Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạn đọc viết arrow GSTS Nguyễn Thuyết Phong: Với tôi, âm nhạc như hơi thở (Thượng Tùng)
GSTS Nguyễn Thuyết Phong: Với tôi, âm nhạc như hơi thở (Thượng Tùng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
28/10/2008

GSTS Nguyễn Thuyết Phong: Với tôi, âm nhạc như hơi thở

* Thượng Tùng

         GSTS Nguyễn Thuyết Phong là một trong hai người Việt Nam (cùng với GSTS Trần Văn Khê) có tên trong Từ điển Danh nhân Âm nhạc Thế giới. Sau nhiều năm miệt mài quảng bá âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, ông đã được Chính phủ nước này vinh danh là Di sản Quốc gia (National Heritage Fellow). Năm 2007, ông đã được Nhà nước phong tặng “Vinh danh nước Việt” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội.

         Từ năm 2004, ông đã về nước nhiều lần. Một trong những hoạt động âm nhạc đáng chú ý nhất của ông là hỗ trợ Nhạc viện Hà Nội thành lập khoa Dân tộc Nhạc học. Dù rất bận rộn nhưng ông đã dành cho Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần một cuộc gặp gỡ. Cuộc trò chuyện bắt đầu bằng những hồi ức của ông về những ngày đầu đến với âm nhạc. Ông nói:

         Tôi sinh ra trong một gia đình thuần nông ở vùng đất giáp ranh giữa ba tỉnh Trà Vinh, Cần Thơ và Vĩnh Long. Tuy nhiên, âm nhạc là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân quê tôi, hiện diện trong lao động, khi vui, lúc buồn. Những làn điệu quê hương mượt mà thẩm thấu vào tâm hồn tôi khá sớm. Tôi mê ca hát, biết ca hát trước khi biết chữ. Nhìn cho kỹ, âm nhạc thực ra chỉ là vấn đề thói quen. Không cần văn bản, con người vẫn có thể thuộc lòng những bài ca qua hình thức truyền khẩu. Đó chính là lý do tại sao những bài đồng dao, những câu chuyện cổ tích được gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong ngành Dân tộc nhạc học, truyền khẩu là phương tiện được đánh giá rất cao, đóng góp rất lớn đối với việc gìn giữ văn minh nhân loại.

         * Dân tộc nhạc học là một khái niệm còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Ông có thể làm rõ khái niệm này trong một vài câu?

          - Dân tộc nhạc học xuất phát từ châu Âu nhưng chỉ được cụ thể hóa tại Hoa Kỳ từ thập niên 1950. Mục đích của bộ môn này là nghiên cứu về âm nhạc truyền thống các dân tộc trên thế giới trong mối tương quan giữa âm nhạc học và nhân học. Để sáng tạo ra một bản nhạc, nhạc sĩ phải trải qua ba giai đoạn là ý niệm làm nhạc, hành vi âm nhạc và thực hành âm nhạc. Chủ thể nghiên cứu của dân tộc nhạc học  là người sáng tạo bản nhạc. Năm 2004, tôi về nước hỗ trợ Nhạc viện Hà Nội thành lập khoa Dân tộc Nhạc học theo một chương trình trao đổi giáo dục của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Khóa đầu tiên có 10 sinh viên tốt nghiệp. Hiện tại, tôi đang đào tạo ngành Dân tộc nhạc học cho 35 người tại Nhạc viện TP.HCM.

         * Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nhạc khí riêng. Theo ông, âm nhạc Việt Nam là một thể thống nhất hay là sự tập hợp của nhiều thể loại?

          - Năm 2003, khi tham dự một hội thảo quốc tế về âm nhạc ở Singapore, tôi đã trình bày tham luận “Âm nhạc Việt Nam không đồng nhất”. Chẳng hạn, trong không gian cồng chiêng Tây Nguyên, người Stiêng đánh cồng chiêng bằng nắm tay, còn người Gia Rai, Ê Đê thì dùng dùi. Nhạc điệu của các dân tộc cũng khác nhau. Những nét dị biệt này do đời sống tâm linh, sinh hoạt, văn hóa, ẩm thực, tập tục, môi trường sống... của từng dân tộc quy định. Nhưng chính như vậy mới tốt, thể hiện nhiều sắc thái khác nhau như vườn hoa rực rỡ muôn màu. Bản thân âm nhạc cũng không đòi hỏi sự thống nhất.

         * Vậy thì ông sẽ lựa chọn loại hình nào để giới thiệu với thế giới?

          - Tôi luôn nói rằng Việt Nam không phải chỉ có một dân tộc duy nhất, không phải chỉ có một truyền thống âm nhạc duy nhất. Âm nhạc truyền thống Việt Nam là sự tập hợp của 54 dân tộc, 54 nguồn văn hóa khác nhau. Âm nhạc của mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng. Tôi chia âm nhạc truyền thống Việt Nam làm hai mảng: đồng bằng và vùng cao miền núi. Mảng thứ nhất có địa hình trải dài, là địa bàn cư trú của người Kinh, dân tộc chiếm đa số. Mảng thứ hai bao gồm cao nguyên trung phần, tập trung hơn 30 dân tộc thiểu số, phần còn lại rải rác ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Thể hiện được phần nào hay phần ấy. Tôi chơi nhạc miền xuôi lẫn cao nguyên, miền núi.

         * Dường như ông không đồng tình với cách chia âm nhạc dân tộc theo ba miền Bắc, Trung, Nam?

          - Cách phân chia vừa đề cập, theo tôi, là phiến diện và không đầy đủ. Chính vì cách phân chia này nên dân ca Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ rất hay nhưng thường ít được nhắc đến trong những dịp giới thiệu với thế giới. Chỉ cần nghe giọng nói, giọng hát địa phương (ví dặm Nghệ Tĩnh v.v…) thì biết ngay.

         * Trong một cuộc hội thảo quốc tế về âm nhạc dân tộc tổ chức tại Hà Nội, một đại biểu Nhật Bản cho rằng âm nhạc dân tộc đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng. Ông ấy dẫn chứng cuộc chinh phục của cây đàn piano sau 140 năm du nhập vào Nhật Bản. Hiện nay, dân số Nhật Bản bằng một nửa dân số Mỹ nhưng số lượng người Nhật Bản chơi nhạc cụ này gấp đôi người Mỹ. Liệu nhận định trên có quá bi quan?

          - Đây là một vấn đề rất lớn. Ở nước ta, tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều người chơi nhạc cụ dân tộc. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là số lượng người am hiểu âm nhạc dân tộc ngày càng rơi rụng dần. Tôi không bài bác nhạc nước ngoài, nhưng tôi nghĩ chúng ta nên chơi loại nhạc này dưới góc độ của một người tìm hiểu một nền văn hóa khác, một sự lựa chọn thứ hai. Chúng ta cần phải hiểu mình trước khi hiểu người.

Là chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Boston nhưng Seigi Osawa, một nhạc sĩ người Nhật Bản, vẫn luôn nói rằng mỗi khi nghe một làn điệu truyền thống Nhật Bản, sự rung động của ông ấy lớn gấp nhiều lần so với thưởng thức âm nhạc Tây phương. Tức là dù không thể hiện bằng hành động nhưng ông ấy luôn ý thức được giá trị của âm nhạc dân tộc. Gầy dựng ý thức về những giá trị truyền thống là điều kiện để phục hồi âm nhạc dân tộc. Âm nhạc là văn hóa, văn hóa là điểm tựa của dân tộc.

         * Nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc dân tộc của chúng ta như áo gấm đi đêm...

          - Đúng vậy. Cồng chiêng Tây Nguyên, di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, nhưng tôi rong ruổi trên các nẻo đường Tây Nguyên, đâu có thấy ai đánh cồng chiêng. Đờn ca tài tử được xem như một nét văn hóa đặc trưng Nam bộ cũng rất khó kiếm. Rồi lẫn lộn giữa tài tử với cải lương. Đi tìm âm nhạc dân tộc mà cứ như đi trong sương mù, u u minh minh, chẳng biết đâu mà lần. Âm nhạc truyền thống đang thiếu môi trường phát triển. Ngược lại, âm nhạc phổ thông, cũng giống như nhạc pop ở các nước phương Tây, thì hiện diện khắp nơi. Thậm chí, chỉ cần ngồi ở nhà, bật tivi lên là thấy liền. Mỗi loại hình âm nhạc đều có giá trị nhất định nhưng tôi nghĩ sự phát triển giữa âm nhạc truyền thống và hiện đại đang không cân đối.

         * Thực tế là phần lớn giới trẻ hiện nay không thích âm nhạc dân tộc?

          - Tôi nghĩ là chưa thích chứ không phải không thích. Chúng ta nên tạo điều kiện để các em tiếp cận hiểu giá trị của âm nhạc dân tộc. Hoạt động âm nhạc ở nước ngoài hơn ba chục năm, trẻ em là đối tượng mà tôi quan tâm nhất. Có nhiều em khi trở thành sinh viên, gặp lại tôi ở giảng đường đại học, nói rằng vẫn nhớ hình ảnh cây đàn bầu Việt Nam, vẫn thuật lại tường tận cơ chế vật lý của cây đàn bầu Việt Nam tôi mang đến trường các em nói chuyện mười mấy năm trước. Là người Mỹ mà các em vẫn nhớ, huống chi những em bé Việt Nam. Lứa tuổi đồng ấu cũng là thời điểm các em tiếp nhận âm nhạc một cách tự nhiên và hiệu quả nhất. Chất liệu ngọt ngào của văn hóa dân tộc chúng ta gieo mầm sẽ theo các em đến tuổi trưởng thành.

         * Có vẻ như ông ủng hộ đề xuất của GSTS Trần Văn Khê đưa âm nhạc dân tộc vào học đường?

            - Đây là cách Thái Lan đã làm rất thành công, chúng ta nên học tập. Họ thay toàn bộ nhạc cụ nước ngoài bằng nhạc cụ dân tộc. Làm như vậy cũng là cách chúng ta chuẩn bị thị trường cho âm nhạc truyền thống. Thêm nữa, âm nhạc rất tốt cho sự phát triển trí thông minh ở trẻ em. Khoa học đã chứng minh được cùng một điều kiện thổ nhưỡng, cây cỏ được “nghe” nhạc thường xuyên cũng phát triển tốt hơn những cây cỏ không có âm nhạc.

Nhiều nhà bác học lớn trên thế giới đều biết chơi nhạc, chẳng hạn như Albert Einstein, Isaac Newton... Khá nhiều bạn bè của tôi là bác sĩ, kỹ sư... nhưng chơi nhạc rất hay, có thể ráp lại chơi nhạc thính phòng. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ. Điều khiến tôi thao thức là tại sao đến giờ ở Việt Nam, muốn học nhạc là phải thi vào trường nhạc? Tại sao chúng ta vẫn chưa có trường đại học nào có phân khoa âm nhạc?

         * Nếu muốn học nhạc, hãy thi vào trường nhạc. Như vậy sẽ chính thống hơn?

          - Chỉ đến khi qua Pháp tôi mới quyết định học nhạc một cách chính quy cũng là vì lẽ đó.  Âm nhạc thực ra cũng chỉ là một phân khoa tại Trường đại học Sorbonn (Paris). Ở các trường nhạc của Việt Nam hiện nay, những môn khoa học xã hội - tự nhiên chiếm tỷ trọng không đáng kể. Ở Mỹ, hầu hết các trường đại học đều có phân khoa âm nhạc, kể cả Viện Công nghệ Massachussets (MIT), một trường đại học nổi tiếng thế giới về công nghệ và kỹ thuật. Nhờ vậy nên âm nhạc của họ lan tỏa khắp mọi nơi.

         Tại sao người ta làm được mà chúng ta chưa làm được? Phải chăng là chúng ta thiếu người dạy, hay thiếu một định hướng về âm nhạc trong giáo dục?  Âm nhạc dân tộc hiện giờ xa cách với giới trẻ. Tôi ước ao ngành nghệ thuật này được phổ biến trong giáo dục, được đánh giá đúng, được trở thành một bộ môn trong giáo dục đại học. Nên tập thói quen suy nghĩ ý thức đúng đắn về âm nhạc truyền thống thì truyền thống mới phát triển.

         * Trình diễn âm nhạc dân tộc tại những điểm tham quan du lịch được xem là nhất cử lưỡng tiện, vừa góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam với khách du lịch quốc tế, vừa tạo điều kiện cho các nghệ sĩ chơi nhạc dân tộc có thêm thu nhập. Là người có kinh nghiệm giới thiệu âm nhạc với người nước ngoài tại chính đất nước họ, ông nghĩ thế nào về cách làm này?

          - Tôi nghĩ chúng ta cũng cần thận trọng khi khai thác âm nhạc dân tộc như một sản phẩm du lịch. Các tiết mục trình diễn tại các điểm du lịch đôi khi không đặc sắc do đa phần những người biểu diễn đều được đào tạo cấp tốc.  Âm nhạc với họ là phương tiện mưu sinh, chứ không phải là niềm đam mê. Một đồng nghiệp của tôi người Bồ Đào Nha đã không ngần ngại gọi những điểm trình diễn dành cho du khách là nhạc giả hiệu. Bài học này đã xảy ra ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia... Theo quan sát của tôi, hiện chỉ còn ca Huế trên sông Hương là chưa bị lai tạp nhiều.

         * Ngoài những đối tượng được đào tạo cấp tốc như ông nói, không ít các nghệ sĩ chơi nhạc dân tộc đang bị cơm áo gạo tiền dồn đuổi. Làm sao có thể tĩnh tâm trui rèn nghề nghiệp khi vợ bệnh, con đau, nhà hết gạo?

          - Vấn đề này không phải chỉ có chúng ta gặp phải. Là một thành viên trong Hội đồng Nghệ thuật Quốc gia Hoa Kỳ, tôi trực tiếp thẩm định những dự án âm nhạc được Chính phủ nước này tài trợ. Chủ trương hỗ trợ các nghệ sĩ chơi nhạc dân tộc rất rõ ràng nhưng ngân sách của quốc gia hợp chủng quốc này cũng có giới hạn. Sở dĩ các ngành nghệ thuật ở Hoa Kỳ tồn tại được là nhờ sự hỗ trợ của các mạnh thường quân. Tại buổi nói chuyện Doanh nhân và Văn hóa nhân ngày Doanh nhân Việt Nam 13-10-2007, tôi có nhắc đến trường hợp nhà tỉ phú Rockefeller đã lập một quỹ mang tên ông nhằm giúp đỡ các nghệ sĩ, nghệ nhân. Những người điều hành quỹ rà soát toàn bộ nền nghệ thuật Hoa Kỳ, nơi nào cần giúp đỡ là họ hỗ trợ trực tiếp.

Tôi mong mỏi các mạnh thường quân Việt Nam cũng sẽ làm được điều đó. Một người làm không nổi thì nhiều người cùng làm, tùy theo khả năng. Giúp đỡ những nghệ sĩ là để giữ gìn những giá trị khỏi mất. Từ khi về Việt Nam, tôi đã thực hiện sáu chuyến điền dã dọc chiều dài đất nước để ghi âm, chụp hình, quay phim... những làn điệu. Xót xa nhất là có những trường hợp khi tôi tìm được đến nhà nghệ sĩ thì họ đã qua đời. Sự ra đi của những người nghệ sĩ tài hoa là mất mát không thể đo đếm nổi.

         * Tính đến thời điểm này, nguồn tư liệu mà ông góp nhặt được gồm những gì?

          - Bộ sưu tập này chủ yếu là tài liệu, băng đĩa, hình ảnh. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người tra cứu, nó được sắp xếp theo hơn 1.500 mục. Đây cũng là bộ sưu tập âm nhạc lớn nhất Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, hiện đang được lưu giữ ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ và Trung tâm giáo dục toàn cầu thuộc Trường đại học Hobart & William Smith. Theo đó, tất cả những người quan tâm đến âm nhạc dân tộc Việt Nam đều có thể tìm đến tra cứu hoặc nghe những làn điệu Việt Nam từ băng đĩa. Bảo vật này không phải của riêng tôi.

         * Sao ông không đưa bộ sưu tập của mình trở về quê hương?

          - Tôi để ở Hoa Kỳ vì họ đồng ý bảo quản nguồn tư liệu này. Tôi chưa đưa về Việt Nam vì hai lý do. Thứ nhất là chưa ai đồng ý sẽ bảo quản nó. Thứ hai, quan trọng hơn, ai sẽ có ý thức tìm hiểu về nó. Thực tế tôi đã phải trả lời khá nhiều câu hỏi “làm sao” để có được nguồn tư liệu này. Làm sao đi đến đúng nơi để gặp đúng người, làm sao thuyết phục để được phép ghi âm, chụp hình, quay phim, làm sao được phép đưa ra khỏi Việt Nam, làm sao tìm được tổ chức bảo quản và bây giờ là làm sao để nhiều người quan tâm đến nó? Vấn đề không phải để ở đâu, mà là làm thế nào để nó được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Đó cũng là phương tiện để tôi thu hút sự chú ý của thế giới đối với âm nhạc dân tộc Việt Nam.

         * Hơn hai mươi năm miệt mài quảng bá âm nhạc dân tộc tại Hoa Kỳ, có khi nào ông cảm thấy mệt mỏi?

          - Những năm đầu mới sang Hoa Kỳ, đâu có ai biết đến mình, tôi phải tranh đấu cho môi trường âm nhạc được thể hiện. Với tôi, âm nhạc cũng như hơi thở, tồn tại tự nhiên trong sinh hoạt thường nhật. Tâm nguyện của tôi là gieo những hạt giống âm nhạc dân tộc Việt Nam ở những miền đất mà tôi đã, đang và sẽ đặt chân đến. Đến giờ, những làn điệu quê hương đã theo tôi rong ruổi qua 50 bang của Hoa Kỳ và hơn 20 quốc gia trên thế giới. Sau một thời gian dài làm việc tận tâm, tận lực với tất cả tình yêu dành cho đất nước, cho dân tộc, năm 1997, Chính phủ Hoa Kỳ đã vinh danh tôi tại Phòng Vàng trong Nhà Trắng, trở thành Di sản quốc gia của họ. Đây không phải là phần thưởng của riêng tôi. Sự kiện này đồng nghĩa với việc âm nhạc Việt Nam trở thành một thành tố tại quốc gia hợp chủng quốc.

         * Sau năm 1975, những thế hệ người Việt Nam đầu tiên sinh ra ở Hoa Kỳ giờ đã trưởng thành. Mức độ tiếp nhận của những người xa tổ quốc này như thế nào, thưa ông?

          - Khi tôi mở lớp, các em ghi danh rất đông. Các em tìm về cội nguồn qua những bài giảng của tôi.

         * Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

         (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Cập nhật ( 14/12/2008 )
 
< Trước   Tiếp >
TRANG WEB GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BẠC LIÊU Số 170 Bản ra thường kỳ năm 01&15/10/2017 - Phật lịch 2561

Các danh mục khác

Thăm dò ý kiến

Google đánh giá

Google Page Rank
Powered by: Viet IT

Alexa xếp hạng

Statistics

OS: Linux v
PHP: 5.4.45
MySQL: 5.5.47
Thời gian: 19:55
Caching: Enabled
GZIP: Disabled
Thành viên: 5
Tin tức: 4093
Liên kết web: 0

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online