Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Phái Tào Động (Kiêm Đạt)
Phái Tào Động (Kiêm Đạt) PDF In E-mail
Người viết: Kiêm Đạt   
04/11/2012

PHÁI TÀO ĐỘNG

* Kiêm Đạt

Thiền phái Tào Ðộng được truyền vào Ðại Việt từ thế kỷ thứ  XVII, cả ở Ðàng Ngoài lẫn Ðàng Trong. Thiền phái này có hai thiền sư Ðộng Sơn  Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901) sáng lập, vị thứ hai là đệ tử của vị thứ nhất. Ðạo tràng của Bản Tịch là ở Sùng Thọ Viện núi Tào Sơn, Giang Tây. Sau đó một đạo tràng khác được mở tại Ngọc Hà Sơn. Hai nơi ấy là cứ điểm của phái Tào Ðộng.

Chủ trương của Thiền Tào Động 

Thiền phái Tào Ðộng được truyền vào Ðại Việt từ thế kỷ thứ  XVII, cả ở Ðàng Ngoài lẫn Ðàng Trong. Thiền phái này có hai thiền sư Ðộng Sơn  Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901) sáng lập, vị thứ hai là đệ tử của vị thứ nhất. Ðạo tràng của Bản Tịch là ở Sùng Thọ Viện núi Tào Sơn, Giang Tây. Sau đó một đạo tràng khác được mở tại Ngọc Hà Sơn. Hai nơi ấy là cứ điểm của phái Tào Ðộng.   

Khi đi sâu vào phái Tào Ðộng  khi xuất phát ở Trung Hoa tức là là nói đến nguyên tắc năm địa vị (ngũ vị) giữa thẳng (chính) và nghiêng (thiên). Ý niệm về địa vị giữa thẳng và nghiêng vốn là của Ðộng Sơn. Tào Sơn đã xếp đặt và trình bày lại ý niệm ấy, và truyền lại cho thế hệ kế tiếp. Thẳng ở đây tượng trưng cho tuyệt đối còn nghiêng tượng trưng cho tương đối. Tống Nho sau này có ý niệm về Lý và Khí rất tương tự với ý niệm về thẳng và nghiêng này.

Trong phái Tào Ðộng, những chủ trương sau đây  lại được hình thành:    Chỉ cần ngồi thiền mà không cần chủ đề thiền tọa (chỉ quán đả tọa);  Ngồi thiền và đạt đạo là một việc chứ không phải là hai (tu chứng nhất như) ;  Không trông chờ sự chứng đắc (vô sở đắc);    Không có đối tượng giác ngộ (vô sở ngộ) ;  Tâm và thân nhất như (thân tâm nhất như.)    Những nguyên tắc trên dần dần được áp dụng trong các thiền phái khác. Thiền sư Phân Dương (947- 1024) của phái Lâm Tế chẳng hạn cũng đã sử dụng khái niệm về năm vị trí giữa cái thẳng và cái nghiêng.

Có thể hiểu  rõ chủ trương của Thiền phái Tào Động trong tập “Chánh Pháp Nhãn Tạng” của ngài Đạo Nguyên (Dogen –1200-1253). Ngài là vị sáng lập dòng Thiền Tào Động Nhật Bản. Trong sách nầy, ngài chỉ rõ: Toạ thiền chính là pháp môn đại an lạc, có thể đặt được đại tự tại. Toạ thiền đắc quả thì không phân biệt kẻ trí hay người ngu. Dù lợi văn hay độn căn không kể đến, chỉ cần tuân thủ quy củ của ngài Bách Trượng, chuyên tâm thực hành, chính là con đường thẳng tắp có thể thực hành để trở thành bậc “chân nhân    vi, tuyệt học”

Pháp môn hành thiền của phái Tào Động không đặt nặng về vấn đề nghi lễ, cúng bái, tán tạng. Chỉ cần sao để đạt được thân tâm thường an lạc. Thiền không phải là “phương pháp để đạt đến giác ngộ. Hành thiền đã là giác ngộ rồi. Không tìm đâu xa lạ cả. Đó chính là ý nghĩa của “tu chứng nhất như”.

Về quy củ, ngài Đạo Nguyên dựa vào bộ Bách Trượng Thanh Quy, để tạo ra thanh quy riêng cho Tào Động. Ngài chỉ chấp nhận cho giới xuất gia, mà giới tại gia không được phép hành thiền trong đạo tràng. Ngài luôn nhấn mạnh đến việc xuất gia nhất tâm tu đạo, không vướng mắc một chút phiền lụy thế gian.

Điều đó xuất phát từ ý nghĩ của ngài, cho rằng: Vô thường tấn tốc, sinh tử sự đại, cho nên cần phải xả cả thân mạng để cầu cho đương sự mầu nhiện của đạo. Ngài cũng phủ định những tư tưởng cho rằng đây là đời mạt pháp. Ngài nhấn mạnh: Hễ ai chuyên tâm thực hành Thiền định, kẻ đó chứng ngộ được. Đó là con đường Tu chứng nhất như. Thành thử ngài không hành trì kinh Lăng Nghiêm. Theo ngài, bản kinh nầy vẫn mang nặng tính chất cầu đảo. Mà cầu đảo tức là việc làm chạy theo thế tục, mê tín, dị đoan và những kẻ đó (tại Nhật) lại thường dựa vào cửa quyền Mạc Phủ (Meiji).  Điều nầy đã  khiến ngài phản đối.   Khái niệm “vô đắc” cũng rất được phổ thông trong thiền phái Lâm Tế. Ngược lại, lối dùng thoại đầu cũng được áp dụng trong thiền phái Tào Ðộng.  

Thiền  Tào Động tại Nhật Bản

Như đã nói, Đạo Nguyên là tổ sư Thiền Tào Động Nhật Bản. Ngài Đạo Nguyên là con quan đại thần, nhưng ngay từ thuở nhỏ, cả song thân thay nhau qua đời. Đau khổ trước cảnh vô thường của chính mình, cho nên, vào năm 14 tuổi, nài đã xuất gia, bắt đầu lại tu học theo Thiên Thai Tông tại núi Tỉ Duệ. Nhưng thời gian qua, đã không  giải quyết được những câu hỏi lớn về sự sinh tử của con người, cho nên đã hạ sơn, đến chùa Kiến Nhân theo  học đạo với ngài Vinh Tây, rồi lại chuyển sang học với ngài Minh Toàn (1184-1225) Năm 1223, ngài cùng sư phụ mình sang Trung Quốc.

Thoạt tiên, họ đến núi Thiên Đồng, thờ ngài Vô Tế Liễu Phái (thuộc phái Dương Kỳ) làm thầy. Sau khi ngài Liễu Phái viên tịch, ngài lại đến Kính S3on để học đạo với ngài Tích Ông Như Diễm. Một thời gian sau, nhận thấy việc hành trì của ngài Như Diễm mang yếu tố “kỳ đảo” của Mật Tông Tây Tạng, và chính bản thân của ngài Như Diễm lại chạy theo chính quyền địa phương để cầu lợi  lộc, cho nên ngài lại ra đi, đến cầu đạo với ngài Bàn Sơn Tư Trác. Thời gian sau đó lại đi tham quan nhiều thiền  quán khác.

Năm 1225, ngài lại thờ ngài Thiên Động Như Tịnh làm thầy. Theo Thiền phổ của phái Đại Tuệ thì ngài Như Tịnh là người thuộc chính truyền thiền phái của đức Thích Ca Mâu Ni. Ở đây, ngài tu học được hai năm (1225-1227). Năm 1227, ngài trở về nước một mình vì ngài Minh Toàn đã viên tịch tại Trung Quốc.

Khi trở về nước, ngài đã tham bác tất cả những  gì lãnh ngộ được, viết thành bộ sách “Phổ Khuyến Toạn Thiền Nghi” nổi tiếng ở chùa Kiến Nhân. Theo ngài, đây mới chính là việc xiển dương pháp môn toạ Thiền chính thức của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Pháp môn nầy chủ trương chuyên tâm toạ thiền, khác hẳn với Thiền công án cuả phái Lâm Tế. Thành thử, tăng chúng chùa Kiến Nhân  - nơi ngài tu học – đã lên tiếng đả kích triệt để. Để tránh nạn, ngài âm thầm rời chùa Kiến Nhân, về ẩn tu tại Thâm Thảo. Ở đây, ngài biên soạn thành công bộ sách nổi tiếng, là “Biện Đạo Thoại”, nội dung trình bày rõ những nguyên lý cơ bản Thiền Tào Động.

Năm 1233, ngài xây dựng ngôi chùa Hưng Thánh ở Thâm Thảo, tăng tục quy y ngài rất đông, nổi tiếng khắp nơi. Trong số nầy, nổi danh nhất là ngài Hoài Tráng (1198-1280). Tuy nhiên, phe chống đối cũng không kém. Sự phát triển của Thiền Tào Động, thêm vào đó, việc đề xướng kiêm kiem tu Thiền của ngài Biện Nguyên, giáo đoàn của ngài Đại Nguyên bị tật đố mãnh liệt. Những kẻ quá khích đã nổi lửa đốt cháy chùa Hưng Thánh (1243). Ngài phải lánh nạn ở chùa Việt Yên (Echiren). Tậi đây, ngài xây dựng chùa Vĩnh Bình (Eihei ji) dùng làm đạo tràng chuyên  tu của Thiền Tào Động. Năm 1250, tiếng tăm của ngài vang dậy khắp nơi, thậm chí được nhà vua ban tặng y tiá. Ba năm sau  (1253) ngài viên tịch.

Sau khi ngài viên tịch, cho đến thế hệ thứ ba của dòng Thiền nầy, đã xẩy ran hững bất đồng quan điểm về vấn đề “truyền trì tôn phong” của Thiền Tào Động Nhật Bản.  Hai phái chống: một bên là ngài Nghĩa Diễn muốn thực hành theo đúng cổ phong chính thống của ngài Đạo Nguyên; một bên là ngài Nghĩa Giới chủ trương thay đổi Thiền pháp nầy. Dù trải qa cơn sóng gió, nhưng Thiền Tào Động đã dựng lên 14,688 tự viện, có 1,580,000 tín đồ.

Thiền Tào Động ở Việt Nam   

Vào thế kỷ thứ XVII, khi phái Tào Ðộng truyền sang nước  Ðại Việt thì điều dị biệt giữa hai tông phái  không còn  nhiều và gây tranh cãi như trước kia nữa.  

Ở Ðàng Ngoài, thiền phái Tào Ðông do thiền sư Thủy Nguyệt đi du học Trung Hoa mang về. Thiền sư Thủy Nguyệt hiệu là Tông Giác, sinh năm 1636. Ông tên là Ðăng Giáp, quê làng Thanh Triều, ở Hưng Nhân, tỉnh Thái bình. Ông tu ở một ngôi chùa trên núi Hùng Lĩnh. Cùng với hai đệ tử, ông đi qua Hồ Châu, tham học với thiền sư Nhất Cú Tri Giáp tại núi Phụng Hoàng. Ông rời Ðại Việt năm 1664, lúc ông mới hai mươi tám tuỏi. Ông tu học tại Hồ Châu trong ba năm. Ðến năm 1667, ông và hai người đệ tử về, cư trú tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Ðông Triều, tỉnh Hải Dương. Ở Hải Dương, ông gặp và làm quen với một cao tăng tên là Tuệ Nhãn. Tuệ Nhãn tu ở Ðông Sơn, tên tục là Mai Tư Phụng, quê ở làng Dưỡng Mông ở Kim Thành, Hải Dương. Vì tu ở chùa làng Dưỡng Mông nên ông được gọi là Tổ Muống. Ở Ðông Sơn, ông dạy rất đông đệ tử. Ông từng được vua Lê sắc phong là “Ðại Thánh Ðông Sơn Tuệ Nhãn Từ Giác Quốc Sư:. Chưa biết vua nào đã sắc phong, và từ năm nào(86).

Thiền sư Thủy Nguyệt cũng từng tới hành đạo ở chùa Tư Phúc, núi Côn Sơn, và chùa Nhẫm Dương ở Hạ Long. Ông mất năm 1704, thọ sáu mươi tám tuổi.

Phái Tào Ðộng do Thủy Nguyệt và Tông Diễn truyền bá ở Ðàng Ngoài, rất được thịnh hành vào cuối thế kỷ thứ mười bảy và trong thế kỷ thứ mười tám. Hiện nay các chùa như Hàm Long, Hòa Giai và Trấn Quốc ở Hà Nội đều thuộc tông phái Tào Ðộng.

Thiền Tào Động ở Đàng Trong 

Ở Ðàng Trong Ðại Việt, người đầu tiên truyền bá thiền Tào Ðộng  là thiền sư Hưng Liên. Ngài lập đạo tràng ở chùa Tam Thai Quảng Nam và được tôn làm quốc sư.  Chùa Tam Thai bị đổ vỡ hủy hoại trong cuộc chiến tranh vào cuối thế kỷ thứ mười tám, tài liệu thất lạc hết. Chùa này được trung tu năm 1825 đời vua Minh Mạng.  Một vị khác là ngài Thạch Liêm.

Thiền sư Thạch Liêm hiệu Ðại Sán Hán Ông, người Giang Tây, sinh năm 1633, xuất gia hồi thiếu niên ở chùa Thượng Lam, theo hầu thiền sư Giác Lãng. Năm mười sáu tuổi Giác Lãng Giác qua đời, không biết  đã được tiếp tục và Thụ giới với vị nào. Sau  nhập chúng làm giảng sư chùa Trường Thọ ở Quảng Ðông do thiền sư Thực Hành trú trì. Sau khi Thực Hành mất, ngài Thạch Liêm được thừa kế trú trì chùa Trường Thọ. Nhờ tài hội họa và kiến trúc sẵn có, Thạch Liêm đã biến chùa Trường Thọ thành một nơi danh thắng ở Quảng Ðông.

Theo lời đề nghị của quốc sư Hưng Liên, chúa Nguyễn Phúc Trăn đã hai lần mời ông sang Ðại Việt, nhưng ông chưa đi được. Mãi đến năm 1694, khi chúa Nguyễn Ðăng Chu cho người sang mời ông mới quyết định ra đi. Cùng đi với ông có độ một trăm người, trong đó hơn phân nữa là tăng chúng. Ðoàn người đi trên hai chiếc thuyền buôn mang theo rất nhiều pháp khí kinh tượng để tổ chức giới đàn. Thuyền của ông tới đảo Tiêm Bút La vào ngày 27 tháng giêng năm Ất hợi (1695). Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thuyền đi đón, rước về định cư ở chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa(90). Khoảng một ngàn người thợ làm việc trong ba ngày đêm, cất mười gian phương trượng và lưu xá cho đoàn tăng khách tạm trú.

Trong những công tác mà Thạch Liêm đã thực hiện được trong thời gian lưu trú tại Ðàng Trong, có thể nói rằng công tác quan trọng nhất là tổ chức giới đàn Thiền Lâm. Giới đàn này tổ chức từ mồng một đến ngày mười hai tháng tư năm Ất hợi (1965). Giới đàn có đến ba ngàn giới tử trong đó số giới tử xuất gia lên tới 1.400 vị vừa tỳ khưu vừa sa di. Chương trình của giới đàn như sau:

- Ngày 24 tháng ba các giới tử xuất gia nhập giới đàn.

- Ngày mồng một truyền giới sá di. Thạch Liêm thượng đàn thuyết pháp, có chúa và các quan đến nghe.

- Ngày mồng sáu truyền giới tỳ khưu. Quốc mẫu và vương huynh thiết lễ trai tăng cúng dường các vị tăng sĩ mới thụ giới, và ghi chép lời pháp ngữ của Thạch Liêm.

-Ngày mồng tám tháng tư, Phật đản, làm lễ trao Bồ Tát giới cho chúa Nguyễn Phúc Chu, quốc mẫu, công chúa và những người quyến thuộc trong nội cung. Lễ truyền giới được tổ chức ở chùa Giác Vương Nội Viên trong phủ Chúa. Thạch Liêm viết cho chúa một cuốn sách ngắn, chỉ bày cách tu tập, gọi là Hộ Pháp Kim Thang Thư. Buổi chiều, lễ truyền giới Bồ Tát cho các vương huynh là Lệ Truyền Hầu và Thiều Dương Hầu cùng một số các quan được tổ chức tại chùa Thiền Lâm.

- Ngày mồng chín tháng tư, lẽ truyền giới Bồ Tát cho chư tăng được cử hành tại chùa Thiền Lâm. Các vương huynh công chúa cúng dường trai tăng và thỉnh Thạch Liêm thuyết pháp, rồi ghi chép pháp ngữ.

- Ngày mười hai tháng tư, Thạch Liêm và quốc sư Hưng Liên thống suất hai dãy tân giới tử, tất cả một ngàn năm trăm vị tăng đều mang bình bát, chống tích trượng làm lễ “cổ Phật khất thực” trong thành phố, và đến phủ chúa tạ ơn chúa Nguyễn đã thành tựu công đức cho đại giới đàn. Lễ cúng dường cơm chay được thiết lập tại phủ chúa. Giới đàn bế mạc chiều hôm ây.

Trong giới đàn này, giới điệp cấp phát cho giới tử đều có đóng kèm ấn của phủ chúa.

Một giới đàn khác sau đó đã được tổ chức tại chùa Di Ðà ở Hội An ngày mồng bảy âm lịch năm ấy. Khoảng trên ba trăm người đã xin thụ giới. Giới đàn ở đây được tổ chức rất đơn giản, nhưng giới điệp cũng được đóng kèm ấn chúa.

Giới đàn Thiền Lâm có một tầm quan trọng lớn. đó là một giới đàn tổ chức cho cả nước; các tỉnh đều có giới tử về thụ giới. Ta nhớ là thiền sư Liễu Quán cũng đã từ Phú Yên ra để thụ giới sa di ở giới đàn này. Phái Tào Ðộng trước kia chỉ có ảnh hưởng ở Quảng Nam, nay đã lan ra khắp xứ.

Ðáng lý thiền sư Thạch Liêm đã về từ tháng bảy âm lịch năm đó, nhưng vì gió bão cản trở nên ông lưu lại Ðại Việt để dưỡng bệnh. Từ Hội An ông được chúa Nguyễn Phúc Chu cho người vào đón ra chùa Thiên Mụ. Ông ở Thiên Mụ cho đến ngày 24 tháng sáu năm tới mới xuống thuyền về Quảng Ðông, Thạch Liên qua Ðại Việt năm 62 tuổi, mất năm 71 tuổi (1704).

Thiền sư Thạch Liêm là một nghệ sĩ. Ông sở trường về nhiều môn: thi văn, hội họa, chữ viết, thủ công. Mao Tế Khả đề tựa tạp thơ Ly Lục Ðường của Thạch Liêm đã viết:

“Trượng nhân là bậc bác nhã khôi kỳ, càng sở trường về thi ca; cho đến các môn như tinh tượng, lịch luật, diễn xạ, lý số, triện lệ, đơn thanh, môn nào cũng siêu việt”.

Chùa Trường Thọ ít ra cũng có đến một trăm tăng sĩ. Những vị theo Thạch Liêm qua Ðại Việt đã hơn năm mươi người rồi. Vì giới tiểu thủ công nghệ nên Thạch Liêm tổ chức kinh tế tự túc trong chùa. Với gỗ lê, gỗ đàn, đồng thau, đá hoa, chùa đã chế ra nhiều dùng có giá trị nghệ thuật như bàn, ghế, bình phong, cẩm đôn, hộc tộ, bát, đĩa, v.v... Chùa cũng tổ chức dệt vải lụa. Thạch Liêm là một họa sư, những bức họa của ông rất được khen ngợi. Trong tập Họa Gia Thi Sở đời Thanh tác giả là Lý Tuấn Chi viết về Thạch Liêm như sau: “Ðại Sán tự Hán Ông, người Lĩnh Nam, tu ở chùa Kim Lăng, có tài vẽ chân dung khéo. Năm Mậu ngọ, đời Khang Hy (1678), ông có vẽ cho Trần Gia Lăng một bức hình, có đề lời, mặt đẹp râu dài, tinh thần hoạt bát, thời ấy hầu như khắp danh nhân trong nước đều có đề vịnh. Có biên soạn Ly Lục Ðường Tập”.

Nhờ có cơ sở kinh tế tự túc, không những chùa Trường Thọ được Thạch Liêm kiến thiết mau chóng, mà rất nhiều văn nghệ sĩ nghèo trong nước cũng được ông giúp đỡ. Sự giao du của ông với văn nghệ sĩ trong xứ rất rộng. Tập thơ Ly Dục Ðường của Thạch Liêm có phụ đính 34 bức tranh do tác giả vẽ nên có văn của các danh sĩ như Khuất Ông Sơn, Thanh Lê, Dược Ðình, Vương Thế Trinh, Từ Phàm, Ngô Ý, Ngô Thọ Tiềm và Cao Tằng Vân đề ở lạc khoản. Tập thơ lại có thới mười mấy danh sĩ đề tựa. Nói tóm lại là ông giao thiệp thân mật với hầu hết các văn nhân nổi tiếng của thời đại ông.

Cũng vì tiếng tăm của ông lững lẫy như thế nên có nhiều kẻ ghen ghét và chống đối ông kịch liệt, cho ông là “ngạo mạn, dối trá, buôn lậu”, v.v... Tính ông cương trực và ưa nói thẳng nên bị nhiều người ghen ghét. Vì bị dèm pha cho nên năm 1702 ông bị quan án sát Quảng Ðông là Hứa Tự bắt giam tra hỏi, rồi đuổi về Cống Châu, Giang Tây. Ở Cống Châu, ông lại mở đạo tràng ở chùa Sơn Tự; tăng đồ quy tụ rất đông và đạo tràng lại bành trướng lớn lao như cũ. Quan sở tại là quan tuần vũ Giang Tây lại cho bắt ông áp giải về nguyên quán. Ông chết trên đường đi. Ðó là vào năm 1704.

Tâm sự của ông thể hiện trong tập Hải Ngoại Sự Ký. Ông viết: “Một bọn người ngu dốt làm ma làm quái, bới lông tìm vết, bày đặt chuyện thị phi. Nhưng chuyện thị phi ấy đâu có rõ ràng; chúng chỉ vì lòng ghen ghét cho nên tự trong bóng tối khuấy cho sóng động mòi xao, bày chuyện đặt điều làm cho người ta không chịu nổi để khoái chí mình. Nhưng ta đâu có nao núng, bởi việc đều vô ảnh vô tông, tất cả đều trôi theo dòng nước. Những thử thách kia chỉ làm cho ý kiến thêm tinh, hạnh nguyện thêm vững, càng mài không mòn, càng nhuộm càng không đen. Rốt cuộc bọn họ lại giúp ta như thầy nghiêm bạn tốt vậy”.

Sách Hải Ngoại Ký Sự cũng phản ánh tính cương trực của Thạch Liêm. Cái gì ở xứ khách mà ông muốn khen thì ông khen, còn cái gì ông muốn chê là ông chê.

Một điều đáng tiếc trong cuộc du hành Ðại Việt của ông là, ngoài quốc sư Hưng Liên là đệ tử của ông, ông không được gặp những cao tăng khác lúc bấy giờ đang hành đạo tại Ðại Việt. Trong số những vị này, có những vị từ Quảng Ðông tới như ông. Hải Ngoại Kỷ Sự không hề nhắc đến những vị như Tử Dung, Tế Viên, Pháp Hóa, Từ Lâm, Minh Hải, v.v... nghĩa là những vị đang chủ trương các đạo tràng lớn lúc bấy giờ như Ấn Tôn, Quốc Ân, Chúc Thánh, Từ Lâm, Thiên Thọ... Ông đã không có sự cộng tác của các vị cao tăng có mặt lúc bấy giờ ở Ðại Việt., ngay trong giới đàn chùa Thiền Lâm. Sự kiện này có nhiều lý do. Lý do đầu tiên là ông thuộc phái Tào Ðộng. Lý do thứ hai: ông là khách đặc biệt của quốc vương. Lý do thứ ba là bài bố cáo mà ông viết cho dán ở các chùa trong xứ nhiều tháng trước ngày khai mạc giới đàn Thiền Lâm đã tự đánh giá sự hành đạo tại Ðại Việt quá thấp.    Bài bố cáo để ra nhiều trang công kích những vị tăng không chân chính.

Những hành động tích cực của ngài Thạch Liêm đã gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, ảnh hưởng dòng Thiền Tào Động vẫn tạo uy thế về sau. Khác với dòng Thiền Lâm Tế, dòng Thiền nầy khuyến khích hành Thiền thường xuyên và tích cực. Giác ngộ chính là xây dựng chánh niệm trong tu tập. Giá trị chân chính là thân và tâm nhất như, sống an lạc trong phút giây hiện tại. Dòng Thiền nầy quy nạp bất cứ pháp môn nào, miễn là tuân thủ theo đúng giá trị xây dựng chánh niệm, thảnh thơi trong hiện hữu, loại bỏ tất cả những nghi lễ cầu kỳ, không mê tín, huyền hoặc. Đó là cõi tịnh độ đích thực và hiện hữu.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online