Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Con rắn trong văn học (Nguyễn Hữu Hiệp)
Con rắn trong văn học (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
13/02/2013

CON RẮN TRONG VĂN HỌC

* Nguyễn Hữu Hiệp

Trong văn học, không ai không biết bài thơ Rắn đầu biếng học rất phổ biến của “cậu bé thần đồng” Lê Quý Đôn:

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,
Rắn
đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn
hổ lửa
đau lòng mẹ,
Nay thét
mai gầm
rát cổ cha.
Ráo
mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn
lưng chẳng khỏi vết năm ba.
Từ rày
Châu, Lỗ
(*) xin siêng học,
Kẻo
hổ mang danh tiếng thế gia.

(*) Châu là nước Châu, quê hương của Mạnh Tử; Lỗ là nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử.

Đây là một trong những giai thoại về Lê Quý Đôn: Thuở nhỏ cậu bé Đôn đã thông minh, nổi tiếng thần đồng nhưng rất biếng học, còn tính khí thì lại nghịch ngợm quá mức, thậm chí kiêu ngạo, tự phụ, tự đắc! Chuyện kể rằng, năm lên 6 tuổi, một hôm đang chơi ngoài đường, bỗng có ông khách lạ hỏi thăm nhà cụ Lê Phú Thứ, cậu nhỏ Đôn liền đứng dạng hai chân, hai tay ra và bảo:

- Tôi đố ông chữ gì đây? Hễ ông nói được tôi mới chỉ.

Ông khách cho là đứa trẻ hỗn láo nên không thèm nói. Lê Quý Đôn liền cười, bảo:

- Chữ “Thái” mà không biết!

Khách ngạc nhiên về sự thông minh của đứa bé, sau đi tới nhà mới biết cậu ta là con trai của bạn. Khách liền thuật chuyện vừa xảy ra, cụ Lê Phú Thứ toan nọc Lê Quý Đôn ra đánh đòn, nhưng khách vội can và bảo để khách ra đầu đề mộ bài thơ, nếu Lê Quý Đôn làm không xong thì sẽ đánh đòn cũng không muộn. Nói rồi khách đọc ngay đầu đề “Rắn đầu biếng học” với điều kiện mỗi câu phải có tên một con rắn, chí ít cũng phải có chữ rắn. Lê Quý Đôn không nghĩ ngợi, ứng khẩu đọc một mạch 8 câu như đã ghi lại ở trên, làm cho khách phải một phen nữa hết sức kinh ngạc!

Thật rất xứng đáng với truyện dân gian kể lại về tác giả: Khi Lê Quý Đôn chưa thi đậu Bảng nhản, có một ẩn sĩ nói: “Vài mươi năm nữa sẽ có người như Vương An Thạch xưa, ra đời giúp nước để thay đổi pháp độ”. Vì thế khi ra làm quan ông dâng kiến nghị xin sửa đổi chính sự, người ta nghi Lê Quý Đôn nước ta là hậu thân của Vương An Thạch vậy.

Do bài thơ Đường thất ngôn bát cú nên tác giả chỉ tiện nêu tên có mấy loài ở miền ngoài.

Ở Nam Bộ cũng có thơ:

Mái gầm, chàm quạp, hổ lác, hổ hèo

Ri cốc, liu điu, ri voi, hổ lửa

Hổ hành, hổ ngựa, rắn ráo, rắn râu

Quỷ khóc thần sầu: hổ mang, hổ sậy

Thấy đà run rẩy: cạp nia, cạp nong

Lặn lội dưới sông: là con rắn nước

Rắn rồng, rắn lục, ri cá, rắn trun

Nghe đến hãi hùng: hổ mây, hổ bướm

Ớn đà quá ớn... chẳng dám kể thêm!

 

Bài thơ chỉ 8 câu tất nhiên không thể kể đủ, nên tác giả phải mượn cớ “Ớn đà quá ớn, chẳng dám kể thêm”. Một tác giả dân gian khác đã khéo chọn thể vè nên kể được nhiều hơn – tuy nhiên vẫn chưa đủ:

U Minh nước đỏ, Choại, dớn, cóc kèn

Ăn ở cho hiền, Dạo chơi với rắn

Bất kỳ sâu cạn, Rắn nước, rắn râu.

Bay trên trời cao, Rắn rồng uốn khúc.

Chạy ngang chạy dọc, Rắn ngựa phóng theo.

Hút gió thiệt kêu, Là con rắn lục.

Mái gầm lục đục, Bò chậm như rùa.

Mổ xuống bất ngờ, Hổ mây ẩn nấp.

Coi chừng nó quất, Là con rắn roi.

Ra đồng dạo chơi, Là rắn bông súng.

Đựng đầy một thúng, Là rắn cạp nia.

Ăn rồi ngậm nghe, Hổ hành nấu cháo.

Dữ mà nhỏ xíu, Đúng thiệt rắn trun.

Chớ có coi thường, Con rắn ri cóc.

(Rắn mà muốn học, Làm cậu ông trời!).

Có khách hay mời, Là con hổ chuối.

Còn rắn ri cá, Thấy nước thì ham.

Hình vóc hiên ngang, Rắn voi mỏ rọ.

Thật là đáng sợ, Choằm oạp, hổ mang.

Xét cho đàng hoàng, Rắn thì có nọc.

Đừng châm, đừng chọc, Bỏ mạng lìa đời.

Trí khôn con người, Biến loài độc ác.

Lấy nọc làm thuốc, Trị bệnh cứu dân.

Đau khớp trật gân, Ê mình nhức mỏi…

 

Cứ thế mà kể tới tới hoài, đủ loại.

 

Rắn không chân nó đi năm rừng bảy rú…” nên cho dù ruộng đồng ẩm thấp, hay non cao núi xa, hầu như trên toàn diện địa Nam Bộ đâu đâu cũng có rắn – kể cả một số nơi thuộc địa bàn đô thị nhưng chưa phát quang trống trải như vùng hậu bối đường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Cần Thơ. Có thể nói, bà con ở miệt vườn, miệt ruộng không ai không hơn một lần tiếp cận, hoặc trở thành nạn nhân của loài đáng sợ này, do đó đã điểm danh và mô tả: rắn hổ ngựa (mình có sọc đen dài hai bên hông với màu da xanh lá cây hoặc xanh da trời nhạt, phóng rất nhanh, không thua ngựa sải), rắn hổ mây (rất hiếm và do lớn nhứt trong họ hàng nhà rắn nên dân gian coi như là “rắn thần”), rắn hổ hành (ban ngày chậm chạp, thường nằm yên một chỗ; đúng như tên gọi, dù còn sống hay đã chết, lúc nào cũng có mùi hành phát tiết ra ngoài), rắn hổ lửa (đỏ như màu lửa), rắn hổ bành (tức rắn hổ mang, thức ăn chính của nó là … đồng loại – con lớn ăn con nhỏ, sau 3 tháng không cần ăn gì nữa nó vẫn khỏe. Đặc biệt, một năm, rắn hổ mang chỉ giao cấu có một lần, với thời gian kéo dài từ 20 đến 30 giờ, rắn hổ hèo (hổ trâu), rắn cạp nong (mai gầm hay mái gầm), rắn cạp nia (có khoanh vàng ngà, chỉ vòng nửa thân), rắn hổ đất (lớn quá thì gọi rắn hổ mang, dữ nhứt, nhưng ban ngày lại chậm lụt, lù đù hơn, màu da đen xam xám, mướt láng, thân hình dài to. Mỗi khi cần tự vệ hoặc quá tức giận nó khoanh thân lại thành một vòng tròn, đầu thì ngóc cao lên và “phùng bàn nạo” và sẵn sàng quặp tới nếu thấy đối phương sơ hở, mất cảnh giác), rắn ráo (màu hơi vàng sáng), rắn dọc dưa (có các sọc vàng chạy dọc thân), rắn ri cá, rắn ri voi (hay ri tượng), rắn lục cườm, rắn trun (con nhỏ cỡ ngón chân cái, chậm chạp, đuôi tròn có kim chích để tự vệ, nên thường gọi “rắn hai đầu”, nhưng ít độc), rắn râu (có râu, xương nhiều thịt ít), rắn nước, rắn bông súng (sống dưới nước). Họ hàng rắn lục có: rắn lục xanh (màu xanh lục, nhỏ ốm và rất dài, thường thấy trên cây trứng cá, hoặc bò theo kèo nhà thường sống trên cành cây cao, da nó tiệp hẳn với màu lá cây nên rất khó phát hiện), rắn lục đầu bạc (màu đen đầu trắng, phân biệt rõ với cổ, kích cỡ trung bình, đầu hơi dẹp), rắn lục núi (là loại rắn sống vùng rừng núi, cũng sống gần nơi ở của người như những bụi rậm quanh nhà, đầu hình tam giác, mặt trên phủ những vảy nhỏ. Chiều dài cơ thể chúng khoảng 50cm. Thức ăn chủ yếu của loài này là thú nhỏ, chim, thằn lằn, ếch nhái…), rắn lục đuôi đỏ (.rất độc, chỉ sau rắn hổ mang – độc nhất là lúc rắn mẹ mang thai nọc độc của nó nhiều nhất và hung dữ nhất; càng độc là rắn lục đuôi đỏ lai, gọi rắn đầu bự, nếu bị loại này cắn rất dễ biết vì hai dấu răng thưa nhau chứ không sát khít như các loại rắn độc khác, nhứt thiết phải được đưa đến bệnh viện có khoa điều trị chuyên ngành như bệnh viện 121, đường 30/4 Thành phố Cần Thơ để vô huyết thanh kịp trước 24 tiếng, muộn hơn thì không cứu được!. Mùa nước nổi, những cánh đồng vùng biên giới ngập linh láng, rắn lục đuôi đỏ (chính xác là nâu đỏ) phải tập trung trên những cây gáo, ban đêm người ta bơi xuồng đến rọi đèn, thấy chúng, chỉ cần dùng cây kẹp sắt (như cây gắp nước đá) kẹp ở đầu nó lôi xuống, bỏ vô cái rọng. Do phải lôi mạnh con rắn đang cố quấn chặt vào nhánh gáo nên loại này ít khi nuôi được vì thường thì nó sẽ chết trong một thời gian sau đó.

 

Theo kinh nghiệm dân gian, loại rắn cực độc này dùng làm thuốc trị được nhiều bệnh nan y, phổ biến là tiêu độc khối u ác tính, nên khi cần đến người ta phải khó khăn lắm mới mua được, vì vậy rất đắc tiền!

 

Con rắn được thể hiện trong văn học dân gian khá phong phú. Thí dụ như nói những người hay bày vẽ để rồi cuối cùng chẳng những bản thân không được gì mà còn làm trò cười cho thiên hạ: “Vẽ rắn thêm chân” (nhưng đối với rắn mối thì phải có 4 chân!); rước kẻ gian về làm hại nội bộ: “Cõng rắn cắn gà nhà”; tưởng hay, tài nhưng khi đụng chuyện thì gặp ai cũng sợ, trốn: “Lấm lét/ len lén như rắn mùng Năm; cảnh giác những kẻ hay dựng chuyện nói xấu người khác: “Nọc người hơn mười nọc rắn”; kể tả những nơi còn hoang vu của ngày trước, tiêu biểu như ở Đồng Tháp Mười:“Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tợ bánh canh, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy”; chê cười những kẻ có nói không, không nói có: “Miệng mối lưỡi lằn”...

 

- Không ít những câu ca dao Nam Bộ đã mượn hình tượng rắn để làm thể phú, thể tỉ, thể hứng để dẫn dụ, tâm tình…:

 

- Con rắn không chưn nó đi năm rừng bảy rú,

Con gà không vú nó nuôi chín mười con.

- Tuổi Tỵ rắn ở ngọn cây,

Nằm khoanh trong bộng có hay việc gì!

- Rắn có chân rắn biết,

Ngọc ẩn đá ngọc hay,

Anh cùng em mới gặp nhau đây,

Biết thời biết mặt, nào hay trong lòng!

- Đôi ta như rắn liu điu,

Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau.

- Con rắn hổ đất nằm trên cây thục địa,

Con ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên,

Trách anh bạn tình gian dối đảo điên,

Gạt em xuống chốn huỳnh tuyền bỏ em!

- Con quạ đen con cò trắng,

Con ếch ngắn, con rắn dài,

Em trông anh trông mãi, trông hoài,

Trông cho thấy mặt thấy mày mới yên!

- Con rắn không chân, con rắn biết,

Đá có ngọc ẩn, thì đá hay,

Tội thì thiếp chịu, vạ chi lây tới chàng?

- Con công ăn lẫn với gà,

Rồng kia rắn nọ, xem đà sao nên?

- Con chi rọt rẹt sau hè,

Hay là con rắn mối tới ve con chuột xù/ chù?

- Cần chi cá lóc cá trê,

Thịt chuột thịt rắn nhậu mê hơn nhiều.

 

Nói đến rắn không thể không nói đến câu cửa miệng của dân gian trong việc coi tuổi cất nhà, cưới hỏi, hoặc hùn hạp làm ăn: “Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung”. Chính vì vậy mà trong hôn nhân, những người tuổi Tỵ thường bị ám ảnh, vì hễ “xung” thì “không tốt” (?). Đây là cái cớ để các ông thầy bói hù thêm là “Bát san tuyệt mạng” – chết! Nhưng khi hai cô cậu đã đắm đuối nhau thì bất chấp! Dù vậy nàng cũng không thể không e dè:

Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung!

Xin anh xét kỹ lại cùng,

Hợp hôn giá thú, em sợ trùng không hay!

Tất nhiên chàng phải xua tan ngay cái mối lo tào lao đó, đồng thời không thể không “nổi dịch” với mấy ông “thầy địa”:

Cọp mà vật mấy ông thầy địa,

Voi mà giày mấy lão coi ngày.

Trớ trêu họ khéo đặt bày,

Đôi ta thương nhau thiệt…

Có lý nào trời khổng định đôi?

 

Vậy là nàng yên tâm. Vợ chồng ăn ở với nhau hạnh phúc đến răng long đầu bạc...

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online