Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Tiên sư cổ miếu (Trần Phước Thuận)
Tiên sư cổ miếu (Trần Phước Thuận) PDF In E-mail
Người viết: Trần Phước Thuận   
03/01/2013

TIÊN SƯ CỔ MIẾU BẠC LIÊU

* Trần Phước Thuận

Vào khoảng năm 1852, vùng Ba Thắc (Bạc Liêu – Sóc Trăng) có loạn Sana Tia và Sana Sum (tiếng Khmer – Sana có nghĩa là nguyên soái), hai tên này nguyên là người Khmer ở Trà Khương (Sóc Trăng), chúng tập hợp được một số quân kéo đi cướp bóc khắp nơi. Chúng tấn công cả đồn Bãi Xào và vây hãm thị trấn Bạc Liêu, kế đó ích lâu ở thôn Lạc Hoà (Sóc Trăng) lại có loạn Lâm Lâm, hắn cũng cầm đầu một toán quân ô hợp, đi đến đâu giết người cướp của đến đấy.

Lúc đó Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873) đang là Tổng Đốc của các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên nhận thấy tình hình bất ổn nên đã đem quân xuống vùng Ba Thắc để tiểu trừ loạn phỉ. Đội quân của ông là một đội quân tinh nhuệ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu nên chỉ trong một thời gian ngắn – không đầy một năm đã dẹp tan quân phiến loạn.

Trong lúc hành quân diệt địch, bộ chỉ huy quân sự của Nguyễn Tri Phương trú đóng trên một khu đất gò thuộc vùng Miếu Tiên Sư ngày nay. Ở đấy lúc bấy giờ có một ngôi miếu nhỏ thờ Tam Giáo tổ sư được làm bằng cây lá rừng, ngôi miếu không có bản hiệu – cũng như nhiều ngôi miếu nhỏ khác, được người dân ở đây gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau : Miếu Tiên Sư, Miếu Tổ Sư, Miếu Thầy.

Sau thời gian binh biến, ngôi miếu bị hư hao gần như toàn bộ, nên trước khi rút quân về, Nguyễn Tri Phương đã ra lệnh cho quân lính dùng cây lá và một số vật liệu nhà binh để xây dựng lại. Ngôi miếu mới tuy cũng đơn sơ nhưng lớn gấp đôi ngôi miếu cũ và có  một điều đặc biệt là Nguyễn Tri Phương tự tay viết bảng hiệu. Đây là bảng hiệu đầu tiên mang tên Tiên Sư Miếu (được viết bằng chữ Hán). Ông còn nhắc nhở người địa phương nên dùng ngôi miếu này tiếp tục những người có công khai khẩn đất hoang, xây dựng làng xã và những chiến sĩ vì nước bỏ mình.

Lời dặn bảo này đã trở thành truyền thống thờ phụng ở miếu Tiên Sư, nên từ trước đến nay ngoài Nguyễn Tri phương còn có một số người có công xây dựng làng xã ở Bạc Liêu được thờ như : Phan Thanh Giản, Cao Minh Thạnh, Nguyễn Tấn Phát, Triệu Vạn Tượng, Lý Hữu Hoan, Phan Kim Lý, Trịnh Thiện Kim, Cao Tấn Hưng, Trịnh Thành Long … và 20 chiến sĩ chống Pháp đã anh dũng hy sinh, trong đó có bảy người bị Pháp xử bắn tại sân miếu.

Năm 1853, Nguyễn Tri Phương được phong làm Kinh lược xứ Nam Kỳ, từ đó về sau ông đã tổ chức khai phá đất hoang thành lập thôn ấp ở nhiều nơi. Khoảng năm 1855, ông đã đem một số lớn lưu dân người Việt vào Bạc Liêu khai khẩn đất hoang lập nhiều thôn làng ở đây như : Vĩnh Lợi, Vĩnh Mỹ, Phong Thạnh, Vĩnh Trạch … Nguyễn Tri Phương cũng rất trú trọng về mặt mở mang dân trí, nhận thấy ở đây người Việt càng ngày càng đông cần phải có một nơi để học hành nên ông cũng ra lệnh cho các chức sắc ở địa phương mở rộng diện tích của miếu Tiên Sư bằng cách cất thên tiền sảnh và hai chái hai bên để làm nơi dạy học. Đây không phải là ngôi trường chính thống được hợp pháp hoá của nhà nước, nhưng được thành lập theo ý của quan Kinh lược nên được các giới chức làng tổng ở Bạc Liêu rất quan tâm, nhiều thầy đồ ở các nơi được mời về giảng dạy. Vì vậy có thể nói Miếu Tiên Sư là nơi duy nhất dạy chữ Nho (chữ Hán âm Việt) ở Bạc Liêu và sau đó trở thành điểm dạy chữ Việt đầu tiên ở đây.

Đến năm Tân Sửu (1901), ban bảo trợ miếu đã đứng ra vận động bá tánh để thành lập ban tế tự, kết quả ông Cao Minh Thạnh (1860 – 1919) được bầu làm trưởng ban. Ông Thạnh là người cố cựu ở Bạc Liêu có nhiều kinh nghiệm về quản lý và có ý tưởng canh tân, nên khi vừa tiếp nhận nhiệm vụ, ông đã đứng ra vận động bà con khu phố quên góp tiền bạc để xây dựng một ngôi miếu bằng gạch ngói thay cho ngôi miếu nóc lá cây rừng đã hư cũ. Sau khi ngôi miếu mới được hoàn thành, nhận thấy bề ngoài khá đồ sộ nên ông Cao Minh Thạnh đã đề nghị đổi tên TIÊN SƯ MIẾU thành TIÊN SƯ CỔ PHỦ cho thích hợp hơn.

Đến năm 1964, ông Trần Vinh lại đề nghị nên dùng tên cũ – cái tên mà ông Nguyễn Tri Phương đã đặt ra nhưng ngôi miếu đến nay cũng lâu năm nên giữ lại từ “cổ” ; do đó ngôi miếu này lại mang tên Tiên Sư Cổ Miếu.

Như vậy tính đến nay ngôi miếu đã ba lần thay tên gọi. Tính từ đời ông Cao Minh Thạnh đến nay cũng đã thay đổi chín lần trưởng ban : 1/ Cao Minh Thạnh (từ 1901 đến ?) ; (trưởng ban đời thứ 2, thứ 3 và thứ 4 bị lạc mất danh sách) ; 5/ Trần Vinh (… đến 1991) ; 6/ Huỳnh Bá Cang (từ 1992 đến 1995) ; 7/ Cao Triều Mẫn (từ 1996 đến 2000) ; 8/ Trịnh Nghiệp (từ 2000 đến 2004) ; 9/ Cao Triều Mẫn (từ 2004 đến nay). Đặc biệt người trưởng ban lần thứ bảy và thứ chín đều do ông Cao Triều Mẫn phụ trách (ông Mẫn là cháu nội của ông Cao Minh Thạnh).

Năm 1997, Tiên Sư Cổ Miếu lại được trùng tu; lần trùng tu này được sự ủng hộ của người nước ngoài, ông Mã Tính một Việt kiều ở Mỹ đóng góp hơn một trăm triệu trong việc trùng tu, gia đình ông ở Bạc Liêu cũng đã hiến tặng hai chiếc xe tang, một cho Tiên Sư Cổ Miếu và một cho Vĩnh Triều Minh, góp phần phục vụ lợi ích xã hội rất tích cực.

Cũng trong năm này Tiên Sư Cổ Miếu lại được Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu cấp quyết định “bảo vệ di tích lịch sử văn hoá” số : 877/QĐ.UB ngày 15/09/1997, cùng lúc với ba ngôi đình miếu khác đã chứng tỏ sự quan tâm của nhà nước đối với vấn đề bảo vệ di tích, nhất là sự tham mưu tốt của bảo tàng tỉnh Bạc Liêu, tuy nhiên theo thiển nghỉ của chúng tôi, đây là ngôi cổ miếu không những có quan hệ mật thiết với những sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành làng xã ở Bạc Liêu, mà còn là một chiến tích của người anh hùng Nguyễn Tri Phương qua việc tiểu trừ quân phiến loạn và đẩy lùi giặt dốt – những việc làm có ý nghĩa lớn trong lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ; Vì vậy Tiên Sư Cổ Miếu nếu được vinh thăng thành di tích lịch sử cấp quốc gia mới đúng với vị trí và thích hợp với vai trò của nó hơn./.

Cập nhật ( 03/01/2013 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !