Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Thần tích Táo quân (Nguyễn Hữu Hiệp)
Thần tích Táo quân (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
17/03/2013

THẦN TÍCH TÁO QUÂN

* Nguyễn Hữu Hiệp

Cổ tục thờ Thần Táo có tự bao giờ?

Táo Việt có giống Táo Tàu?

Vì sao người Tàu tế Táo quân vào mùa hạ,

còn ta đưa Ông Táo tháng Chạp ngày Hăm Ba?

Vua Bếp hay Thần Bếp tức Ông Táo hay Táo Công, thường gọi Táo quân, là vị thần mà người xưa tin rằng có hai nhiệm vụ chính:

Một là, coi chừng việc bếp núc, củi lửa, không để xảy ra hỏa hoạn – hàm nghĩa che chở;

Hai là, ghi chép mọi diễn biến suốt năm trong gia đình rồi mang sớ về Trời báo cáo với Thiên triều, qua đó, nhờ Trời hộ độ cho cuộc sống thêm tươi vui, bớt khổ cực.

Việc tin thờ Thần Táo hẳn rất xa xưa nhưng không vượt trước thời kỳ con người còn sống theo lối du mục – sớm nhất cũng chỉ từ giai đoạn biết định cư, trồng lúa, làm rẫy, nghĩa là biết nấu nướng, làm chín thức ăn. Các loại phương tiện để kê nấu (sau này là cà ràn, hỏa lò…), được xem là một sự hóa thân của Thần Bếp, thường gọi Ông Táo.

Ông Táo

Cà ràn

Do thấy các vật dụng kê nấu có 3 mỏm, cấu trúc theo thế chân vạc để đỡ nồi đựng thức ăn, nên nhân đó dân gian bèn đặt ra sự tích khá ly kỳ để nhằm giải thích.

Truyền thuyết cho rằng, ba cái mỏm đóng đầy khói bếp đen thủi đen thui ấy, chính là ba nhân vật cùng giữ vẹn nghĩa tình chồng vợ, đều tự thiêu mình – hai ông một bà.

Sự tích kể rằng: “Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Người vợ về sau lấy được người chồng giàu có. Một hôm, cúng đốt mã ngoài sân, có một người vào xin ăn, người đàn bà nhận ra là chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng sau biết chuyện, nghi cho vợ tư tình. Vợ xấu hổ nhảy vào cây rơm gần đó tự châm lửa đốt mà chết. Người chồng cũ cảm tình ân nghĩa, cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Người chồng sau thương vợ cũng nhảy vào nốt. Thế là chết cháy cả ba! Thượng đế thấy ba người cùng có nghĩa, động lòng thương cảm, mới phong cho làm Vua Bếp.

Lại một truyền thuyết tương tự: Xưa, có hai vợ chồng nọ rất nghèo, cuộc sống cơ cực đến nỗi phải xiêu lạc. Vợ có chồng khác. Hôm ấy có người xin ăn đến nhà, người vợ nhận ra là người chồng cũ của mình, hai người ôm nhau khóc kể. Đang lúc ấy thoáng thấy chồng mình về tới, người vợ đưa người chồng cũ ra giấu vào đống rơm cạnh nhà. Bất ngờ, người chồng đem con thú vừa mới săn được ra đống rơm đốt lửa nướng. Người chồng trước sợ chui ra sẽ làm xấu hổ vợ mình, đành bất động, cam chịu chết cháy. Bà vợ quá đỗi thương tâm, nhảy vào lửa chết theo. Người chồng thương xót vợ, nhảy vào lửa chết luôn. Tro tàn, họ vẫn còn trong tư thế câu tay dụm đầu vào nhau. Thượng đế thấu hiểu, truyền cho cả ba đều được làm Thần Táo, coi việc bếp núc, củi lửa ở thế gian và dặn, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, mang sớ về Trời báo cáo mọi lẽ. Do đó có thơ xưa:

Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua Bếp, hai ông một bà!

Truyền thuyết được xây dựng phù hợp quan điểm các thầy địa lý với cuộc mở đất mới ngàn dặm phương Nam. Các thầy cho rằng nước ta ở về phương Nam (đối với Trung Hoa), mà phương Nam thì thuộc Ly Hỏa (Ly là một trong tám quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ; tám quẻ ấy ở về tám phương. Quẻ Ly thuộc phương Nam, mà phương Nam thuộc về Hỏa, nên gọi Ly Hỏa).

Quẻ Ly (đơn) là quẻ thứ 30 trong Kinh Dịch (biểu thị bằng 3 gạch ngang): kết hợp hào âm (1 gạch đứt đoạn ở giữa), và hai hào dương (2 gạch dài ở trên và dưới) làm chủ, cho nên các bức tượng Thần Táo, bức nào cũng có 3 người, một người nữ ở giữa, hai người nam hai bên, tất nhiên không vẽ nằm dài chồng lên nhau, xếp lớp đúng y hình quẻ.

 

Vì cai quản bếp nên nhân dân đặt bàn thờ Táo công ngay tại bếp, mà bếp thì thường đặt gần cửa sau của nhà, nên cũng có người đặt bàn thờ cạnh cửa ấy (với ý, nhân tiện nhờ Thần Bếp trông chừng cửa nẻo luôn). Duy ở Hà Tiên, người xưa không đặt bàn thờ Thần Bếp ở những nơi ấy mà là, ở trên một cái kệ ván phía sau vách ngăn giữa nhà – đâu lưng với bàn thờ Tổ tiên. Thờ ở đây được cái tiện và sạch sẽ, dễ lau dọn, thể hiện cao tính kính trọng đối với Thần, nhưng lại thiếu “chất bếp” và nhất là bố trí không hợp lý bằng, vì lúc trời chạng vạng tối, chủ nhà đến cắm nhang ở bàn thờ Thần Bếp cũng là một dịp để kiểm tra lần cuối xem cửa nẻo đã đóng gài thật chặt hay chưa.

Vấn đề người Hà Tiên đặt bàn thờ Táo quân ở hậu vách ngăn giữa nhà, có thể suy luận: Ngày trước, thời Mạc Cửu, đất Hà Tiên là nơi lập cư của dòng họ Mạc, tất phải theo phong tục Trung Hoa. Các sự tích Táo quân của Tàu đều không giống như truyền thuyết dân gian của ta. Theo Chu lễ thì Táo quân là Chúc Dung. Sách Ngũ kinh dị nghĩa chép Thần Táo tên là Tô Cát Lợi. Còn Dũ dương tạp trở thì ghi Táo quân tên là Ổi, vẻ mặt đẹp như con gái. Trong khi đó, sách Hoài Nam tử chép có phần kỹ hơn: Vua Hoàng Đế là người đầu tiên đặt ra việc dùng lửa để nấu nướng, khi chết hóa thành Táo quân. Vì vậy, theo lệ xưa của người Tàu, cứ đến mùa hạ, nắng nóng, củi lửa hanh hao thì tế Thần Táo để, nhằm cầu xin Thần hộ độ cho gia đình không xảy ra hỏa hoạn. (Nhưng sau này con cháu họ Mạc cũng bắt chước người Việt, cúng Ông Táo vào dịp cuối năm).

Tục thờ Ông Táo ở nước ta cũng có thể xuất phát từ thần tích ấy. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là, ngay từ xa xưa, ông bà ta đã sớm tỏ rõ tính bất khuất, thờ Táo, nhưng không chịu công nhận Táo là một ông vua của Tàu, mà Táo (Việt Nam) là người bình dân chơn chất, vẹn nghĩa vẹn tình, nên ai cũng xem Ông Táo là vị thần thân thương riêng của nhà mình. Thờ để nhằm nhắc nhở tính thủy chung, cố ăn ở cư xử nhau cho trọn đạo vợ chồng, để mỗi năm Táo về Trời dâng sớ, Ngọc Hoàng khen ngợi, đoái nghĩ, ban thêm ân đức cho gia đình.

Vì vậy người Việt Nam đưa Ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp chứ không tế Táo quân vào mùa hạ như người Tàu.

Xưa, dân ta Tết Táo quân khá bài bản: Trước ngày 23 tháng Chạp, người ta đến hàng vàng mã mua hai cái mũ nam, một cái mũ nữ và một hoặc ba con cá chép (dùng cho Táo cưỡi – cá chép sẽ “vượt vũ môn” hóa thành rồng bay về Trời) để thay thế những vật dụng (ấy) đang thờ, đã hư, cũ – đem đốt – đồng thời cũng thay luôn mấy Ông Táo (cà ràn) cũ đã sứt mẻ - không dám hủy hoại mà “trân trọng” gửi ở bụi tre hoặc một gốc cây nào đó sau vườn (về sau, dần dần đơn giản bớt, có nơi bỏ hẳn).

Cà ràn – “Ông Táo” hư bể, người ta vẫn tỏ ra rất “trân trọng”,

bằng cách đem “gửi” ở một gốc cây nào đó sau vườn

Để ám chỉ việc này (“Ông Táo”), dân gian có đặt câu đố vui:

Thiếp hỏi chàng ông gì chết không chôn,

Đem gởi cây cao bóng mát, chuột với chồn không ăn?

Trong việc mua sắm đồ mới cho Táo (hàng vàng mã), người ta sắm cho Táo đủ cả như đã nói ở trên, duy có một điều mà cho đến nay Táo vẫn còn phiền là, không ai lo được cho Táo cái quần để mặc! Thành ra từ mấy nghìn năm nay Táo phải chịu như thế. Thế nhân rất biết công ơn Táo, nhưng dường như chỉ biết lợi dụng chứ không nghĩ đến việc đáp đền. Người ta viết liễn ca ngợi, dán ngay tại bàn thờ Táo:

Công bình hữu đức năng tư hỏa,

Chánh trực vô tư đạt khả thiên.

Nghĩa rằng: Công đức của Táo quân đã cung cấp than lửa, đem đến cho mọi gia đình đều ấm áp, no đủ. Táo quân phân phát công bình, không nhà nào hơn, không nhà nào kém. Táo quân đối với nhà nghèo cũng như nhà giàu, than củi, lửa đun bếp, nhà nào mà không thổi chín cơm, nấu chín cá! Táo quân chánh trực công minh, ghi chép những hành động của nhân gian, báo cáo lên Thiên đình vẫn giữ vô tư, không thiên vị nhà nào. Táo quân không vì chủ nhà cúng kiến nhiều lễ vật mà nói tốt, cũng không vì nhà ít lễ vật mà nói xấu.

Lại lủ lượt thắp nhang, đứng trước linh tọa nghiêm cẩn nguyện cầu cùng “Đông trù tư mạng Táo phủ thần quân” rằng: “Nay cuối mùa đông, Tứ quý theo vòng, Hăm ba tháng Chạp, Sửa lễ kính dâng, Hoa quả đèn hương, Xiêm hài áo mũ, Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chú, Ngũ tự gia thần, Soi xét lòng trần, Táo quân chứng giám, Trong năm sai phạm, Các tội lỡ lầm, Cúi xin tôn thần, Gia ân châm chước, Ban lộc ban phước, Phù hộ toàn gia, Trai gái trẻ già, An ninh khang thái”. Họ “cẩn cáo” rất tham lam, có khi sợ nuôi con không được, cũng “ký bán” cho Táo cả chục năm mới chịu “chuộc” về. Vậy mà không lo được cái quần để Táo mặc cho kín đáo!

Rõ ràng có tiền mà hà tiện lại tham lam! Nếu nghèo kiết xác thì chẳng nói làm gì, thương hơn là khác. Chuyện kể: Có chàng thư sinh nọ, đến ngày đưa Táo về Trời, nghèo đến nỗi không có tiền mua sắm lễ vật, thay vì chung trà nóng, chàng ta phải múc gáo nước lã, và vào bếp lấy ra một que củi khói, gác ngang lên bàn, rồi đem bài thơ tứ tuyệt vừa làm xong đốt đi sau khi đã khấn, nguyên văn:

Nhất chước thủy, nhất chi yên,

Táo quân thường tấu cửu trùng thiên.

Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự,

Vạn sự nhân gian chỉ vị tiền.

Nghĩa: Một gáo nước lã và một que củi khói. Đó là lễ tiễn vua Bếp lên chầu Trời. Nếu Ngọc Hoàng có hỏi chuyện nhân gian làm sao thì xin Ngài đừng giấu giếm, mà tâu ngay thẳng rằng: Muôn việc ở thế gian nầy đều lấy đồng tiền mà giải quyết cả. Ý rằng người đời chỉ biết có tiền mà thôi, ngoài ra không có ân tình, nhân nghĩa gì hết.

Thi sĩ Đông Hồ có dịch ra văn vần, dôi khổ:

Nước lã một gáo, củi khói một que,

Táo quân lên đó nói cho nghe Ngọc Hoàng.

Trời mà phán hỏi chuyện nhân gian,

Tâu rằng: Muôn việc nhân gian,

Chỉ có tiền bạc là hơn nhất đời.

Hà tiện quá coi chừng Táo phiền, không khéo dễ bị giận, cho rằng xem thường hay “qua mắt” thì nguy to! Tuy buồn nhưng Táo không trách, còn bào chữa cho kẻ vô tình là khác. Thơ xưa có bài:

Năm, ba ông Táo dạo chơi xuân,

Đội mũ mang hia, chẳng mặc quần.

Thượng đế hỏi rằng: “Sao chướng vậy?”

Táo rằng: “Hạ giới nó duy tân!”.

Hiện nay ở nông thôn nhiều nơi còn giữ cổ lệ, đáo hạn vẫn làm gà, cúng “Hăm ba tháng Chạp Táo quân về Trời” rất đàng hoàng, thành kính. Sở dĩ cúng thống nhất ngày hăm ba, vì xem như đó là ngày Hội nghị thường kỳ của thượng giới, cũng có ý tạo điều kiện cho Táo quân tranh thủ, kịp trở về thế gian ăn Tết với gia đình (vui xuân đoàn tụ). Cổ lệ này cũng giống như lễ tảo mộ của ta – ông bà ta không làm lễ “Thanh minh trong tiết tháng ba” như người Tàu, mà đã mạnh dạn dời lại tháng Chạp, khoảng từ ngày rằm đến ngày hai mươi. Mồ mả nào ngày hăm hai vẫn không thấy con cháu hoặc người thân đến thăm viếng, sửa sang thì những người gần đó hoặc chủ đất giẫy cỏ, sửa sang dùm, gọi “giẫy mả thí” (để Ông Táo kịp ghi vào sớ trước khi về Trời – không tâu nói việc “bất hiếu” này). Họ làm rất đàng hoàng, chu đáo. Nhưng như vậy sẽ không tránh được buồn tủi cho con cháu, vì vậy, cho dù bận rộn, người ta cũng tranh thủ làm tròn phận sự của mình đối với người chết, trước ngày hăm ba. Đặc biệt là người Việt Nam không tổ chức ăn nhậu vui vẻ với người quá cố tại mồ mả như người Tàu, vì như đã có nói ở trên, người Việt hiểu, Ông Bà của mình không hề nằm lạnh lẽo ngoài đồng, mà đang ở trong nhà với con cháu, ngay trên bàn thờ - một trong những cách suy nghĩ hết sức độc đáo! Tục ngữ có câu: “Sống vì mồ mả, không sống vì cả bát cơm”, vì vậy vấn để mồ mả Ông Bà đối với người Việt là rất hệ trọng, không ai dám thờ ơ, nhất là trong những ngày gần Tết.

Cũng vậy, việc xây dựng một truyền thuyết về Ông Táo cho riêng mình, chứng tỏ tiền nhân ta đã có một ý niệm về quyền tự chủ dân tộc rất thâm thúy vậy.

Cập nhật ( 17/03/2013 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online