Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nguồn gốc địa danh hành chính và kênh rạch Sài Gòn (Trần Tuy An)
Nguồn gốc địa danh hành chính và kênh rạch Sài Gòn (Trần Tuy An) PDF In E-mail
Người viết: Trần Tuy An   
31/01/2013

Nguồn gốc địa danh hành chính và kênh rạch Sài Gòn

* Trần Tuy An

Người Sài Gòn chính gốc chưa hẳn đã nắm được nguồn gốc của những tên quận, huyện hay những cây cầu, con rạch… Mỗi địa danh, con rạch ấy đều gắn liền với dấu tích lịch sử tồn tại hàng trăm năm.

Kênh rạch xưa.

Kênh Ruột Ngựa, Q.8 có từ năm 1772, do Nguyễn Cửu Đàm - là danh tướng, danh điền thời chúa Nguyễn đào.

 

Kênh Tàu Hủ ngày nay

Ông được ghi nhận là nhà quy hoạch Sài Gòn đầu tiên khi khép kín thành phố bằng ba mặt sông và một mặt thành tạo nên thế thống nhất về địa lý kinh tế, xã hội và quốc phòng. Nguyễn Cửu Đàm vừa là nhà quân sự có tài vừa là nhà quy hoạch có tầm nhìn lớn. Quan sát bản đồ, thấy Lũy Bán Bích tạo cho Sài Gòn biệt lập như một hòn đảo với ba mặt sông và một mặt thành. Cùng với những đồn bảo bố phòng ở những nơi hiểm yếu, thì coi như “thành phố này không còn sợ gì bất trắc nữa”. Trong thực tế, quân Xiêm đã xâm phạm bờ cõi phía Nam nhiều lần, song lần nào cũng bị quân Việt đánh tan trước khi tới cửa ngõ thành phố.

 

Theo sử sách, sau 5 năm cho đào kênh Ruột Ngựa cũng như xây thành Lũy Bán Bích, tức năm 1777, ông Đàm chết trong chiến dịch Ký Giang nhưng không rõ ông đã giao chiến với ai. Vì sao có tên Ruột Ngựa? Trong cuốn Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: “Nguyên xưa từ Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm thì có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền đi lại không được... Nguyễn Cửu Đàm có đào con kênh thẳng như ruột ngựa, nên mới đặt tên ấy”.

 

Cũng ở Q.8, kênh Tàu Hủ cũng có từ thời xa xưa. Kênh Tàu Hủ nguyên có tên Cổ Hũ hay Củ Hủ vì có đoạn phình ra rồi thắt hẹp lại như củ hũ dừa. (Các vật có hình dáng phình ra rồi thắt lại đều gọi là cổ hũ). Lâu nay, người ta viết cổ hủ là chưa chính xác vì theo Đại Nam quốc âm tự vị, từ ghép này vốn chỉ cái cổ của cái hũ. Từ cổ hũ hay củ hũ gọi không quen thuộc như tàu hủ nên lâu dần nó có tên là Tàu Hủ. Trong Gia Định thành thông chí, kinh Tàu Hủ còn gọi là sông An Thông. Những năm đầu 1800, hai bên bến Bình Đông và Bình Tây thuộc kinh Tàu Hủ là nơi neo đậu tàu ghe từ đồng bằng sông Cửu Long lên. Lúc bấy giờ đã xuất hiện nhiều nhà máy xay xát dọc hai bên kinh. Năm 1934, phong trào tổng bãi công sôi nổi ở Nam bộ đã mở đầu bằng cuộc tổng bãi công cả 12 nhà máy xay, dọc theo kinh Tàu Hủ. Đầu năm 1938 lại nổ ra cuộc bãi công của 4.000 thợ trên 350 chiếc thuyền chở gạo, hàng ngàn công nhân ở các nhà máy xay và các công nhân hưởng ứng. Trong hai thời kỳ kháng chiến, quân nhân đã nhiều lần vượt qua kinh Tàu Hủ để tấn công địch ở nhiều vị trí của trung tâm thành phố, nhất là vào dịp Tết Mậu Thân (1968).

 

Vùng Sài Gòn - Chợ Lớn có đình Bình Đông, người dân thường gọi là Bình Đông Hội quán. Đình được xây dựng dưới thời vua Tự Đức năm thứ 5 (1852). Theo tài liệu cũ, ban đầu đình là một ngôi nhà lá, là nơi hội họp và cúng bái của người dân trong vùng. Đình được xây dựng lại nhiều lần rất kiên cố bằng gỗ rồi gạch vào những năm 1922, 1930 và năm 1950. Tết Mậu Thân 1968, đình bị máy bay Mỹ oanh tạc gây đổ sập nhiều kiến trúc quanh đình. Đình cũng là nơi mà Bác Tôn đã chọn làm nơi hội họp và làm địa điểm liên lạc của Công hội đỏ vùng Sài Gòn - Chợ Lớn do Bác Tôn sáng lập. Qua năm tháng, đình vẫn giữ lối kiến trúc cổ kính, uy nghi bên con rạch Bà Tàng (Q.8), được bà con trong vùng đóng góp trùng tu.

 

Lịch sử tên gọi các quận, huyện

Địa giới hành chính huyện Nhà Bè ngày nay xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỷ 18 khi công cuộc khẩn hoang được các chúa Nguyễn đẩy mạnh với quy mô lớn. Nhiều đoàn thuyền của những gia đình có nhân, tài, vật tư ở vùng Thuận Quảng (phố cảng Thuận Quảng - Hội An) được tổ chức huy động vào Nam. Lúc chuẩn bị hành trình từ sông Soài Rạp để vào Bến Nghé thì gặp nước ròng. Không thể chống chèo qua con nước xuống, nhiều gia đình đã neo thuyền tập trung chờ nước lớn để xuôi dòng. Do đặc điểm thuyền lúc bấy giờ rất hẹp, khó khăn trong sinh hoạt nên có một người trong đoàn cho chặt tre kết thành bè. Sách Đại Nam nhất thống chí có viết: “Lúc ấy dân cư thưa thớt lại xa xôi, đò xa thuyền nhỏ, hành khách thường khổ sở về chuyện ăn uống. Có người nhà giàu ở Tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng bó tre làm bè, dựng nhà, sắm đủ đồ dùng nấu nướng để hành khách tự ý lấy dùng, không phải trả tiền. Sau đó người buôn bán cũng đóng bè, bán thức ăn, nhiều đến hai ba chục bè. Họp thành chợ sông, vì thế chỗ này gọi là Nhà Bè...”.

Tên gọi của huyện Củ Chi được lấy từ một loài cây cùng tên mọc nhiều ở vùng đất này. Đây là loài cây cực độc có tên củ chi - loại cây được cho là có nhiều strychnine, được xếp là độc bảng A, nhưng ở một liều nhất định có tác dụng trị đau nhức. Trong khoa học, cây củ chi có tên là cây mã tiền. Nhiều lài liệu cũ cho rằng, cây củ chi có tên gốc là cổ chi nhưng nói trại riết thành củ chi. Hiện tại di tích Bến Đình của huyện cũng đã cho trồng lại loài cây này. Địa danh hành chính và tên gọi Củ Chi được chính quyền Ngô Đình Diệm công nhận vào năm 1957. Tương tự, Q.Gò Vấp ngày nay cũng được lấy tên của một loài cây có nhiều ở vùng này, đó là cây vấp.

 

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online