Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Xung quanh chiếc áo Long cổn vua mặc khi Tế Giao (Hải Trung)
Xung quanh chiếc áo Long cổn vua mặc khi Tế Giao (Hải Trung) PDF In E-mail
Người viết: Hải Trung   
15/01/2013

nullXung quanh chiếc áo Long cổn vua mặc khi Tế Giao.

*  Hải Trung

Trong tập Minh Mạng Ngự chế thi có bài thơ Trai Cung ngẫu vịnh được vua Minh Mạng ngự chế tại Trai Cung với nội dung như sau:

Phiên âm:

Trai Cung chuyên dĩ kính trì thân

Tự tảo Linh đài vật dục trần

Phần điển, thi thư, liêu tác bạn

Vấn tâm diệc khả đối đồng nhân.

Dịch thơ:

Một niềm trai kính thân này giữ

Bao bụi trần ai đã quét ra

Phần điển, thi, thư, thường kết bạn

Ðồng nhân đối diện hỏi lòng ta.

(Hải Trung dịch)

 

Hoàn tất bài thơ, nhà vua tự tay trồng một cây thông. Sau đó, các quan sẽ khắc một bài thơ của vua làm vào một chiếc thẻ bài bằng đá rồi treo vào thân cây. Chuẩn bị cho Tế Giao, đầu tiên nhà vua sẽ tiến hành các nghi thức chay tịnh, nằm đất, nhà vua mặc chiếc áo Long cổn và ngồi thiền trước chiếc tượng đồng nhân (tượng trưng cho sự thanh tịnh) ở Trai Cung. Từ thời khắc này, nhà vua sẽ mặc chiếc áo Long cổn (áo Tế Giao) trong suốt thời gian diễn ra lễ Tế Giao ở Trai Cung và Đàn Nam Giao...

 

Nhà vua - người chủ trì tế lễ

Lễ Tế Giao có một diễn trình lịch sử lâu đời gắn liền với truyền thống tâm linh phương Ðông. Đây là nghi lễ tế trời của các triều đại quân chủ Việt Nam với mục đích cầu cho đất nước thái bình, thiên hạ yên vui, mùa màng tươi tốt. Sử sách cho biết, dưới triều vua Lý Anh Tông (1138-1175) vào năm 1154, triều đình đã cho đắp đàn Viên Khâu và đích thân nhà vua lên tổ chức tế trời. Những giai đoạn nối tiếp của lịch sử, lễ Tế Giao vẫn tiếp tục được duy trì với những quy mô khác nhau. Ðến thời Nguyễn, vào giai đoạn đầu, mỗi năm một lần, triều đình cho tổ chức lễ Tế Giao vào tháng 2 âm lịch. Vào năm 1890 trở về sau, triều đình lại quy định cứ 3 năm một lần thì tổ chức. Bộ Lễ và Bộ Công chịu trách nhiệm chuẩn bị và tổ chức lễ tế.

 

Vào 8 giờ sáng, từ Hoàng Thành, nhà vua ngồi ngự liễn theo đoàn ngự đạo lên Nam Giao để trai giới chuẩn bị cho cuộc tế. Tại Trai Cung, chỗ vua ngự có đặt một tượng đồng nhỏ gọi là tượng đồng nhân, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Nhà vua ngồi thiền, đối diện với pho tượng đồng nhân như đối diện với chính mình, bản thân nhà vua luôn phải giữ những suy nghĩ thanh tịnh, lòng thành kính luôn hướng về trời đất, bắt đầu thực hành một quá trình chay tịnh, giữ mình để đảm bảo sự nghiêm cẩn khi hành lễ...

 

Ngày tiếp theo, lễ tế sẽ chính thức diễn ra từ 2 giờ sáng, vua rời Trai Cung, đến đàn làm chủ tế. Lễ tế ở Viên Ðàn tiến hành trước khi tế ở Phương Ðàn. Trình thức của lễ tế Nam Giao hết sức phức tạp với hàng trăm nghi tiết khác nhau. Gắn liền với các nghi tiết của lễ tế là các mục như cử Ðại nhạc, nhạc Bát Âm, múa Bát Dật...

 

Sáng hôm sau, các quan làm lễ khánh hạ, lạy mừng vua hoàn tất lễ. Sau đó, đoàn ngự đạo bắt đầu hồi cung... Trong những màu sắc rực rỡ, trong những âm thanh rộn rã... đoàn ngự đạo lộng lẫy, uy nghi trở về Hoàng Thành. Khi vua về đến Ðại Cung Môn bên trong Hoàng Thành đội hỏa pháo sẽ nổ 9 phát súng mừng và lễ Tế Giao chấm dứt. Trong thời gian tế lễ diễn ra, dân chúng nô nức đổ về xem khắp các trục đường khi đoàn ngự đạo đi qua. Cuộc lễ Tế Giao lần cuối cùng vào thời Nguyễn diễn ra vào ngày 23 tháng 3 năm 1945 dưới triều vua Bảo Ðại.

 

Áo của vua trong tế lễ

Những quy định có tính điển chế của triều Nguyễn rất chặt chẽ, nhất là lễ Tế Giao, từ nghi thức của lễ đến trang phục tế lễ, phẩm vật tế lễ v.v… Nhà vua là người quan trọng nhất, trực tiếp thực hành những nghi thức quan trọng nhất của lễ tế nên trang phục của vua rất được coi trọng (như áo, mão, hia, đai v.v...). Hiện ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế còn lưu giữ một chiếc Long cổn của vua Nguyễn.

 

Trên áo, các biểu tượng về quan niệm vũ trụ và nhân sinh khá chặt chẽ. Ở ngực áo thêu hình tượng con rồng bay lên, ở hai tay và cửa tay áo thêu hình rồng đuổi, ở mặt sau tay áo thêu hình chim phượng hoàng, ở vai trái thêu hình mặt trời, ở vai phải thêu hình mặt trăng, ở lưng áo thêu các vì tinh tú, kiểu thức tam sơn. Tất cả các chi tiết này phản ánh sự nhận thức về vũ trụ về triết lý âm dương, về sự hòa hợp giữa đất trời và con người.

 

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL) của triều Nguyễn đã ghi sự quy định về Long cổn của nhà vua như sau: “Áo cổn bằng sa mỏng bóng toàn sợi tơ nhuộm màu thiên thanh, thêu mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, núi, rồng, chim trĩ, dải rủ xuống thì thêu rồng mây, hoặc dùng sa mỏng trắng bóng toàn sợi tơ màu tuyết trắng. Cửa tay áo thêu rồng mây. Cổ áo bằng đoạn đậu 8 sợi tơ bóng màu quan lục, thêu chữ á, trong lót lụa sắc trắng. Dải thêu rồng mây, thủy ba”.

Theo quy định về màu sắc như đã dẫn, chiếc Long cổn nhuộm màu thiên thanh, nhưng chiếc Long cổn ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế có màu đen. Thực tế cho thấy, bộ sách KĐĐNHĐSL được biên soạn từ năm 1843 (triều Thiệu Trị) đến năm 1851 (triều Tự Đức). Thời gian sau này, với những biến động lịch sử phức tạp, nhiều điển chương, điển chế của triều Nguyễn không còn được áp dụng một cách chặt chẽ, nên có nhiều sự thay đổi. Điều này cũng nói lên rằng, chiếc Long cổn ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế có niên đại muộn của thời Nguyễn và cũng đã từng tồn tại các chiếc Long cổn không giống nhau hoàn toàn.

 

Bên cạnh quy định về màu sắc, các chi tiết khác so với chiếc Long cổn hiện còn ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế là khá phù hợp, cũng như phù hợp với bức ảnh vua Khải Định mặc chiếc áo Long cổn. Nhưng đối chiếu bức ảnh vua Khải Định mặc chiếc áo Long cổn với chiếc áo Long cổn được ghi nhận từ bản vẽ của Nguyễn Thứ (in trong tạp chí B.A.V.H, năm 1914) lại có một số điểm không phù hợp. Điểm không phù hợp ở đây là sự phân bố chiếc “bổ tử” trong quy cách của áo. Ảnh vua Khải Định mặc chiếc Long cổn có kiểu “bổ tử” ở mặt trước không giống với sự ghi nhận qua bản vẽ của Nguyễn Thứ, ở đây có sự nhầm lẫn về trật tự, có lẽ là Nguyễn Thứ nhầm (?!). Điều đáng tiếc là hai tấm “bổ tử” phía trước và phía sau áo hiện nay đã không còn. Nhưng dù sao, chiếc Long cổn (có lẽ là duy nhất còn lại trong y phục Tế Giao của các vua Nguyễn) vẫn là một hiện vật độc đáo, quý hiếm gắn với một lễ tế giàu tính nhân văn của một triều đại, phản ánh một lý tưởng thẩm mỹ của nhà nước quân chủ về đời sống hạnh phúc của muôn dân, sự thái bình của thiên hạ.

 

Với những lý do đặc biệt đã phân tích trên, chiếc Long cổn ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đã được lập hồ sơ đề nghị công nhận là một Bảo vật Quốc gia.

 

Chú thích ảnh (đính kèm bài):

1. Áo Long cổn của vua (mặc khi Tế Giao), niên đại TK.19, sưu tập của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

2. Bản vẽ mặt trước áo Long cổn của Nguyễn Thứ (in trong sách B.A.V.H, năm 1914).

3. Bản vẽ mặt sau áo Long cổn của Nguyễn Thứ (in trong sách B.A.V.H, năm 1914).

4. Vua Khải Định mặc áo Long cổn tại Trai Cung.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online