Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Phật thuyết Phân biệt kinh (Thích Thiện Trì)
Phật thuyết Phân biệt kinh (Thích Thiện Trì) PDF In E-mail
Người viết: Thích Thiện Trì   
31/01/2013

PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT KINH

(Bản chữ Hán của Tam Tạng Pháp Sư Trúc Pháp Hộ, Đại Tạng quyển 14, Kinh Tập bộ 1)

Dịch giả: Thích Thiện Trì

Như thật tôi nghe một thuở nọ, Phật ở vườn cây của Trưởng giả Cấp Cô Độc và Thái tử Kỳ Đà tại nước Xá Vệ. Trong một buổi sớm mai, ánh bình minh trải vàng trên muôn ngàn hoa lá, Đức Phật với lớp áo y vàng đoan nghiêm tĩnh tọa. Ngài bảo A Nan:

 

- Này A-Nan, ông hãy nói với các tỳ kheo yên lặng lắng nghe. Ta sẽ nói cho các ông biết về sự thọ khổ của cõi nhân sanh.

   

A-Nan liền rời chỗ ngồi đứng dậy, sửa y áo rồi lạy Phật mà thưa rằng:

 

- Bạch Thế Tôn, chúng con rất mong được nghe Thế Tôn dạy cho điều đó.

 

Phật dạy: Người đời có sáu điều ác tự lừa gạt và tự gây tổn hại: Mắt bị hình sắc lừa gạt, tai bị âm thanh lừa gạt, mũi bị mùi thơm lừa gạt, miệng bị chất vị lừa gạt, thân bị vật mát mịn lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy lừa gạt. Đó là sáu thứ thường xuyên làm cho người đời phải sa vào các đường ác, chịu khổ triền miên, khó mong giải thoát. Những người có trí mới nhận thức được.

 

Lại nữa, có ba điều người đời ưa làm nên họ phải chịu quả báo trong ba đường khổ:

 

Một là thân ưa sát hại, trộm cắp và dâm dục.

Hai là miệng ưa nói lời xuyên tạc, chửi mắng độc ác, dối trá lừa gạt và nói thêu dệt.

Ba là ý ưa nghĩ chuyện tham lam, giận hờn, si mê.

 

Vì ba điều ưa đó mà đọa vào ba đường khổ: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Chỉ người có trí mới nhận thức được.

 

Lại nữa, có sáu điều người đời thường mê đắm, nên bị sa vào mười tám cảnh khổ: Mắt mê đắm theo hình sắc, tai mê đắm theo âm thanh, mũi mê đắm theo mùi thơm, thân mê đắm theo những thứ gây cảm xúc mát mịn êm dịu, ý mê đắm theo những tư tưởng cuồng loạn sai lầm. Thế mà họ vẫn thường xuyên chấp nhận, cho nên bị rơi vào mười tám cảnh Địa ngục, chịu sự thống khổ mãi mãi, không lúc nào mong thoát khỏi!

 

A-Nan thưa Phật: Nếu như những người nào có thờ Phật thọ giới thì có thể thoát được cảnh khổ ấy chăng?

 

Phậtđáp: Nếu như những người có thờ Phật và thọ giới thì được phước đức vô lượng, không thể nào hình dung được. Nhưng ngược lại cũng có những người thờ Phật mà sa vào chỗ cực cùng tội lỗi.

 

A-Nan bạch Phật: Thờ Phật và thọ giới sẽ được phước đức vô lượng. Vậy thì tại sao có kẻ mắc phải tội lỗi nặng? Con mong được Phật dạy cho điều đó.

 

Phậtđáp: A-Nan! Người mà thờ Phật, phụng trì kinh giới, tinh tấn tu niệm, không hềtrái phạm thì được phước đức vô lượng, không thể tỷ dụ được. Nhưng cũng có người thờ Phật, thọ giới mà không giữ gìn thanh tịnh, không lo tinh tấn tư duy thiền định, mà chỉ mượn danh thờ Phật, rồi chuyên làm những sự tà vạy tham cầu không nhàm, không có tâm niệm biết đủ, không có ý nghĩ chế ngự, dâm dật sắc dục, ưa thích ca múa, tham đắm rượu thịt, buông lung phóng đãng, thì làm sao tránh khỏi tội lỗi khó lường của họ? Vì lẽ đó, họ đọa mãi ba đường, chịu nhiều thống khổ, khó được giải thoát!

 

Phật dạy: có ba hạng người thờ Phật:

 

Một là đệ tử của Ma thờ Phật.

Hai là hàng Nhân Thiên thờ Phật.

Ba là đệ tử của Phật thờ Phật.

Sao gọi là đệ tử của Ma thờ Phật?

 

Phậtđáp: Tuy rằng thọ giới theo Phật, nhưng tâm niệm của họ ưa làm những việc tà vạy: bói xâm, giải trừ, cúng tế cầu đảo, đồng bóng mê hoặc, tin có Quỷ Thần gần gũi trong nhà, không tin theo những điều chân chánh, không biết quả báo tội phước. Chỉ mượn danh nghĩa thờ Phật mà thường theo những kẻ tà ác, chết đọa địa ngục không kịp trở tay, phải chịu khổ lâu lắm mới có ngày thoát ra, mà lại làm ba con với bọn ma, siểm nịnh yêu quái, thật rất khó cứu độ! Hạng người này do dưphước đời trước nên tạm thời được gặp Chánh đạo mà tâm ý vẫn mù mờ, không hiểuđược túc phước. Rồi lại phải đi theo nẻo tà kiến mà bị sa đọa không biết bao giờcùng! Ấy là đệ tử của Ma thờ Phật.

 

Sao gọi là hàng Nhân Thiên thờ Phật?

 

Người thọ trì đủ năm giới cấm, tu mười pháp lành (1), dầu đến chết cũng không dám hủy phạm, biết tin tội phước, làm phải gặp phải, sau khi mạng chung liền sanh lên cõi trời. Ấy gọi là hàng Nhân Thiên thờ Phật.

 

Sao gọi là đệ tử của Phật thờ Phật?

 

Là những người biết phụng trì chánh giới, học rộng kinh luật, trau dồi trí tuệ, biết rõ ba cõi là trường thống khổ,tâm không ưa đắm, muốn cầu giải thoát, tu hành theo những pháp môn như: Tứ đẳng (2), Lục độ (3). Thương xót chúng sanh, muốn tế độ khắp tất cả, không tham tiếc thân mạng, biết chết đời này sanh lại đời khác, cầu làm việc phước mãi mãi, không bao giờ làm theo những điều mê tín. Ấy là đệ tử của Phật thờ Phật.

 

Phật dạy: Sau khi Ta nhập Niết Bàn độ một ngàn năm sẽ có ma giáo nổi lên, thời thế yêu ác, quốc gia không được toàn quyền tự chủ, nhân dân không được an cư lạc nghiệp, tai nạn chiến tranh sát hại tàn bạo, ngoại xâm nội loạn dồn dập, quốc gia không có phép tắc kỷ cương, xã hội đảo lộn. Lúc đó là thời tượng pháp.

 

A-Nan thưa Phật: Sao gọi là tượng pháp?

 

Phậtđáp: Trong thời đó có nhiều Tỳ kheo không phụng trì theo đúng Chánh Pháp. Trái lại họ còn sống với vợ con, không tâm hổ thẹn, chỉ lo nghề nghiệp sinh sống, không có học thức, không lo tu thiền, ưa thích ăn mặc theo kiểu thế tục, trên dưới lộn xộn, giả dối lẫn nhau, bác bỏ những điều căn bản chính yếu trong sự nghiệp giáo hóa độ đời, đắm theo sắc dục, không sợ tội lỗi. Khi có người hiểu biết chánh pháp vì muốn dùng lời trung thực chỉ bầy giáo pháp chân chánh thì họ lại sanh tâm xấu ác, oán ghét, muốn tìm mọi cách chỉ trích phá hoại, phỉ bang, cho rằng người ấy là kẻ thiếu sự hiểu biết. Vì vậy cho nên Chánh pháp giảm dần.

 

A-Nan thưa Phật: Khi đó có người nào phụng trì Chánh pháp hay chăng?

 

Phật đáp: Vẫn có nhiều người thờ Phật, và nhiều người xuất gia, nhưng không mấy ai giữ đúng giới luật, không sống với tinh thần lục hòa. Những người tinh thông nghĩa lý thì lại rất ít. Phần nhiều là những người kém hiểu biết!

 

A-Nan thưa rằng: Vậy thì ngay trong khi đó, nước nào ác nhất, đến nỗi ít thấy được những người tin tưởng tu hành đúng theo lời Phật?

 

Phật đáp: Ở cõi Chơn Đơn sẽ có hàng ngàn Tỳ kheo ngay trong Tăng đoàn mà làm bạn với ma. Trong số ấy chỉ có một vài vị là người thông minh hiểu biết và chính là đệ tử của Phật. Đến nỗi ít có người được sanh lên cõi Trời Lục Dục. Những kẻ sa vào cõi ma thì lại rất nhiều!

 

Sau khi ta nhập Niết Bàn, cũng có nhiều kẻ học ở bên ngoài đến cầu đạo ta. Nếu người nào muốn tiếp độ họ thì cần phải dè dặt. Sau ba tháng, nếu biết ý chí của họ có thể tu tập theo hạnh thanh tịnh, thân tâm rỗng lặng, ít lòng ham muốn, không làm những điều gì sai quấy, ô nhiễm, thì mới có thể chính thức chấp nhận. Trước hết là truyền cho họ giới thập thiện. Sau ba năm, nếu xét thấy họ tu tập được đúng với chánh đạo, không phạm những tội ác nào, nhiên hậu mới được tiếp tục cho thọ hai trăm năm mươi giới pháp. Nếu biết tinh tấn tu tập, giữ gìn những điều oai nghi giới luật, hoàn toàn đến mục đích giải thoát, nhất định người ấy sau sẽ gặp Phật Di Lặc và được độ thoát.

 

A-Nan thưa Phật: Như lời Phật dạy, con xin hoàn toàn vâng thọ và nói lại cho người sau biết rõ, để sự nghiệp hoằng pháp của Phật sau này khỏi bị sai lầm tuyệt diệt.

 

Phật dạy: Này A-Nan! Việc ông vâng thọ,trước sau như một, quán thông tất cả. Ông đã hết lòng tin tưởng và lo hộ trì Phật pháp, ta cũng đã chứng minh cho ông điều đó.

 

A-Nan thưa Phật: Sau này những người tin tưởng, muốn tu hành đúng theo chánh pháp, hết lòng mong cầu xa lìa thế tục, xuất gia học đạo, nếu không được bậc minh sư trao truyền giới pháp, mà có người viết chép giới luật trao cho thì họ có thể được độ và làm Phật sự được hay không?

 

Phật dạy: A-Nan, hoàn toàn phải là người biết giới cấm và biết đạo lý mới có thể trao truyền giới pháp. Nhưng không thểtrao truyền qua văn tự mà cho là đúng pháp được. Tại sao như vậy? Bởi vì Phật là bậc Đại trí cả trên trời dưới trời, là bậc Đại minh cả trên trời dưới trời, không nên vọng truyền làm mất tôn chỉ, mà cần phải hiểu rõ giới pháp, luật cấm, lão luyện mọi sự, mới có thể truyền giới cho người sau. Nếu không thông hiểu những việc cốt yếu trong kinh pháp và oai nghi giới cấm, mà truyền giới pháp cho người ta là trái lời Phật dạy, thiếu sự thành kính và mất lòng tin đối với mọi người. Chẳng những đã không ích lợi gì cho cả người truyền lẫn người thọ, mà lại còn mắc phải tội lỗi không nhỏ. Vậy nên các ông cần phải suy xét cho rõ.

 

A-Nan thưa Phật: Đời sau, như có người chí tâm chí ý, vì chán nỗi thống khổ của cảnh thế gian, muốn cầu được độ thoát, nếu gặp đời sau không có Phật thì phải làm sao để tế độ họ?

 

Phật dạy: A-Nan, hãy dẫn họ đến chỗ vịminh sư am hiểu giới pháp, chỉ vẽ cho họ tập theo những việc cốt yếu về các oai nghi giới cấm. Nếu như xét thấy người có thể độ thì sẽ độ cho họ. Bằng như tự mình không hiểu rõ giới pháp mà truyền cho người, thì cả hai đều mê lầm, sai đạo, lộn xộn vô cùng, còn nương vào đâu mà được độ thoát!

 

Sau này có những Tỳ kheo, bản thân khôngđược thanh tịnh, nuôi dưỡng vợ con, thân thì hành động phi pháp, phá giới, ô nhiễm, mà ý lại tham cầu được sự cúng dường, không tin tội phước mà mong an lạc, thì khó nỗi thoát khỏi quả báo tội ác! Những hạng người như vậy thật đáng thương xót!

 

A-Nan thưa Phật: Sau này những người đã có nhân duyên xuất gia tu học, như vậy là đều đã được nhờ oai thần của Phật, lẽra cũng đều được giải thoát, tại sao có kẻ không tin lời minh giáo của Phật, mà lại trái phạm giới luật, để rồi phải chịu không biết bao nhiêu thống khổ trong vô số kiếp?

 

Phật dạy: Do bởi đời trước, khi bị đọa trong cảnh thống khổ, vì quá đau đớn, người ấy đã nhất thời ăn năn tự trách, nênđược chút phước sanh làm thân người ở thời mạt pháp, lại được gặp kinh Phật và có thể cạo bỏ râu tóc mà làm vị Tỳ kheo. Nhưng ý thức cũ chưa dứt trừ được, tâm do dự, mù mờ không rõ, lại không gặp được bậc minh sư trí đức, nên thường có những hành động ô trược, phần đông không thể hoàn toàn ly tục. Như vậy mai sau còn phảiđọa vào các cảnh khổ cực, lần lượt thọ tội trải vô số kiếp!

 

Phật dạy: Này các Tỳ kheo! Các ông nayđã là người xuất gia, bỏ cả lối sống gia đình vợ con, bỏ những sự nghiệp kinh doanh ở đời để làm bậc Sa môn, thì các ông cần phải siêng năng tu tập, giữ gìn giới hạnh, như pháp của các bậc A La Hán. Thà rằng các ông lấy nước đồng sôi tựuống vô, làm cháy tiêu ruột gan, chứ không nên làm người vô đạo đức mà nhận của tín thí sẽ phải chịu tội thống khổ nhiều kiếp. Lâu lắm mới được hy vọng giải thoát. Do chút phước mọn, được làm thân người, rồi phải trở lại tuần tự đền trả.Có kẻ phải làm con cái để đền trả, có kẻ phải làm cha mẹ để đền trả v.v…

 

A-Nan thưa Phật: Sao gọi là đền trả?

 

Phật đáp: Có người làm thân tôi tớ bịchủ nhà đánh đập, mắng chửi tàn tệ, đối xử vô đạo, thế mà tôi tớ vẫn đành cam chịu, không hề oán hận, lại còn siêng năng làm mọi công việc không biết mỏi mệt, giữ gìn của cải cho người chủ không để hư mất. Chính là đời nay làm thân tôi tớ để đền trả nghiệp đời trước đã nhận của tín thí mà không lo tạo những việc côngđức. Thì ra sau khi kẻ ấy chịu đủ tội khổ xong rồi, còn trở lại làm người để màđền trả. Trong số đó cũng có người biết được phần nào nghiệp báo đời trước, nênđành cam chịu!

 

Sao gọi là làm con cái để đền trả?

 

Nghĩa là sự việc con cái không dám than phiền dù làm được bao nhiêu tiền của đều bị cha mẹ tiêu dùng không biết hạn lượng. Ấy là làm con cái để đền trả nghiệp báo đời trước.

 

Sao gọi là làm cha mẹ để đền trả?

 

Nghĩa là sự việc cha mẹ vẫn cam tâm đành chịu dù làm ra bao nhiêu tiền của đều bị con cái xài phá hoang phí, làm hư gia bại sản.

 

Sở dĩ ai cũng chịu đựng như vậy, là vì họ cảm nhận được phần nào nhân duyên nghiệp báo đời trước mà đành cam chịu, không trách ai cả. Thế nhưng những kẻ phải trả nợ cho nhau ấy, nhân duyên đưa đẩy gặp nhau trong một thời gian, sau khi trả xong lại phải chia ly, chứ không thể nào sống chung nhau mãi. Người trí biết rõ lẽ đó cho nên không gây nghiệp duyên đểphải đền trả.

 

Chỉ có đạo đức mới được tồn tại. Nhưta thuở quá khứ cũng từng phải làm cha mẹ, con cái, tôi tớ nhiều đời không thểtính kể. Tất cả đều do nhân duyên một thời phải chịu, mà không làm sao chạy khỏi. Và cha mẹ của ta có được hiện thời là do nhân duyên đạo đức nhiều đời, chứ không phải do nhân duyên nghiệp báo. Nhiều đời cha mẹ ta đã để cho ta tự do học đạo. Chính nhờ công ơn đó ta đã tinh tấn tu hành trải qua nhiều kiếp nay mới được thành Phật. Vậy nên người muốn học đạo không thể không tinh tấn lo sao cho tròn chữhiếu. Chớ để một khi bị đọa mất thân người, muôn kiếp khó bề trở lại!

 

Sau này, gặp thời mạt pháp, các người cần nên tu hành hiếu thuận. Được gặp kinh pháp, không thể không lo siêng năng tu tập. Gặp Phật ra đời, không thể không lo hết lòng quý kính. Gặp bậc minh sư,không thể không lo hết lòng phụng thờ, chuyên cần học hỏi, thân cận thọ lãnh những lời giáo huấn.

 

Tại sao như thế? Vì nguyên được làm thân người đã là việc rất khó. Sáu giác quan cũng khó được đầy đủ. Khó được thông minh tài trí. Khó được gặp Phật, khó được nghe chánh pháp. Cho nên các ông cần phải hết lòng siêng năng tu tập. Sau khi ta nhập Niết Bàn, sẽ có thời kỳ thế gian xẩy ra tai ách, ngũ nghịch. Khi đó ở cõi Chơn Đơn có nhiều ma quái hoành hành, chánh đạo bế tắc: Tuy kinh pháp của Phật vẫn lưu truyền, nhưng ít ai học hỏi thấu đáo. Và dẫu có ai học hỏi thì cũng ít có người thực hành. Giữa đời tuy cũng có hình bóng các vị Tỳ kheo, nhưng ít ai tự giữ gìn giới hạnh thanh tịnh. Phần nhiều là những kẻ phá giới, nhiễm trước, tập theo thói tục, chỉ có tham vọng đây đó cho thỏa chí du nhàn, không khác gì người đời. Ưa mặc đồtốt đẹp, ưa học theo những sách vở nghị luận của thế gian, tập các thứ âm nhạc ca xướng, ưa kết bè tụ đảng mưu cầu danh vọng như người thế tục. Họ nhận người vào đạo, độ làm đệ tử nhưng không biết dạy cách giữ gìn giới hạnh ngăn ngừa ma nghiệp, không theo chánh đạo mà giáo hóa độ đời, cũng không có học thức, không chịu tìm bậc minh sư trí đức, không biết giữ gìn cẩn thận các giác quan, mà vẫn tự xưng ta là đại đức. Họ si mê không biết rằng tuy nay được làm thân người cũng chỉ tạm thời mà thôi, nhưng cứ tưởng là lâu dài. Và mặc dù đời là tạm thời và tươngđối nhưng tội lỗi đã gây ra thì sau phải chịu khổ sở vô cùng, điên đảo lăn lộn ởtrong chúng ma. Thật là thống khổ biết đến dường nào!

 

Này các Tỳ kheo! Các ông nay đã được làm thân người, được đầy đủ sáu giác quan, lại được gặp Phật, gặp kinh luật, giới pháp thì các ông cần phải siêng năng tu tập. Nếu không, một khi đánh mất căn bản nhân cách, muôn kiếp khó thể hồi phục. Phật ra đời cũng rất khó được gặp, kinh pháp Phật dạy cũng khó được nghe. Nên các ông phải biết tự suy nghĩ.

 

Phật nói kinh này xong thì các vị Tỳkheo đề ngồi im lặng tư duy quán tưởng và liền được chứng quả A La Hán.

 

Dịch tại Phật Học Viện Quảng Hương Già Lam, Gia Định.

Phật đản 2515-1971

 

 

Phần chú thích:

 

(1) Mười pháp lành:

- Không sát sanh

- Không trộm cắp

- Không tà hạnh

- Không nói dối

- Không nói thêu dệt

- Không nói lời xuyên tạc

- Không nói độc ác

- Không tham lam

- Không sân hận

- Không si mê tà kiến.

Ngược lại mười điều trên là mười điều ác.

 

(2) Tứ đẳng: cũng gọi là Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả, là bốnđức tánh bao la và bình đẳng của chư Phật đối với tất cả chúng sinh. Theo kinh Lăng Già quyển ba nói thì tứ đẳng là: Tự đẳng, Ngữ đẳng, Pháp đẳng và Thân đẳng. Tự đẳng, như Phật tự xưng ta là Phật, thì chữ Phật ấy cũng là tiếng tôn xưng cho tất cả chư Phật. Tự tánh của chữ Phật không có gì sai khác, nên gọi tự đẳng. Ngữ đẳng là những âm thanh ngôn ngữ thuyết pháp của tất cả các đức Phật đều nhưnhau. Thân đẳng là ba than: Pháp thân, Báo thân và Ứng hóa thân, tướng hảo trang nghiêm mà đức Phật nào cũng có đầy đủ như nhau. Pháp đẳng là ba mươi bẩy pháp giác ngộ giải thoát và thuyết pháp độ sanh mà đức Phật nào cũng có nhưnhau. Theo hai thuyết trên ta thấy như có sự sai khác, nhưng kỳ thật thì tuỳ theo nhân quả mà nói. Vì nhân Từ Bi Hỷ Xả bìnhđẳng vô lượng mà đạt đến quả Tự Ngữ Pháp Thân cũng bình đẳng vô lượng.

 

(3) Lục độ: là sáu pháp môn chính yếu của Bồ Tát hạnh tự độ vàđộ tha, là sáu môn diệu dược chữa trị sáu căn bệnh trầm trọng làm cho chúng sanh đắm trong sinh tử. Bồ Tát dùng sáu pháp này để đưa chúng sanh qua biển sanh tử, lên bờ giải thoát, nên gọi là độ:

1- Bố thí độ, tiếng Phạn gọi là Đàn-ba-la-mật (Dànapàramita), là hạnh bố thí rốt ráo, để độ tâm xan tham bỏn xẻn của mình; vàđể cứu giúp cho kẻ khác đang bị cảnh nghèo cùng thiếu thốn do nhân bỏn xẻn đời trước gây ra.

2- Trì giới độ, tiếng Phạn gọi là Thi-ba-la-mật (SiLapàramita) đối trị sự hủy phạm giới cấm.

3- Nhẫn nhục độ, tiếng Phạn gọi là Sằn-đề-ba-la-mật (Ksátipàramita) đối trị sân hận.

4- Tinh tấn độ, tiếng Phạn gọi là Tỳ-lê-da-ba-la-mật (Viryapàramita) đối trị trễ nải.

5- Thiền định độ, tiếng Phạn gọi là Thiền-na-ba-la-mật (Dhyànapàramita) đối trị tán loạn.

6- Trí tuệ độ, tiếng Phạn gọi là Bát-nhã-ba-la-mật (Prajnãpàramita) đối trị si mê. 

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online