Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Hoa Lư – Thăng Long những đường nét tương đồng (Nguyễn Văn Trò)
Hoa Lư – Thăng Long những đường nét tương đồng (Nguyễn Văn Trò) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Văn Trò   
04/12/2012

HOA LƯ – THĂNG LONG NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG

* Nguyễn Văn Trò

Kinh đô Hoa Lư tồn tại trong 42 năm (968 – 1010). Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Một số sách địa chí cho biết nhà Lý đã lấy một số địa danh ở Hoa Lư đặt cho Thăng Long. Qua nghiên cứu thành Hoa Lư và so sánh một số tư liệu về Thăng Long, chúng tôi thấy có một số nét tương đồng. Trước hết phải nó về vị trí của kinh thành. Cả hai kinh đô Hoa Lư và Thăng Long đều ở khuỷu sông. Kinh đô Hoa Lư ở vào khuỷu hay khúc eo của sông Hoàng Long kinh đô Thăng Long ở vào khúc eo của sông Hồng. Nghiên cứu các lịch sử của đô thị cổ cho chúng ta biết các thành thị tường được hình thành ở ven sông hoặc eo sông.

Tại nơi này, kinh tế khá phát triển. Cho đến nay, bến sông Hoàng Long vẫn trên bến, dưới thuyền khá nhộn nhịp. Khúc eo của sông Hoàng Long này đã từng là trụ sở của phong kiến phương Bắc, chứng cứ đã tìm thấy một khu mộ Hán ở cạnh chùa Bà Ngô và rất nhiều vò 6 núm thời Bắc thuộc. Do đó có giả thuyết đây có thể là trụ sở của Trường Châu đời Đường. Còn khúc eo của sông Hồng đã từng là địa điểm của thành Đại La của Cao Biền.

Mạng lưới giao thông ở cả hai nơi Hoa Lư và Thăng Long chủ yếu là đường thủy. Sông Hoàng Lông như sông Hồng bên ngoài, sông Sào Khê cũng như sông Tô Dịch ở trong kinh thành.

ở kinh đô Hoa Lư, thuyền bè có thể từ sông Đáy vào sông Hoàng Long, xuôi xuống ngòi Sào Khê mà vào kinh thành hoặc từ kinh thành Hoa Lư lên sông đáy lên Châu Cầu (Thị xã Hà Nam ngày nay), sang sông Hồng, ra đồng bằng Bắc Bộ, hay từ sông Hoàng Long ra sông Đáy, xuống cửa biển Đại Ác (sau là Đại An, nay là ngã ba Độc Bộ) theo cửa Đại Ác vào sông Đào sang sông Hồng.  Từ sông Đáy, thuyền bè cũng có thể theo sông Vân Sàng xuống sông Trinh Nữ đến cửa bể Trần Phù hay vào cửa càn ra biển gay vào châu ái. Còn ở kinh đô Thăng Long, thuyền bè có thể từ sông Đáy vào sông Nhuệ rồi “lên kinh” bằng sông Tô hoặc ngược lại bằng “quân cảng” Đông Bộ Đầu và thương Cảng (của sông Tô) trên sông Hồng qua sông Tô, sang sông Nhuệ rồi vào sông Đáy và ra biển.

 Về cấu trúc của thành, cà thành Hoa Lư thời Đinh – Lê và thành Thăng Long thời Lý đều có hai vòng thành bao bọc lấy nhau. Thành Hoa Lư về đại thể có hai thành là thành Nội và thành Ngoại. Thành Nội (nay là thôn Chi Phong, xã trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) tương truyền là nơi ở và làm kho. Ở đây còn có địa danh nền Cung và nền Kho, có rất ít di vật khảo cổ. Thành Ngoại (nay là thôn Yên Thượng, Yên Thành xã Trường Yên) là nơi làm Cung điện chính, thành Nội và thành Ngoại không lồng vào nhau mà gần như song song với nhau, ngăn cách nhau bằng dãy núi Phi Vân và nối với nhau bằng quèn Vông. Cả thành Nội và thành Ngoại Hoa Lư có hai  vòng thành. Ở khu thành Ngoại, vòng thành ngoài giống như thành Thăng long, là tường thành Đông nối từ núi Đầm sang núi Thanh Lâu và từ núi Thanh Lâu sang núi Cột Cờ. Tường thành Bắc nối từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ và từ núi Chẽ sang núi Chợ, bên Đông có dãy núi hang Quàn, bên Tây có dãy núi Phi Vân chấn giữ. Phía Nam có nui1Quen2 Thụ Mộc như một tường thành. Như vậy, thành Ngoại phải bao gồm cả cánh đồng Hậu Đường, đến Hang Luồn và Quèn thụ Mộc. Ở khu thành nội, vòng thành ngoài là tường thành Dền nối tứ núi Hàm Sà sang núi Cánh Hàn và đoạn thành từ núi Cánh Hàn sang núi Nghẽn. Phía Đông cùng chung dãy núi Phi Vân với thành Ngoại, phía Tây có dãy núi chùa Thủ chắn giữ, phía Nam có núi bao quanh, nên không cần phải đắp tường thành. Vòng thành ngoài vừa là chiến lũy khi có chiến sự, vừa là đê phòng lụt sông Hoàng Long giống như La Thành Thăng Long.

Vòng thành trong ở Hoa Lư giống như cung thành, cấm thành Thăng Long thời Lý. Riêng thành Thăng Long đến năm 1029 có thêm Long Thành ở trong cùng. Thành Hoa Lư dựa vào núi non bao bọc ở hai phía Đông, Tây, nhưng được đắp tường thành ở phía Bắc và phái Nam, ở nơi không có núi che kín. Ở khu thành Ngoại, đợt khai quật của Bảo tàng Hà Nam Ninh vào năm 1991 đã phát hiện một tường thành gọi là thành Chẹm ở phía Bắc đền vua Đinh, đền vua Lê. Dấu vết còn lại của thành Chẹm cách dãy núi Phi Vân 74,30 ở độ sâu 40cm có một tường gạch ốp phía trong tường thành dày 60cm cao 50cm gồm 13 hàng gạch chữ nhật (30 x 20 x 3,5cm), có viện được ghi chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” như gạch ở tường thành phía Đông Bắc Hoa Lư khai quật năm 1970. Tường gạch này được xây trên một bệ móng bằng gỗ lim, có lấp đệm bê trên là lớp tre, nứa ken dày. Móng bè gỗ còn lại dài 20,60m gồm 108 cây gỗ ken dày vào nhau theo hướng bắc – nam. Tường thành này chắn ở phía bắc theo hướng tây – đông, từ dãy núi Phi Vân đến cống Chẹm và có thể sang núi hang Quàn che chở cho cung thành bên trong nhà ở thời Lý hay “Tử Cấm Thành” theo cách gọi về sau này. Tường Vầu chắn ngang ở phía Nam không chỉ nối từ núi Mã Yên, mà còn nối từ núi Mã Yên (chỗ Cô đuôi hồ), sang núi Dù (còn dấu vết ở sau tường bao phía nam đến vua Đinh). Tường Vầu, chắc ở phía Nam “cung thành” của khu thành Ngoại.

Thành Nội cũng có tường thành Vầu nối từ chùa Thủ sang núi Thanh Lâu giống như Thành Chẹm, chắn ở phía Bắc “cung thành” của khu thành Nội. Ở phía Nam thành Nội có tường thành Bồ, Bim, tạo thành một “cng thành” ở phía trong giống như của thành Ngoại. Như vậy khu thành Nội và khu thành Ngoại Hoa Lư đều có hai vòng thành bao bọc lấy nhau, lồng vào nhau và nối với nhau bằng quèn Vông như một tường thành.

Thành Thăng Long thời Lý cũng được các nhà nghiên cứu xác định là thành của Cao Biền là vòng thành Ngoài, nay còn dấu vết là La Thành. Các tường thành này đều được đắp bằng đất và đều dựa vào thế tự nhiên mà đắp. Những cửa thành chỉ là những đoạn khuyết của tường thành, mà không xây cổng hay lều cổng (Môn Lâu) như các tòa thành ở đời sau. Giống như lối đi đặc biệt ở thành Đông – Bắc Hoa Lư được phát hiện trong đợt khai quật năm 1970. Về kiến trúc cung điện, thì các cung điện ở thành Hoa Lư thời Đinh – Lê và thành Thăng Long thời Lý đều có đặc điểm là quy tụ về tâm điểm và đối xứng. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cho biết năm 984, Lê Hoàn cho xây nhiều Cung điện giát, vàng, bạc, Điện, Bách Bảo thiên tuế ở giữa, các điện Phong Lưu Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc đối xứng nhau ở hai bên đông, tây, tả hữu. Năm 1010, Lý Thái Tổ đã cho xây điện Càn Nguyên và các điện Tập Hiền ở giữa, Giảng vũ, Nhật Quang, Nguyệt Minh đối diện nhau ở bên tả hữu.

Các mô típ trang trí cũng giống nhau. Hơn hai mươi con vịt phát hiện được ở chân núi Rùa xã Trường Yên, có con còn nằm trên ngói nóc cho chúng ta biết những con vịt ở Hoa Lư được đặt trên bờ nóc, bờ dả của cung điện. Rồi ngói ống ở diềm trang trí hoa sen, hoa thị, một số bát, đĩa, bình gốm, con rồng bằng đất nung và cả bằng gỗ là những cơ sở để cho các nhà nghiên cứu, so sanh đối chiếu sự phát triển của nghệ thuật ở các triề đại kế tiếp, phải chăng cũng có sự kế thừa để nâng lên mức hoàn thiện.

Thành Hoa Lư và Thăng Long còn giống nhau về địa danh. Bước đầu chúng tôi đã thống kê được một số địa danh giống nhau như: Tháp Báo Thiên, Chùa Nhất Trụ (Một Cột) chùa Bà Ngô, chùa Am, đình Ngang, cầu Đông, cầu Dền, Đông Môn, Tràng Tiền, ngã ba Bồ Đề, cống Chẹm…v.v.. Những địa danh này làm cho chúng ta thấy bóng dáng của Hoa Lư ở Thăng Long.

Tóm lại, thành Hoa Lư và Thăng Long có sự tương đồng về vị trí địa lí, cấu trúc thành lũy kiến trúc cung điện, mô típ trang trí, địa danh…v.v… Có các chăng là kinh thành Thăng Long to lớn, bề thế hơn ở vào “chính giữa bờ cõi đất nước” trên cơ sở một đất nước thống nhất đang trên đà phát triển./.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online