Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Trần Bỉnh Khuol (Trần Thu Đông)
Trần Bỉnh Khuol (Trần Thu Đông) PDF In E-mail
Người viết: Trần Thu Đông   
04/12/2012

TRẦN BỈNH KHUÔL – NGƯỜI GHI LẠI NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẮT GIÁ  NƠI CHIẾN TRƯỜNG

* Trần Thu Đông

          Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl, bút danh Hai Nhiếp sinh năm 1913, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ông mất ngày 12 tháng 12 năm 1968 trên đường đi làm nhiệm vụ (làm phóng sự ảnh) về trận đánh ở Rạch Trui, Cái Tàu, huyện U Minh. Ông được đồng đội chôn cất tại nghĩa trang Biện Nhị, huyện U Minh. Sau đó bị Mỹ - Ngụy san bằng làm trận địa pháo, nên mộ của ông bị thất lạc từ ngày ấy. Sau ngày đất nước giải phóng, mộ ông được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện U Minh, nhưng cho đến nay vẫn chưa xác định được hài cốt ở vị trí nào. Vợ ông là bà Lê Thị Nga, quê thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Nhà báo Trần Bỉnh Khuôl có 8 người con. Trong đó có 3 người con trai đã hi sinh trên chiến trường trong khi làm nhiệm vụ.

Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl có một tuổi thơ bất hạnh, mồ côi cha mẹ lúc 11 tuổi. Trước năm 1945, phải làm nhiều nghề để kiếm sống như: chụp ảnh dạo, vẽ truyền thần ở thị xã Bạc Liêu… Nghề nghiệp của Trần Bỉnh Khuôl chủ yếu là do ông mày mò tự học vì trong điều kiện đó không cho phép ông được đào tạo qua trường lớp chuyên nghiệp. Năm 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nghe theo lời kêu gọi thiêng liêng của Bác, người thanh niên 23 tuổi Trần Bỉnh Khuôl lòng đầy quyết tâm khăn gói, ba lô, tạm biệt quê hương lên đường kháng chiến. Trong 9 năm chiến đấu gian khổ chống thực dân Pháp ông rất gan dạ, khôn khéo hoạt động bí mật ngay trong lòng địch tại tỉnh Bạc Liêu. Trong quá trình hoạt động ông đã từng bị giặc bắt và đày ra Côn đảo. Sau đó ông vượt ngục trở về tiếp tục công tác tại cơ quan Tuyên Huấn huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Sau Hiệp định Geneve 1954, Trần Bỉnh Khuôl được tổ chức bố trí ở lại hoạt động, không đi tập kết. Năm 1961 ông được điều về công tác ở cơ quan Thông tấn báo chí khu 9, thuộc phòng Điện- Nhiếp ảnh khu. Một năm sau phòng Điện – Nhiếp ảnh tách làm hai, Trần Bỉnh Khuôl vốn là một thợ vẽ truyền thần khéo tay và là một thợ chụp ảnh có tài nên ông được tổ chức phân công giữ chức Trưởng phòng Nhiếp ảnh Thông tấn xã khu miền Tây – khu 9. Trong phòng gồm những phóng viên nhiếp ảnh : Võ An Khánh, Út Minh, Nguyễn Hoàng Phước, Phạm Quang Hiến…là những nhà báo dạn dày trận mạc. Họ đã chụp được cảnh bộ đội phá đồn bốt giặc, những đêm bộ đội giải phóng hành quân vượt sông nước, và những cuộc nổi dậy của những người nông dân phá “ấp chiến lược”, “ấp dân sinh”…Năm 1963 trong một đêm cuối đông, không trăng sao, trời tối đen như mực, chốc chốc ánh lên những vệt sang đỏ và những tiếng nổ chang chát, xé nát khoảng không gian yên lặng, phóng viên nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl bình tĩnh ghi lại được khoảnh khắc các chiến sĩ giải phóng “chân đất vai sắt” mình trần, chỉ mặc một chiếc quần đùi, dũng mãnh vượt qua các lớp kẽm gai, nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Đầm Dơi, Cà Mau. Bức ảnh cho thấy cả một không khí khẩn trương căng thẳng giữa sự sống và cái chết không đầy gang tấc. Song qua nét mặt của từng chiến sĩ, kể cả những chiến sĩ bị thương, sau khi đã được băng bó, tất cả đều có cùng chí hướng xông lên quyết tâm diệt thù. Bức ảnh không chỉ thể hiện không khí chiến đấu kiên cường quả cảm mà còn nói lên niềm lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của quân giải phóng miền Nam.

          Từ năm 1967 trở đi, Mỹ - Ngụy đẩy mạnh cường độ chiến tranh, dùng hải lục không quân, biệt kích, thám báo thọc sâu vào vùng căn cứ kháng chiến, đồng thời dùng máy bay rãi chất độc hóa học, B52 ném bom nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Đề đối phó với giặc, các cơ quan khu miền Tây và phòng Nhiếp ảnh Thông tấn phải rút sâu vào rừng U Minh xây dựng căn cứ. Đây là một vùng thấp, mùa hè không nước, đất đai nứtt nẻ, không một ngọn rau…Đời sống cán bộ, bộ đội vô cùng cực khổ. Đêm về muỗi bay như trấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ ốm đau không thuốc uống…Nhưng phóng viên nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl đã giẫm đạp lên mọi khó khăn, vẫn hăng hái lên đường cùng đồng đội làm nhiệm vụ.

Tác phẩm của nhà báo Trần Bỉnh Khuôl tuy rất nhiều nhưng do ông hi sinh đột ngột trong một trận oanh tạc khốc liệt, nên những gì còn lại là rất ít ỏi so với sự nghiệp của ông. Những tác phẩm mà ông để lại là những di sản quý giá - có một không hai, nó mang hơi thở của cuộc chiến tranh tàn khốc của nhân dân như : toàn bộ hình ảnh lễ ra mắt Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Tây Nam Bộ, các trận công đồn, đánh lớn của quân và dân Cà Mau: trận Trà Là, Đầm Dơi, Cái Keo, Giồng Riềng, Long Mỹ (Hậu Giang), Gò Quao… Và còn nhiều tác phẩm tiêu biểu khác mà ông đã ghi lại, như được tạc vào lịch sử và khắc họa lên hình ảnh cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, anh dũng của dân tộc ta, là hình ảnh cao đẹp, đưa đến cho công chúng những cảm xúc sống động và rất hào hùng. Một số tác phẩm của Trần Bỉnh Khuôl được chọn in vào quyển sách ảnh Requiem (Hồi niệm) do nhà xuất bản Randum – Hoa Kỳ ấn hành. Bức ảnh trận đánh Đầm Dơi của Quân giải phóng, là một trong những bức ảnh sáng giá được đưa vào sách ảnh Việt Nam thế kỷ XX của Bộ Văn hóa – Thông tin và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam ra mắt bạn đọc năm 2007.

          Trong quá trình hoạt động nghệ thuật của mình Trần Bỉnh Khuôl đã gặt hái được không ít thành công. Ông được Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy chương vì sự nghiệp báo chí. Nhà báo liệt sĩ, nhà nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl vinh dự là một trong hai NSNA của khu vực ĐBSCL được nhà nước truy tặng giải thưởng cao quý: giải thưởng Hồ Chí Minh.

Mặc dù, được sinh ra trong một cảnh hết sức khó khăn và hoạt động trong một môi trường đầy gian khổ, nhưng nhà Nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl đã vượt qua tất cả để góp vào vườn hoa nghệ thuật những hương thơm mật ngọt cho đời.  Các bức ảnh tiêu biểu của ông trong giai đoạn này hầu hết là đề tài chiến tranh và cách mạng. Rất nhiều tác phẩm ảnh quý trở thành tư liệu vô giá, là những bằng chứng lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Chính vì thế mà thế hệ trẻ hôm nay đón nhận đó bằng sự “cảm thông” về hình thức nhưng rất trân trọng về nội dung lịch sử. Nó là chứng nhân không dễ gì hôm nay có được bởi đó chính là bộ sử thi bằng ảnh của quê hương được đánh đổi bằng mồ hôi và xương máu.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !