Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow Gieo chữ trên cao nguyên đá (Trần Cao Đại)
Gieo chữ trên cao nguyên đá (Trần Cao Đại) PDF In E-mail
Người viết: Trần Cao Đại   
04/12/2012

GIEO CHỮ TRÊN CAO NGUYÊN ĐÁ

* Trần Cao Đại

          Kể từ ngày cô giáo Nguyên lên Mèo Vạc dạy chữ cho đồng bào và các em học sinh, đến nay đã được 9 năm. Bây giờ nhiều người đã làm cán bộ, trẻ em đều biết đọc, biết viết. Có cái chữ, người dân đã biết cách làm ăn, cuộc sống đang thay da đổi thịt từng ngày. Đó là lời nói của ông Thào Mý Sính – Chủ tịch UBND xã Thượng Phùng. Từ Trung tâm thị trấn Mèo Vạc tới xã Thượng Phùng hơn 20 cây số, qua những khúc cua chóng mặt và các vách núi cao ngút ngàn. Phải mất hơn hai giờ đồng hồ chúng tôi mới đến được trung tâm xã.

 

          Người dân nơi đây sống rải rác thành các bản nhỏ trên núi cao, thi thoảng có lác đác những ngôi nhà tranh nằm nép mình trong những khe núi, có nhà ở chênh vênh tít trên đỉnh núi, như một sự thách thức với thiên nhiên vùng cực Bắc này. Nhưng họ đã, đang và vẫn sống từ đời này sang đời khác! Cuộc sống của người dân dựa vào nguồn lương thực chính là cây ngô; làm nương rẫy, nhưng đất đá khô cằn hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến đời sống của đồng bào đói nghèo, thiếu thốn, khó khăn, vất vả; giao thông đi lại không thuận lợi, hàng hóa khan hiếm, trình độ nhận thức của đồng bào còn chậm. Việc học cái chữ xưa kia quả là xa vời đối với người dân.

 

          Ngôi trường của xã Thượng Phùng hiện ra trước mắt sau những dãy núi đá cao nhấp nhô, các cháu học sinh hồn nhiên với những bộ quần áo đặc trưng của các dân tộc, nhìn chúng tôi dáng vẻ ngây ngô và lạ lẫm với cái máy chụp ảnh. Cô giáo Đàm Thị Nguyên quê ở Sơn Dương, Tuyên Quang học Sư phạm tiểu học huyện Mèo Vạc, lúc ra trường với nguyện vọng mang cái chữ được học để dạy các em học sinh vùng cao. Cô bảo khi mới ra trường gia đình lo lắng; là thân phận con gái mảnh mai, một mình xa quê hương lên vùng cao nơi biên cương gió ngàn heo hút, không biết có chịu được sự gian khổ, vất vả không?! Nhưng với ý chí, nghị lực và tâm nguyện một lòng cống hiến sức khỏe của mình cho tổ quốc, với tấm bằng Sư phạm trong tay và sự yêu nghề, cô đã vượt qua bao đèo dốc để lên các xã vùng biên giới huyện Mèo Vạc với niềm khát khao mang cái chữ của Bác Hồ dạy cho đồng bào các dân tộc vùng cao và con em của họ.

 

          Cô Nguyên lên dạy chữ ban đầu gặp không ít khó khăn, đồng lương ít ỏi, sinh hoạt thiếu thốn mà chợ lại cách xa trường học. Nước ăn về mùa khô khan hiếm phải đi lấy xa về, điện thắp sáng chưa có, nhiều hôm đang soạn bài, đèn hết dầu, ảnh hưởng đến cuộc sống rất nhiều, khiến tâm trạng càng hiu quạnh bởi một tiếng chim kêu và tiếng côn trùng rả rích! Ngôn ngữ bất đồng, nên việc truyền đạt kiến thức khó khăn. Học trò nhỏ đến trường thì cô phải rửa mặt, chải đầu. Còn học sinh học xóa mù đều là người lớn tuổi, có người bằng tuổi bố của mình khó giao hòa và tiếp thu chậm. Có người người đi học mang điếu cày đến lớp, khi đang học thì xin cô cho hút thuốc lào; có người thì ngủ, có người lại nói chuyện gây mất trật tự. Hết buổi học cô giáo hỏi lại mà chẳng ai nhớ gì. Các bác, các chú bảo: “Việc gì cũng có thể làm được mà việc học cái chữ khó quá, học mãi không vào cái bụng được! Nhiều em bỏ học,  một phần vì kinh tế còn thiếu cái ăn, cái mặc nên phải đi lên nương làm rẫy với bố mẹ…..”

 

          Cô nguyên còn nhớ, có lần xuống bản vận động học sinh đến trường, tối về trời mưa to, đường trơn, tay phải chống gậy, chân bước lõm bõm vào những vũng nước. Hôm sau cô bị ốm, sốt không lên lớp được, thế là học sinh bỏ học hết. Vậy là bao nhiêu công lao lại đổ xuống sông, xuống biển! Cô Nguyên vừa lo, vừa sợ có lúc buồn, nước mắt nghẹn ngào chẳng nói nên lời. Những lúc như thế tưởng chứng không vượt qua được. Nhưng với tấm lòng yêu nghề, mong muốn đem ánh sáng văn hóa cho đồng bào để mai này sẽ thay đổi diện mạo cuộc sống ở vùng biên.

 

          Ngày lại ngày, bàn chân bé nhỏ của cô lại xuống các bản làng tìm gặp già làng, trưởng bản thuyết phục và đến từng nhà người dân tuyên truyền vận động, giải thích để bà con hiểu việc học cái chữ rất cần thiết cho cuộc sống sau này. Như trồng cây ngô cho quả to hơn, chăn nuôi sẽ đạt hiệu quả hơn, việc lấy vợ, lấy chồng không phải điểm chỉ bằng tay nữa mà biết viết đơn, biết ký, có việc gì cần giải quyết thì nhờ chính quyền giúp đỡ. Có học mới hiểu biết xã hội, đất nước, con người và làm ăn mới thoát được đói nghèo.

 

          Vào những ngày thứ bảy, chủ nhật cô lại lên nương làm rẫy cùng bà con, để cùng học, cùng làm – cứ như cơn mua dầm thấm lâu. Cô đã học được tiếng của đồng bào và tình người luôn thắp sáng bằng những việc làm. Khi bà con ốm đau, cô cho thuốc; lúc bà con không có cái ăn, cô giúp lúa gạo. Từ đó, tình cảm này ngày càng gần gũi như người trong một nhà. Bà con tin và hiểu ra tầm quan trọng của cái chữ, nên đã cho con đến lớp, học sinh biết cô giáo vất vả, thương cô giáo lắm, chúng đã đến lớp học và không bỏ học như trước nữa.

 

          Dẫu cho cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, điều kiện sinh hoạt ở nhờ căn nhà tập thể của nhà trường chật chội, nhưng bằng sự yêu nghề, cô sẽ vượt qua những khó khăn vất vả…. Những trang giáo án còn thơm mùi mực, ngày mai cô tiếp tục gieo chữ cho thế hệ trẻ, để thắp sáng cuộc sống vùng cực bắc nơi phên giậu của Tổ quốc. Mây lãng đãng bay trên những sườn núi, tiếng trống trường vang vang, vọng qua núi rừng, học sinh từ các bản làng trên những dãy núi cao, cầm ô, cắp sách tới trường trong niềm vui hân hoan. Sau này sẽ không còn cảnh đói chữ trên cao nguyên đá Mèo Vạc nữa.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online