Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Tri thức tân học Việt Nam (Trần Thị Kim Anh)
Tri thức tân học Việt Nam (Trần Thị Kim Anh) PDF In E-mail
Người viết: Trần Thị Kim Anh   
03/01/2013

TRÍ THỨC TÂN HỌC VIỆT NAM VỚI HÁN NÔM HỌC THẾ KỶ XX

* Trần Thị Kim Anh

Cuối thế kỷ XIX, sau khi hoàn thành công cuộc bình định, thực dân Pháp bắt đầu áp đặt chế độ thực địa lên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt việc đưa dần tiếp Pháp và chữ quốc ngữ để thay thế chữa Hán vào các hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước buộc triều đình nhà Nguyễn phải đi dần từ chỗ giảm bớt rồi thủ tiêu hoàn toàn chế độ đào tạo quan lại trí thức theo lối truyền thống - đào tạo thông qua chữ Hán và văn hóa Hán – để chấp nhận một chế độ đào tạo mới – đào tạo bằng tiếng Pháp, bằng chữ quốc ngữ và văn minh tân học, đã khiến cho quá nhiều nhà Nho, có người do tinh thần yêu nước không chấp nhận sự can thiệp của người Pháp, có người do không thích ứng được với cái mới, phản ứng dữ dội.

Nhưng ngược lại cũng có không ít trí thức Nho học khác, có người do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Duy tân, ý thức được sự ưu việt của nền văn minh tân học, có người do sự thúc ép của việc mưu sinh… đã nhiệt tình ủng hộ cho nền học mới, kiên quyết “vứt bút lông đi giắt bút chì” (1), bằng nhiều con đường khác nhau, theo dõi tân học. Do vậy chẳng bao lâu, vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX, một tầng lớp trí thức mới được hình thành thay thế lớp trí thức cựu học, trở thành một lực lượng góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển văn hóa xã hội trong giai đoạn này. Đặc điểm của tầng lớp trí thức thời kỳ này là hầu hết đều biết tiếng Pháp, đều được trang bị nhiều kiến thức mới mẻ của văn minh phương Tây đồng thời lại khá am hiểu nền Hán học truyền thống.

Chỉ qua chứng vài ba thập kỷ, do những biện pháp hành chính của chính quyền thực dân (2), đồng thời được sự cổ động nhiệt tình của tầng lớp trí thức tân học, chữ quốc ngữ, với những đặc điểm hết sức ưu việt so với chữ Hán đã mau chóng được phổ biến rộng rãi để rồi chiếm hẳn địa vị độc tôn, đẩy chữ Hán lùi về dĩ vãng. Trong vài chục năm, số người biết chữ, đọc được chữ quốc ngữ tăng lên nhanh chóng giúp phần nào thay đổi về dân trí khiến cho nhu cầu đọc sách báo ngày càng nâng cao, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành báo chí, xuất bản. Hàng loạt các tờ báo, tạp chí quốc ngữ cùng các nhà xuất bản, nhà in ra đời hầu hết cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Tính từ năm 1865, năm tờ Gia Định báo – tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra mắt người đọc – đến năm 1939, trên toàn cõi Việt Nam đã có trên 40 tờ báo quốc ngữ cùng hàng vạn cuốn sách chữ quốc ngữ được ấn hành từ nhiều nhà xuất bản và nhà in khác nhau (3). Có thể thấy vào thời kỳ này, trên toàn quốc đặc biệt Hà Nội, Sài Gòn, hoạt động báo chí khá sôi nổi và những hoạt động này đã góp mặt sự đông đảo lực lượng trí thức tân học. Cho đến nay, nhìn nhận lại khối lượng sách báo được in ấn trong thời kỳ này phải thừa nhận rằng trong bối cảnh đất nước buộc phải giải thể xã hội cổ truyền, tiến hành cách tân để bước vào xã hội hiện đại, thì bằng trí tuệ và tâm sức của mình, những trí thức tân học, tuy mỗi người với những mục đích khác nhau, nhưng trong một chứng mực nào đó, đều có sự đóng góp cho sự phát triển của văn hóa nước nhà. Những đóng góp nổi bật của họ trong giai đoạn này có thể kể được ở những mặt:

- Góp phần hoàn thiện dần chữ quốc ngữ.

- Góp phần đẩy nhanh sự phát triển của thiếng Việt.

- Góp phần truyền bá kiến thức tư tưởng văn hóa hiện đại.

- Góp phần hình thành nền văn học mới.

- Góp phần đặt nền móng cho nhiều ngành nghiên cứu khoa học và nhân văn như: Lịch sử, văn học, Dân tộc học, Triết học, Hán Nôm…

Việc đánh giá thực chất vai trò của trí thức tân học đối với văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX là một vấn đề lớn và phức tạp, do đó, như tiêu đề đã nêu, trong bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ xin bàn đến những đóng góp của họn cho ngành Hán Nôm học.

Ngày nay Hán Nôm học được giao nhiệm vụ:

1- Sưu tầm bảo quản thư tịch, văn khắc… viết bằng chữ Hán, chữ Nôm.

2- Khai thác nghiên cứu và công bố các văn bản Hán nôm. Có thể thấy ngay từ cuối thế kỷ XIX. Tuy chưa có ý thức rõ ràng về Hán Nôm học, song trong các công việc của mình, các học giả thời đó đã phần nào tiến hành từng bước những công tác này.

 

A. Sưu Tầm bảo quản

Đối với công việc này, trước hết phải kể đến sự đóng góp của các trí thức công tác tại Học viện Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO). EFEO từ năm 1902 đã được chính thức tại Hà Nội nhằm nghiên cứu một cách khoa học nền văn minh trên bán đảo Đông Dương và góp phần nghiên cứu những vùng và những nền văn minh lân cận như Ấn Độ, Trung Quốc, Mã Lai… Do yêu cầu về chuyên môn, Học viện đã thu nhận một số trí thức tân học, trong đó có những người được đào tạo khá căn bản từ Pháp như Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp… Trong một thời gian dài, cùng với người Pháp, họ đã tiến hành những hoạt động kiên trì và có phương pháp đối với việc điều tra, khảo sát, sưu tầm bảo quản những di sản của quá khứ, Đồng thời bắt tay vào khai thác nguồn di sản nhằm tìm hiểu về lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam. Những thành tưu họ đạt được trong thời kỳ này rất đáng kể. Riêng đối với nguồn di sản Hán Nôm, họ đã mua, sao chép và tiến hành in dập được hàng ngàn cuốn sách cùng các thác bản bia. Theo một báo cáo của người Pháp năm 1951 thì kho tư liệu Hán Nôm ở thời điểm này có khoảng 3500 đầu sách, 25000 bản dập văn bia, 1800 tập điều tra thần tích địa bạ, hương ước, 457 tập thần phả, 132 tập thần sắc… Đây là một việc làm hết sức kịp thời trước sự cáo chung của nền học cổ truyền, giúp lưu giữ được nhiều tư liệu quý báu, tạo cơ sở cho sự phát triển của công tác sưu tầm bảo quản tư liệu Hán Nôm của chúng ta ngày nay.

 

Ngoài ra còn kể đến sự đóng góp của các trí thức trong các dòng họ lớn về việc họ đã gìn giữ, mở rộng thêm các thư viện gia đình để sau này hiến tặng lại cho nhà nước như Thư viện Hoàng Xuân Hãn, Thư viện Long Cương của dòng họ Cao Xuân…

 

B. Khai thác nghiên cứu

Nếu nhìn một cách tổng quát thì những đóng góp của trí thức học đối với công tác này có thể chia thành hai mảng lớn:

 

1- Thành tựu trong việc chuyển dịch ra chữ quốc ngữ một số lượng lớn các văn bản Hán Nôm

Công việc này được bắt đầu từ khá sớm do Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của với các văn bản Nôm. Đó là hàng loạt các tác phẩm Nôm được in và phát hành tại Sài Gòn như: Kim Vân Kiều (1875), Đại Nam Quốc sử diễn ca (1875), Lục súc tranh công (1885), Lục Vân Tiên truyện (1889), Phan Trần truyện (1889) của Trương Vĩnh Kí, Thoại Khanh Châu Tuấn (1906)  Bạch Viên Tôn Các (1906) của Huỳnh Tịnh Của. Sau đó trong suốt một thời gian dài, các văn bản Nôm được khai thác khá triệt để, từ các tác phẩm nổi tiếng như  truyện Kiều, hoa Tiên, Phan Trần, Lục vân Tiên, Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm, cho đến các truyện Nôm khuyết danh và thơ Nôm như Nhị thập tứ hiếu tân truyện, Phù Dung tân truyện, Quan Âm tống tử bản hạnh, Hoàng Tú tân truyện, Cai Vàng tân truyện, Lâm truyền kỳ ngộ, Trê Cóc tân truyện, Bướm hoa tân truyện, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng, Nhân nguyệt vấn đáp, Phạm Công Cúc Hoa, Phương Hoa tân truyện, Ngọc Hoa tân truyện, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm… nhiều tác phẩm được nhiều nhà xuất bản in đi in lại, những văn bản nổi tiêng như Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Lục Vân Tiên, được nhiều dịch giả tiến hành phiên âm, mỗi người trong bản phiên âm của mình đều cố gắng đưa ra được bản phiên tốt nhất.

 

Vì sao lại có hiện tượng các bản Nôm được quan tâm và khai thác triệt để như vậy? Có thể giải thích bởi các lý do:

 

Thứ nhất: do truyện Nôm là loại truyện thường được sáng tác theo thể lục bát, thuộc loại sách dễ nhớ dễ đọc, do đó vào thời kỳ đầu, để chữ quốc ngữ được phổ biến nhanh chóng người ta lợi dụng loại sách này nhằm truyền bá chữ quốc ngữ.

 

Thứ hai, do số người biết đọc tăng nhanh, công chúng có nhu cầu đọc sách ngày càng đông đảo và bình dân hơn trước, các nhà buôn đã nắm lấy cơ hội này để in ấn kiếm lời, điều đó khuyến khích nhiều dịch giả tìm loại sách này phiên âm nhằm mục đích kinh doanh.

 

Thứ ba, đây là vấn đề phù hợp chính sách văn hóa nô dịch của người Pháp, cho lưu hành loại văn chương vô hại, chủ yếu đề cao các giá trị đạo đức trung hiếu tiết nghĩa trong hệ tư tưởng Khổng Mạnh – Trình Chu nhằm giúp cũng cố chế độ chính trị thực dân nửa phong kiến trên đất Việt Nam. Còn về phía các trí thức người Việt có tinh thần dân tộc, thì đây là chỗ để họ bày tỏ phần nào tinh thần ái quốc, gởi gắm chút nỗi niềm hoài cổ, đề cao văn háa truyền thống.

 

Về mặt chất lượng, nếu đánh giá theo cách nhìn ngày nay thì những văn bản đã được phiên này có rất nhiều khiếm khuyết. Chẳng hạn phiên âm sai do thiếu những kiến thức về ngữ âm lịch sử, hầu như không có những tao tác về văn bản học, phần chú thích, khảo dị quá sơ sài. Có nhiều văn bản chỉ có phần phiên âm chính văn ngoài ra không còn gì khác. Tuy nhiên đối với một số tác phẩm nổi tiếng như Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm…thì tình hình có khác, việc khảo dị, chú thích, giới thiệu được làm kỹ hơn, có những bản có chất lượng khá tốt như Truyện Thúy Kiều do Bùi Kí và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản ở Hà Nội, in lần thứ nhất vào năm 1925, hoặc bản Vương Thúy Kiều chú giải  của Tản Đà do Tân Tân Dân xuất bản Alexandrede Rhodes ấn hành năm 1943, hoặc Hưng Long thư quán xuất bản năm 1930.

 

Nhìn chung chưa phải là mỹ mãn nhưng thành tựu trên phương diện phiên âm Nôm vào thời kỳ này rất đáng được xem trọng ở nhiều mặt. Trước hết đã giúp cho hàng loạt các tác phẩm văn chương viết bằng chữ Nôm, loại chữ không phải ai cũng đọc được, nay dưới hình thức chữ quốc ngữ đã được phổ biến trong người đọc một cách dễ dàng. Đồng thời nhờ họ, người ta đã có những nhìn nhận đánh giá đúng mực hơn đối với chữ Nôm và văn chương viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra đối với các thế hệ đi sau, nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc xử lý phiên âm chú thích các văn bản Nôm đã được rút ra từ các phiên bản đó.

 

So với các phiên bản Nôm, mảng văn bản chữ Hán được chú ý đến muộn hơn, về thành tựu trong lĩnh vực này trước hết phải kể đến vai trò của các trí thức tập hợp trong các tạp chí được lưu hành thời bấy giờ như Đông Dương tạp chí, An Phong tạp chí, Hữu Thanh Trung Bắc tân văn, Thần Chung… Tuy đây là những tờ báo được chính quyền thực dân cho phép lưu hành nhằm “cổ động cho tư tưởng Pháp”. Nhưng những trí thức tập hợp ở các tạp chí này như Phạm Duy Tốn, nguyễn văn Tố, Phan Kế Bính, Nguyễ Đỗ Mục, Dương Bá Trác, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Bùi Kỉ, Lê Dư, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Quang Oánh, nguyễn Văn Ngọc, Ngô Tất Tố, Tản Đà… đã lợi dụng tờ báo, ngoài ý muốn của thực dân Pháp truyền đạt đến đại chúng phần nào diện mạo và tinh hoa của nền văn hóa dân tộc nhằm kích thích lòng tự tôn, tinh thần tự hào dân tộc. Để làm được điều này, mảng tư liệu chữ Hán đã được họ khai thác khá nhiều ở nhiều phương diện khác nhau như lịch sử, văn học, dân tộc học… Chỉ riêng lĩnh vực văn học, thơ văn của hầu hết các tác giả tiêu biểu trong nền văn học cổ Việt Nam đã được họ “động” đến như thơ chữ Hán của các tác gia: Mãn Giác Thiền Sư, Không Lộ Thiền Sư, Lý Thái Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Trần côn, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông, Mạc Thiên Tích… Văn xuôi chữ Hán của Lý Tế Xuyên, Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông, Đoàn Thị Điểm, Vũ Phương Đề, Lê Hữu Trác, Lý Văn Phức, Phạm Đình Hổ…

 

Không chỉ vậy, các bộ sách lớn về lịch sử, địa lý, y học, tiểu thuyết, cũng đồng thời được nhiều người trong số họ dịch và đăng dài kỳ trên tạp chí và in thành sách như Đại Nam nhất thống chí (1916), Đại Nam điển lệ toát yếu (1916),  Đại Nam liệt truyện (1977), Đại Nam liệt truyện tiền biên (1918), Đại Nam liệt truyện chính biên (1919) do Phan Kế Bính dịch. Hoàng Lê nhất thống chí do nguyễn Phan Lãng dịch, Hải Thượng Lãn Ông do Nguyễn Tử Siêu dịch…

 

Nhìn chung ở mảng này, các dịch giả hầu hết là những cây bút có tiếng đương thời, lại rất am tường Nho học nên các bản dịch của Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, hoặc các bản dịch thơ của Tản Đà, ngô Tất Tố có thể nói cả về độ chuẩn xác và cách hành văn, chọn chữ cho đến nay vẫn ít có bản dịch nào sánh kịp.

Đánh giá chung cho cả hai lĩnh vực phiên âm và dịch thuật Nôm và Hán có thể thấy thành tựu của các học giả, trí thức thời kỳ này là không nhỏ. Nhờ họ, một khối lượng rất lớn các văn bản Hán Nôm đã đượ chuyển sang quốc ngữ giúp cho nền văn học cổ truyền của dân tộc được phổ biến trong tầng lớp công chúng đương đại một cách dễ dàng. Số lượng các văn bản Hán Nôm được phiên âm dịch thuật này đã trở thành nguồn tư liêu dồi dào cho nhiều công trình khảo cứu biên soạn ra đời sau đó. Việc hàng loạt các tác phẩm văn học Hán Nôm được công bố đã góp phần hình thành cái nhìn tổng quát về nền văn học cổ Việt Nam, đặc biệt là dòng văn học chữ Nôm. Tuy nhiên, các kết quả trong việc phiên âm dịch thuật từ cách đây bốn năm chục năm về trước, cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết, song trên cơ sở kinh nghiệm của những người đi trước, các thế hệ đi sau đã dễ dàng thuận lợi hơn khi thực hiện những công trình phiên âm, dịch thuật, khảo cứu tiếp theo.

 

2. Thành tựu trong lĩnh vực khảo cứu, biên soạn các công trình có liên quan đến Hán Nôm.

 

Về mảng này, nhìn một cách bao quát thì cũng khá phong phú. Chúng bao gồm những loại như:

 

a. Sách biên soạn nhằm mục đích giảng dạy hoặc giới thiệu giảng giải về một số bộ sách kinh điển Nho học như các sách: Minh Tâm bảo giám, Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca, Tam thiên tự diễn ca của trương Vĩnh Ký; Luận ngữ quốc văn giải thích, Mạnh Tử quốc vận giải thích của Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục; Luận ngữ của Dương Bá Trác; Kinh dịch  của Ngô tất Tố…

 

b. Các thảo luận hoặc sách khảo cứu về lịch sử, văn hóa, tư tưởng Trung Quốc như: Khảo về lịch sử luân lý học nước Tàu, khảo về học thuật tư tưởng nước Tàu của Nguyễn Hữu Tiến; Lịch sử nước Tàu, Trung Hoa văn hóa  của Nguyễn Can Mộng; Nho giáo của Trần Trọng Kim; Học thuyết và đạo đức Khổng phu tử của Doãn Kế Diện; Bàn về việc học nước Tàu của Nguyễn Bá Trác; Học thuyết Mặc tử, Khổng Tử học thuyết của Lê Văn Hòe…

 

c. Các tiểu luận hoặc sách khảo cứu về lịch sử, tư tưởng, văn học, ngôn ngữ, Việt Nam như Phật gíáo với Nho Giáo, Giai nhân di mặc, Cổ xúy nguyên âm, Khảo về câu đối chữ Hán, Khảo về các câu đối Nôm của Nguyễn Hữu Tiến; Nguồn gốc và phương pháp học chữ Hán, Lĩnh Nam dật sử nghi án Của Doãn Kế Thiện; chữ Nôm với quốc ngữ, Nguồn gốc văn học nước nhà, Việt Nam văn học sử của Lê Dư; Về cách dùng chữ đặc câu trong sự học chữ Hán của tản Đà; bình luận về sách Khóa hư, Hội Tao Đàn của Nguyễn Trọng Thuật; Bàn về sự dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ của Phan Khôi; Quốc sử đính ngoa  của Lê Văn hòe; Danh nhân Việt Nam qua các triều đại, Việt Nam sử học của Phan Trần Chúc; Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim…

 

d. Các bộ sách sưu tập, tập hợp, giới thiệu các tác giả, tác phẩm Hán Nôm như: Thông loại quá trình của Trương Vĩnh Ký; Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa, Nam âm thi văn khảo biện của Nguyễn Hữu Tiến; Quốc âm thi văn tùng thoại của lê Dư; Nam âm hợp tuyển Nguyễn Văn Ngọc;  Thi văn bình chú  của ngô Tất Tố; Quốc văn trích diễm, Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm; Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên; Đào duy từ của Dương Tụ Quán…

 

e. Một số từ điển như: Từ điển danh nhân An Nam của Trương vĩnh Ký; Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của; Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh; Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hòe…

 

Ngoài ra, còn một số nghiên cứu của Võ Trừng Toàn do Nguyễn Khắc Huề trình bày, Văn khắc Toái Sơn và Vinh Tế của Trần Ban Hạnh được trình bày trong Hội nghị quốc tế chào mừng sự ra đời của EFEO vào năm 1902  cùng các bài nghiên cứu về thơ Nôm đời Lê, về thư tịch học… được đăng tải trong tập san Viễn đông bắc cổ  của nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp…

 

Thành tựu ở mảng này có thể nhìn nhận ở một số điểm sau:

 

Việc giới thiệu giảng giải một số sách kinh điển Nho học và lịch sử tư tưởng học thuật Trung Quốc trong thời buổi Hán học suy tàn là việc làm đúng lúc nhằm cung cấp cho những người tân học những kiến thức cần thiết, bởi tất cả những cái đó là căn bản của nền học truyền thống giúp họ có những hiểu biết sâu sắc đúng đắn khi nghiên cứu, viết về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam.

 

Đối với các bài khảo cứu và các bộ sách giới thiệu về tư tưởng lịch sử văn học, ngôn ngữ thì có thể thấy, tuy còn có những sai lầm, bất cập nhưng ở đây các học giả đã đạt được những thành công không nhỏ. Lối viết khảo cứu ảnh hưởng phương Tây được áp dụng từng bước đã giúp cho các bộ sách và các bài viết nhìn chung có chất lượng cao, khảo cứu sâu sắc, lập luận chặt chẽ, thơ văn tuyển chọn kỹ càng. Các khảo cứu phê bình như của Nguyễn Đỗ Mục, Lê Dư, Nguyễn Văn tố, Nguyễn Quang Oánh đối với văn bản Chinh phụ ngâm; của Đặng Trần tiến, Nguyễn Văn tố đối với văn bản  Hoa tiên  và của nhiều tác giả khác với nhiều văn bản Hán Nôm khác đã được công bố, cho thấy bộ môn văn bản học đã bắt đầu được các học giả thời đó xem xét như một hệ thống thao tác khoa học nghiêm chỉnh.

 

Về ngôn ngữ văn học, tuy còn sơ lược nhưng những vấn đề như nguồn gốc và sự phát triển của chữ Nôm, chữ Nôm trong mối tương quan với tiếng Việt, từ Hán Việt và ảnh hưởng của nó đối với tiếng Việt đã bắt đầu được nói đến.

 

Các bộ từ điển ra đời trong thời kỳ này cho đến nay vẫn hết sức có giá trị. Bộ từ điển Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của là một bộ sách vô giá đối với người nghiên cứu chữ nôm hiện nay. Từ điển Hán Việt  của Đào Duy Anh vẫn là bộ sách cần thiết cho đông đảo những người quan tâm đến bộ môn Hán Nôm.

 

Để đánh giá chuẩn xác và sâu sắc về vai trò của các học giả trí thức cuối thế kỷ XIX nữa đầu thế kỷ XX đối với Hán Nôm học cần phải có sự nghiên cứu tìm hiểu hết sức kỹ càng các thành tựu của họ. Ở đây, với kiến văn hạn hẹp, với khả năng có hạn, chúng tôi chỉ xin đưa ra đôi điều nhận xét đánh giá nông cạn của mình, xin được bạn đọc lượng thứ.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online