Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tự tánh Quán Âm tiếp theo (Minh Mẫn)
Tự tánh Quán Âm tiếp theo (Minh Mẫn) PDF In E-mail
Người viết: (Minh Mẫn   
04/12/2012

TỰ TÁNH QUÁN ÂM  (tiếp theo)

* Minh Mẫn

Âm lưu nội tại

Âm lực vũ trụ, âm thanh thường nhật trong cuộc sống và sóng âm nội thể trong từng sanh thân của mọi loài đều là một phần của trường năng lượng; Sóng âm trong khoáng vật, trong thực vật, tuy tai không nghe thấy, nhưng nó vẫn luôn dao động để duy trì hình thái và sự sống của vật thể. Và sóng âm hay trường năng lượng sẽ chuyển hóa các tế bào gen trong từng sanh thân để tương thích với ngoại lực, chính vì thế mà từ  đáy biển sâu lạnh đến vùng xích đạo khô nhiệt vẫn có sự sống tồn tại, mỗi môi trường đều có những sinh vật thích ứng với nhiệt độ và điều kiện sống nơi đó. Trong trường lực vũ trụ vẫn tồn tại dạng sóng sinh thức, đó là sinh vật năng lượng hay cỏi vô hình mà con người thường gọi.

 

Lời tiên tri của những hành giả tâm linh ở đẳng cấp cao trong những thế kỷ trước, tiên đoán thế kỷ 21 là thế kỷ của tâm linh, vì vậy mà trình độ tiến hóa tâm linh nâng trình độ nhận thức khoa học lên một tiến độ vượt bậc. Từ nhân loại đến các loài sinh vật đều có một trình độ khôn ngoan nhất định. Khi tâm linh tiến hóa thì trường lực vũ trụ cũng có sự chuyển biến tương thích. Trẻ con ngày nay đẹp và thông minh hơn, loài vật nuôi cũng tinh khôn hơn, thực vật cũng phát triển nhanh và một số biến đổi gen tự nhiên để thích ứng với môi trường, khí hậu chuyển biến. Sự co giãn của vũ trụ ảnh hưởng nhiều đến sinh quyển, đến não bộ các sinh loại; ngay cả khi  thời tiết giao mùa thì con người cũng ảnh hưởng sức khỏe, thì khi khí quyển dao động bởi trường lực vũ trụ thì cơ năng cũng phải thích ứng, các tế bào, gen cũng phải chuyển hướng; Riêng con người, một số do bảo lưu tập khí nên màng vô minh làm trì trệ tiến hóa tâm linh, chưa thích nghi với những chuyển biến cơ chất, vì thế những vi sinh vật đối kháng lại tâm thức sanh ra vô vàn loại virus lạ mà  gọi là bệnh lạ thế kỷ. Tuy nhiên, nếu tâm thức chuyển hóa cao, tâm linh tương thich với sự chuyển biến của vũ trụ thì tự thân, năng lượng sóng âm sẽ đồng pha và sinh thân sẽ quân bình hài hòa với cuộc sống trong vũ trụ. Vì thế, cuộc sống thiên trọng về vật chất thì tâm linh sẽ bị phai nhạt, khuynh hướng tâm linh mạnh thì cuộc sống vật chất sẽ đơn giản hóa, từ đó bệnh tật ít phát triển.

 

Vũ trụ tuyến chuyển đổi thì cơ năng sinh học các loại cũng phải chuyển đổi, tâm linh cũng phải vận hành theo cơ chế mới trong một trường năng lượng chung của vũ trụ; Mỗi chu kỳ là một kỷ nguyên, mỗi kỷ nguyên là biểu thị sự vận hành của trường lực vũ trụ, nhân sinh đương đại, do vậy, mỗi thời kỳ có một đấng tâm linh ra đời khuyến giáo chúng sanh sống theo lẽ Đạo đương thời cho thích nghi với cung Đạo vũ trụ đặng tiến hóa. Tôn giáo có giá trị tương đối, nhưng chân lý luôn tuyệt đối; Do nghiệp thức con người sâu dầy mà những hệ phái tâm linh luôn bị biến thành tôn giáo, tôn giáo là hiện tượng xuống cấp của tâm linh; đã có tôn giáo là phát sanh ra nghi lễ, giáo luật để bảo vệ tôn giáo, có tôn giáo là có giáo hội, có giáo hội là có giáo chế, giáo sản, giáo ca…cứ thế mà cái nầy có nên cái kia có, cái nầy sanh thì cái kia sanh…đến khi tôn giáo biến thái quá độ thì lại có một đạo sư tâm linh khác ra đời để chỉnh đốn kỷ cương tâm linh. Vì những ràng buộc của giáo điều chẳng khác những ràng buộc khác trong cuộc sống; cho dù những ràng buộc  được mệnh danh vì sự thánh thiện, cũng đều làm chướng ngại cho tâm thức; giải thoát là sự tự do tuyệt đối từ tâm thức, không bị tập quán, kiến thức, tín ngưỡng, truyền thống, huyết thống, địa vị… chi phối.

 

Mỗi chu kỳ biến đổi, dịch chuyển của từ trường vũ trụ hay nhiệt lượng quang năng thì trên hành tinh cũng bị dao động về kinh tế, thương mãi, chiến tranh, rối loạn xã hội. Vì thế có những chu kỳ nhất định cho việc suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chánh, bế tắt giao thương là chuyện khó tránh trên hành tinh. Rồi sau đó lại hưng thạnh phát triển tiến hóa .

 

Tuy nhiên, cung Hoàng đạo của một chu kỳ trong vũ trụ chiếu cố thì những thế kỷ đó sản sanh lắm nhân tài, Thánh nhân, khoa học lỗi lạc; ngược lại gặp phải cung hắc đạo thì vô số hung thần tội ác thiên ma hắc ám xuất hiện. Điều nầy dễ hiểu khi có Thánh nhân xuất hiện thì luôn có hiền tài hỗ trợ, cuộc sống thái bình an lạc, xã hội thánh thiện, đất nước phát triển, nhà nhà hưng thạnh. Đó cũng do cộng nghiệp của quốc gia, khu vực hay châu lục, và ngược lại cũng thế.

 

Sóng âm nghiệp thức của từng cá nhân cộng hưởng với nghiệp thức cộng đồng tạo thành một y báo cho một xã hội; như con sóng vỗ bờ phát xuất từ ngoài khơi đại dương, cũng thế, giữa bể trùng dương năng lượng vũ trụ ảnh hưởng và giao tác nhất định sóng âm của cá thể tạo thành một nguồn sinh lực tâm linh, từ nguồn sinh lực tâm linh được giao tác với năng lượng sinh thức tạo một nghiệp thức hoặc thiện hoặc ác mà hiện sanh thế giới hiện tượng. Nguồn sinh lực trong mỗi cá thể tạo nên sóng âm sinh học, tư tưởng, cảm thọ tạo nên sóng âm sinh thức, tuy vô hình nhưng tác động của từng sóng âm sinh thức tạo nên nghiệp thức, gửi năng lượng sinh thức vào kho lưu trữ trong băng tầng năng lượng vũ trụ. Những hạt giống nầy tồn tại biệt lập không bị nhiễu hạt với các sóng thức khác, vì tính đặc thù đó mà một bậc chứng đắc hoặc thấu thị bẩm sinh đều đọc được thông tin cá nhân trên trường năng lượng vũ trụ như  kỷ thuật viên đọc được lập trình phần mềm trên mạng tin học.

 

Như vậy, chấn động lực tâm thức có một quyết định quan trọng cho sự thăng hoa hoặc đọa lạc của một sinh thể.

 

Hội nhập

Tâm thức vũ trụ hay năng lượng siêu thức của cá thể là một nguồn sáng tinh khiết không tồn đọng bất cứ một dạng thể, một ý niệm, một kinh nghiệm  nào; tuy nhiên cũng không phải là luồng sáng vô tri; tuy vô thức nhưng trùm khắp cái biết của vũ trụ. Khi hành giả hòa nhập cùng quang năng vũ trụ là tiếp nhận cái biết của vô thức (vô sư trí), tự động tâm tánh chuyển hóa tràn đầy năng lượng yêu thương, thu hút mọi cảm ứng đối với muôn loài, và trí tuệ bùng vỡ. Năng lượng vũ trụ dương luôn bao phủ và tỏa sáng quanh cơ thể, nhưng phàm phu khó tiếp nhận vì những năng lượng âm trược chiếm ngự thể xác và tâm hồn; một hành giả tọa thiền, tâm không bị tạp loạn thì năng lượng vũ trụ thẩm thấu vào cơ năng, cũng thế, khi ngủ say, cơ thể cũng tiếp nhận được năng lượng vũ trụ thông qua 7 luân xa, nên sau giấc ngủ say thường thấy khỏe hơn giấc ngủ chập chờn. Hành giả sau thời gian tọa thiền nhiều giờ, cũng thấy an lành thanh tịnh khỏe khoắn. Một khi tâm thức nhập vào trạng thái vô thức, tức hòa  đồng cùng vũ trụ thì tự mình cảm nhận được tính minh triết trước mọi vấn đề; ví dụ một đoạn kinh, mình hiểu sâu sắc hơn, một vấn đề mình giải quyết thông thoáng hơn, một vấn nạn mình hanh thông những ách tắt…

 

Con đường hội nhập siêu thức với quang năng vũ trụ chỉ là sự hiển lộ tự tánh toàn chân, như ánh sáng giao hòa với ánh sáng mà không tạo ra một biến động cơ học hay vật lý. Hai Thiền sư tâm chứng ngồi bên nhau hàng giờ mà vẫn không trao đổi nhau một lời, thế nhưng họ vẫn hiểu được nhau về những điều muốn nói, ngược lại, người thường tục ồn ào vận dụng rất nhiều ngôn từ để diễn đạt điều mình muốn nói cho đối tượng cảm thông, đôi khi vẫn bị cảm nhận lệch lạc, đó là do sóng âm não bộ bị chướng ngại nhiều vật cản của nghiệp thức nên khó đồng pha trên cùng băng tần sóng thức.

 

Con đường hội nhập có nghĩa trở lại chính mình, một quang năng tự tánh mà bấy lâu bị màng vô minh che lấp; lớp vô minh do vọng niệm khởi xuất từ cái nhìn và cái nghe. Trong năm giác quan, mắt và tai đóng phần quan trọng cho mọi cảm thọ; Cuộc sống thường nhật cho đến hiện tượng vũ trụ đều tồn tại trên chấn động lực của âm thanh và ánh sáng; sóng quang và sóng âm luôn song hành giúp cho tánh thấy và tánh nghe hiển lộ. Trên hiện tượng thì thấy và nghe là hai lãnh vực cá biệt; cũng thế, khi Big Bang xuất hiện thì tiếng nổ đã phát ra tia sáng; sấm sét đi liền tia chớp. Như vậy khởi xuất từ một mà biến thái ra hai ngã để rồi :-“nhất bản tán vạn thù”; Lý thuyết Đạo gia không xa khoa học và Phật giáo : khởi niệm vô mình mà muôn hình vạn tượng tiếp nối phát sanh. Do vọng niệm mà biến tánh thấy và nghe thành cảm thọ, từ cảm thọ mà muôn trùng xa cách khởi điểm. Từ vụ nổ đầu tiên mà vũ trụ hình thành tiếp nối hình thành vũ trụ qua những vụ nổ. Do quan niệm cái thấy và nghe khác nhau nên nghĩ âm thanh và ánh sáng khác biệt, thực ra chúng cùng một bản chất vì chúng khởi xuất cùng một thời điểm. Hai tia nắng mặt trời xuyên qua lỗ tole, chúng song song như sự cách biệt, thực chất phát xuất từ một điểm mặt trời, cũng thế, âm thanh và ánh sáng, tia chớp và tiếng sấm, tánh thấy và tánh nghe cũng chỉ là một, thế thì không lý do gì phải sanh tâm phân biệt. Mọi hiện tượng vật lý và tâm lý cũng vậy, do khởi niệm vọng tưởng mà có, từ cái có nầy mà cái có nọ phát sanh, trùng trùng duyên khởi từ một ý niệm vô minh phát sanh.

 

Hành giả tiến tu giải thoát có nghĩa phải giải thoát ngay tâm phân biệt, ngay ý tưởng vọng niệm; khi hành giả trang bị cặp mắt của Bồ Tát quán Thế Âm “ Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” thì tinh thần “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” sẽ giúp hành giả không bị ngoại cảnh chi phối.

 

“nhất bản tán vạn thù” thì “vạn thù quy nhất bản” nhất bản đó quy về đâu? Gom tất cả hiện tượng vật lý tâm lý về một thì một nằm ở đâu rồi một sẽ đi về đâu để thoát ly tam đồ khổ?

 

Âm và dương, thấy và nghe, ánh sáng và âm thanh đều là những dợn sóng lăn tăn trên mặt năng lượng sinh học và sinh thức. Vì thế  hành giả Quán âm bắt buộc thực hiện sâu xa trí tuệ Bát Nhã mới “viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn”. Trí tuệ Bát nhã không nằm ở dưới đan điền (luân xa 1-2), phần dưới cơ thể tương ưng cỏi dục ( dục giới). Luân xa 3-4-5 tương ưng cỏi sắc (sắc giới), thế thì luân xa 6-7 tương ưng cỏi vô sắc, từ đây, làm bàn đạp để thoát ly tam giới. Các hành giả Tiên đạo thường dụng đan điền. Có pháp môn xem đan điền là “đại hải” phản chiếu ánh sáng từ nê hòan cung để khai mở tuệ tri; nhưng hành giả quán âm không nhất thiết phải đi vòng xuống để lộn trở lên đôi khi sinh lực khí bị vọng tưởng dẫn lạc đưa đến cuồng dâm, điên loạn. Mọi tuệ giác khởi đầu đều từ con mắt thứ ba mà người Ấn thường chấm son trên trán giữa hai chân mày. Đức Thế tôn thường phóng quang từ giữa chặng mày hoặc trên đỉnh đầu (luân xa 7). Con mắt thứ ba tương ứng với tuyến Tùng. Từ lâu nhân loại không sử dụng tuyến Tùng nên chúng ẩn tàng sâu vào bán cầu não; Người có chỉ số thông minh tính bằng IQ, nhưng người có tuệ giác là do tuyến Tùng phát triển tốt. Hiện nay, khoa học ngoài việc khám phá về vật lý của não bộ, chỉ biết có hàng trăm tỷ tế bào thần kinh và dạng cấu tạo của não, không còm tìm thấy được những ẩn số mà những thách đố từ tâm linh đưa ra, vì thế, nhà sinh lý học Robert Edwards (Đoạt giải Nobel Y học 2010) từng nói "Đối với tôi thì trên thế giới này chỉ có ba thứ mà tôi cảm thấy mơ hồ nhất, nó khiến cho tôi và dường như tất cả mọi người vô cùng tò mò, đó là:Tâm linh; Vũ trụ và bộ não con người". Thực sự đã trãi qua một quá trình rất là dài nghiên cứu bộ não, nhưng chúng ta chưa hề biết nhiều về nó. Bộ não người là một ẩn số vô cùng lớn vượt thời gian. (wikipedia).

 

Thế thì cái gì làm cho những bộ não có sự sai biệt về thông minh, về năng khiếu, về trí nhớ và những thiên tài, thấu thị, và nhớ lại tiền kiếp, chưa nói đến tuệ giác như đức Phật và chư  Thánh hiền minh sư?  Chủng tử huân tập chỉ là dạng sóng được ký gửi trong trường năng lượng tạng thức, thuần về vật lý không thể có đáp án chính xác, bởi vì, não bộ và sinh vật chỉ là sự kết tụ cô đặc của năng lượng thô; Trong trường năng lượng vũ trụ còn tồn tại vô số sinh thể năng lượng vi tế mà khi hiển thị chỉ là ánh sáng, một loại ánh sáng siêu thức. Khoa học vật lý, khoa học thần kinh chưa có tầm với đến phạm trù khoa học tâm linh.

 

Sóng âm và sóng quang của năng lượng vũ trụ luôn giao hòa để tồn tại cuộc sống cho quang năng tự tánh; cũng thế tánh nghe và tánh thấy được dung hóa giữa cuộc sống vật lý, muốn tiến đến một năng lượng siêu thức hòa đồng năng lượng vũ trụ, đòi hỏi hành giả hóa giải mọi tập nghiệp và luôn nâng năng lượng sinh học, năng lượng sinh thức lên trạng thái của chấn động lực mạnh và nhanh (tần dao động của năng lượng âm lưu) Lúc ấy, hồng huyết cầu tăng, hệ thần kinh phấn chấn tạo cho hành giả có cuộc sống an lạc, hanh thông, hạnh phúc, thanh thản, trí tuệ và tình thương rộng lớn vô điều kiện.

 

Tâm thức tản mạn thì không tập trung năng lượng sinh thức. Tâm thức bảo thủ cố chấp sẽ bị cột trói năng lượng sinh thức, đều là biên kiến. Tâm tỉnh thức là tâm không bị vướng vào bất cứ đâu, chỉ mà vẫn quán, định mà vẫn tuệ; tâm ở đâu là khí ở đó, sinh lực khí là năng lượng nuôi dưỡng tuyến Tùng để khai mở mắt huệ. Bí quyết của mọi hành giả tâm linh tuy “chân không mà vẫn diệu hữu” là đấy. Đó là Tự Tánh Quán âm.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online