy đủ (họ tên, ngày tháng năm sinh, cung số) và cẩn thận bằng chữ Nho trên giấy hồng hoặc vải đỏ hình con cá. Đây là cơ sở để nhà trai đưa tên cô vào gia phả dòng họ mình. Nếu vì lý do nào đó, hai bên không thể đi đến hôn lễ, theo tập tục nhà trai phải trả lại lộc mệnh. Việc trao bản lộc mệnh là sự thừa nhận việc hôn nhân, đám cưới khó mà thay đổi được.

          *Lễ cưới (ây con). Sau lễ báo cưới, cả hai gia đình đều bắt tay vào việc chuẩn bị cho ngày cưới, và những điều kiện sống ban đầu cho đôi tân hôn. Gia chủ mời họ tộc đến để bàn về đám cưới, góp cưới, chọn người đi đón dâu, chuẩn bị thực phẩm cho ngày cưới. Thường thì anh em, thân thích, hàng xóm, tùy khả năng có thể sẽ giúp nhau lợn, gà, gạo, rượu,… Ngoài ra, nhà trai còn mời thêm ông quan lang (phải là người đã được cấp sắc), làm chủ hôn hướng dẫn các nghi lễ trong quá trình đón dâu.

          Theo tập tục, lễ cưới của người Dao Quần Trắng diễn ra trong 3 ngày. Trước ngày cưới, nhà trai chọn giờ tốt đưa đầy đủ sính lễ (đã ghi trong “hôn thư”) sang nhà gái. Dẫn đầu đoàn là ông mối. Nhà gái nhờ một bề trên có uy tín làm chủ hôn (téng thính), nhận lễ dẫn cưới.

          Tối hôm đó, nhà trai cũng như nhà gái đều làm cơm mời họ tộc và láng giềng tới dự (ăn họp họ) và ngỏ nhời nhờ anh em họ tộc cùng làng xóm giúp đỡ trong lễ cưới này. Đồng thời hai gia đình làm lễ giải hạn (cải sát) cho cô dâu, chú rể. Người Dao Quần Trắng quan niệm trai, gái trước khi nên vợ nên chồng, cần phải giải hạn để xua đi những xung khắc với bố mẹ, với mọi người trong gia đình và giữa hai người với nhau.

          Nghi lễ diễn ra như sau: Thầy cúng cao tay được mời tới để giải hạn, mang theo sách cúng, một thanh kiếm, các hình nhân bằng giấy và chao (làm bằng gỗ để xem âm dương). Lễ phẩm là bộ gan và một ít thịt lợn, một chai rượu, một con gà luộc. Thầy cúng tay cầm kiếm và đọc những bài cúng giải hạn cho đôi tân hôn, cầu cho hai người luôn khỏe mạnh, không gặp điều xui xẻo. Nghi lễ kết thúc khi thầy xin âm dương và đốt mỗi hình nhân kèm theo một con dán.

          Đúng giờ đã chọn, đoàn đi đón dâu có 11 người, gồm chú rể, ông quan lang, ông mối, 5 người bạn của chú rể, hai cậu bé khoảng từ 12 – 14 tuổi và ông long chấu – người thay mặt cho bố mẹ chú rể. Trước giờ khởi hành, ông quan lang thắp hương cầu khấn tổ tiên mong trên đường đón dâu không gặp trắc trở. Đoàn đi theo thứ tự: ông quan lang đi trước, tiếp theo là ông long chấu, rồi đến 3 người bạn rể, 2 cậu bé, chú rể, 2 người bạn rể còn lại, sau cùng là ông mối (lài cóng).

          Khi đoàn đón dâu tới cổng nhà gái, cô dâu phải lánh mặt sang hàng xóm (nhưng phải là một gia đình trong họ tộc nhà gái, có phúc lộc, đông con nhiều cháu…). Lúc này chú rể được ông quan lang lấy áo vàng chùm kín lên đầu, cầm tay đứng chờ ở chân cầu thang. Cửa nhà gái được đóng lại do 2 người bạn dâu ở trên nhà. Phía nhà gái cất lời hát đố. Nhà trai cử hai người bạn rể đối đáp một cách đầy đủ mới được vào nhà. Cuộc hát diễn ra khá lâu. Nhà trai còn phải trao mấy đồng tiền lẻ cho hai cô gác cổng thì cửa nhà mới được mở ra.

          Hai cậu bé được sự hướng dẫn của ông quan lang dắt chú rể lên cầu thang rồi vào thẳng buồng cô dâu. Tiếp theo, ông quan lang gài chiếc ô lên mái buồng cô dâu, bên trong có một chút gạo tẻ được gói vào tờ giấy đỏ (biểu hiện sự cầu mong cho đôi tân hôn làm ăn thuận lợi). Đoàn nhà trai được những đại diện nhà gái tiếp đón. Tại cửa buồng cô dâu, hai bạn rể cất lên tiếng hát, đại ý:

          Xin chào tất cả anh em hai họ. Tôi đưa chàng rể tới đây, chào đón nàng dâu hợp mệnh trong buồng.

          Cô dâu sau khi trang điểm bên hàng xóm, thay đổi trang phục, được bà “đóng phà” dắt về nhà làm lễ bái kiến. Bà đóng phà tay phải cầm đai áo cô dâu, tay trái cầm con dao, đưa cô vào buồng. Con dao được cài lên vách buồng (ý nói cắt đứt mọi vía xấu cho cô và chú rể).

          Lúc này trong buồng đã có mâm cỗ để ông quan lang làm vía cho đôi tân hôn. Trên mâm cỗ có một đôi đũa, hai chén rượu, một miếng gan lợn. Quan lang làm phép: vẩy rượu vào hai người, chấm miếng gan vào miệng cô dâu và chú rể (có ý gắn kết hạnh phúc giữa hai người với nhau). Sau đó lại dọn một mâm cơm khác và cử 3 người vào buồng ăn cùng chú rể. Những người trong đoàn đi đón dâu thì ăn ở nhà ngoài cùng với gia chủ.

          Sau khi ăn uống, nghỉ ngôi, nhà gái cử một người (ông ném méng) vào buồng dắt chú rể ra làm lễ trình tổ tiên. Chú rể quỳ trước bàn thờ, bên cạnh là hai cậu bé. Thầy cúng tay cầm thanh kiếm đọc tên 3 đời những người đã khuất trong gia đình bên gái, mời về chứng kiến, nhận mặt chàng rể. Khi ông ném méng hô nhất nhị, tam bái thì chú rể vái 3 lần. Ông “téng thính” tuyên bố với họ tộc về những lễ vật mà nhà trai đưa tới và thay mặt bố mẹ cô dâu nói lời cảm ơn mọi người trong quá trình tổ chức hôn lễ.

          Tiếp đó, chú rể làm lễ lạy tạ bố mẹ vợ và họ hàng nhà gái, rồi bưng khay rượu mời từng người theo vai vế bên nhà gái, lạy mỗi người 3 lạy để cảm ơn và nhận anh em họ hàng nhà vợ. Sau các lễ thức đó, chú rể được 2 cậu bé dắt vào buồng cô dâu. Suốt đêm đóm nhà trai, nhà gái hát đối đáp, chúc phúc cho đôi tân hôn. Cho đến trước lúc gà gáy sáng, chủ rể chuẩn bị đồ dùng cá nhân, chỉ để lại buồng cô dâu một bỗ quần áo rồi cùng một cậu bé trở về nhà mình trước. Theo phong tục của người Dao Quần Trắng, khi trở về nhà, chú rể không đi cùng đoàn đón dâu.

          Sáng hôm sau, nhà gái dọn mâm cỗ thết đãi đoàn đón dâu và quan khách để chờ đến giờ đưa dâu như đã được báo trước. Ông mối thay mặt đoàn đón dâu nói lời cảm ơn tất cả gia đình và họ tộc nhà gái, xin phép được đón cô dâu về nhà chồng. Cô dâu vận bộ trang phục truyền thống: quần trắng, áo chàm thêu, đầu đội chiếc mũ của bà “đóng phà” được trang trí công phu với những đồng bạc nhỏ, những ngôi sao nhỏ đính xung quanh, các sâu hạt cườm, các sợi tua nhiều màu sắc.

          Một cậu bé dắt cô dâu từ trong buồng ra đến cửa và hai bạn dâu đứng ở ngoài cửa đợi. Trước khi đoàn đón dâu đi, bố mẹ cô dâu đưa cho cô vài nắm cơm, một ít tiền lẻ. Khi cô ra đến cửa, các em của cô đóng cửa lại, khóc òa lên như níu kéo, không muốn cho cô đi. Ông quan lang phải đưa cho cô dâu một ít tiền lẻ thì cánh cửa mới được mở ra cho đoàn đưa dâu đi.

          Đồng bào quan niệm “đi lẻ về chẵn”, nên số người trong đoàn từ nhà gái về nhà trai bao giờ cũng là số chẵn (12 người). Trong đoàn, phía nhà gái, ngoài cô dâu còn có hai người bạn dâu. Trên đường đi, đoàn đón dâu phải thực hiện một số nghi thức nhất định như: tránh gặp đám ma, đám cưới; nếu qua máng nước phải gỡ bỏ máng ra, còn gặp sông suối, nhất thiết phải thả một nắm cơm và một ít tiền lẻ để mong hà bá phù hộ.

          Khi gần về tới nhà trai, đoàn đón dâu dừng lại nghỉ ngơi. Khi ấy, gia đình chú rể đã mang 2 chiếc chiếu và một số thức ăn để đoàn lót dạ. Đến 17 giờ, đoàn đón dâu trong trang phục chỉnh tề, đi theo thứ tự: ông mối đi trước, rồi đến ông “long chấu”, kế tiếp là 5 người bạn rể, một người bạn dâu, rồi cô dâu, cậu bé, sau nữa là người bạn dâu còn lại, ông quan lang đi sau cùng.

          Khi đến chân cầu thang, cô dâu đứng đợi hai người bạn của mình hát đối với các bạn rể. Lúc ấy, một người cô đứng tuổi đem đồ trang sức (vòng cổ, vòng tay) đeo cho cô dâu, và mặc thêm cho cô một đôi yếm, đôi áo, quấn một tấm váy để thể hiện sự quan tâm của nhà chồng đối với cô. Bấy giờ, ông quan lang chùm chiếc áo vàng lên đầu cô dâu. Công việc kết thúc, cậu bé dắt cô dâu đi thẳng vào buồng.

          Với người Dao Quần Trắng, buồng tân hôn thường ở phía trong, góc trái nhà sàn. Nội thất trang trí rất đơn sơ, bên ngoài che bởi những tấm vải lớn. Sau lễ cưới, cô dâu chưa ở lại nhà chồng ngay, chú rể thường tới ở nhà vợ từ 1 – 3 năm. Căn buồng được dựng lên chủ yếu phục vụ cho nghi thức cưới. Ông “long chấu” bỏ chiếc khăn che mặt cô dâu ra.

          Do sự hướng dẫn của người đứng tuổi trong họ tộc nhà trai, cô được mời ngời xuống chiếu. Mâm cơm thịnh soạn được dọn ra để cô và bạn gái cùng ăn. Đó là bữa cơm đầu tiên của cô tại nhà chồng, gọi là bữa cơm “lấy giờ vào nhà”.

          Sau bữa cơm, các lễ thức khác lại được tiếp diễn. Ông quan lang làm phép: tay cầm chiếc ô cụp, trong đó có một chút gạo bọc vào tờ giấy đỏ, cài lên mái cọ trong buồng tân hôn như đã làm ở nhà gái).

          Đúng giờ đã chọn, một mâm cỗ cúng để trình gia tiên được đặt lên bàn thờ. Ông long chấu vào buồng đưa nàng dâu ra làm lễ. Cô quỳ trước bàn thờ, có 2 bạn dâu đứng bên cạnh, thầy cúng thắp hương làm lễ trình báo với tổ tiên là gia đình đã có thêm một thành viên mới, mong tổ tiên phù hộ cho đôi tân hôn.

          Sau lễ trình gia tiên, ông mối bố cáo với cả nhà và họ tộc biết là đã đón được nàng dâu về, xin toàn gia thừa nhận và giúp đỡ đôi tân hôn. Sau lễ tiết này, cô dâu làm nghi thức lạy bố mẹ, anh em họ tộc nhà chồng, mong được chỉ bảo trong cuộc sống. Sau đấy, cô được 2 bạn dâu đưa về buồng. Đêm hôm đó, các thành viên trong đoàn đưa dâu ngủ lại nhà trai, gia đình lại tổ chức cho nam nữ thanh niên hát đối thâu đêm.

          Sáng hôm sau, cô dâu dậy thật sớm để đi lấy nước về cho bố mẹ chồng rửa mặt (thể hiện sự chăm sóc của nàng đối với cha mẹ chồng). Hôm đó, nhà trai làm cỗ mời anh em họ tộc và quan khách tới chung vui cùng gia đình. Tiệc tan, ông quan lang vào buồng tân hôn xé tờ giấy đỏ gói đôi đũa rồi đốt giấy đi, công nhận cô dâu – chú rể đã thật sự trở thành vợ chồng.

          Nghi thức cưới ở nhà trai đến đây là kết thúc.

          * Lễ lại mặt. Ngay buổi chiều hôm đó, cô dâu và chú rể về thăm bố mẹ vợ. Lệ vật mang theo là hai con gà trống thiến và hai chai rượu. Cô dâu không quên mang theo mũ trả lại cho bà “đóng phà”. Họ nghỉ lại một đêm ở nhà ngoại. Sáng hôm sau, họ lại trở về nhà nội để chào mọi người và cảm ơn những sự giúp đỡ trong lễ cưới, đồng thời chuẩn bụi đồ đạc sang nhà ngoại ở rể.

          Hôn nhân truyền thống của người Dao Quần Trắng ở Phù Lưu – Hàm Yên – Tuyên Quang với nhiều lễ thức mang đậm bản sắc tộc người, thời gian diễn ra tương đối dài, thể hiện sự nghiêm túc, thận trọng với việc lấy vợ lấy chồng. Trong quá trình tổ chức , sự giúp đỡ của anh em họ tộc, xóm làng là rất lớn, người giúp công, người giúp của; song gia chủ cũng thể hiện sự biết ơn bằng những món quà trao gửi lại.

          Hiện nay những nghi lễ trong đám cưới đã giảm bớt nhiều, lễ báo cưới đã không còn, thời gian tổ chức được rút ngắn, tục ở rể không còn là gánh nặng như trước, nếu có thì thời gian ở rể cũng được rút ngắn, nhưng việc tổ chức hát giao duyên vẫn còn duy trì, và đặc biệt trong hôn nhân, tính tự nguyện đã được coi trọng.

          * Tài liệu tham khảo chính:

          -Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng và các đồng tác giả: Người Dao ở Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1971.

          -Trung tâm KHXH và NVQG: Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, H. 1998.

          -Đỗ Đức Lợi: Tập tục trong chu kỳ đời người của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao ở Việt Nam, Nxb. VHDT, H. 2002.

          -Bùi Xuân Mỹ - Phạm Minh Thảo: Tục cưới hỏi ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 2003.

          - Chu Thái Sơn (chủ biên) – Võ Mai Phương: Người Dao, Nxb. Trẻ, TP. HCM, 2005.

          - Những già bản người Dao Quần Trắng ở Khâu Lình (Phù Lưu, Hàm Yên, Tuyên Quang) cung cấp tư liệu:

          + Ông Lý Văn Đầu, 71 tuổi

          + Ông Lý Văn Nhâm, 69 tuổi

          + Bà Bàn Thị Năm, 65 tuổi

          + Bà Triệu Thị Son, 57 tuổi.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online