Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Chấn hưng Phật giáo (Nguyễn Cao Thanh)
Chấn hưng Phật giáo (Nguyễn Cao Thanh) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Cao Thanh   
05/05/2013

Chấn hưng Phật giáo – đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam

* Nguyễn Cao Thanh

Đầu thế kỷ XX, cùng với nhiều diễn biễn chính trị, xã hội và văn hóa, trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam xuất hiện phong trào chấn hưng Phật giáo. Khởi phát tỏa của sự chấn hưng Phật giáo là ở miền Nam nhưng nhanh chóng lan trở thành phong trào sôi nổi, sâu rộng và toàn diện trong cả nước. Phong trào chấn hưng Phật giáo đã trở thành động lực, đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam.

 

    1.  Nguyên nhân của sự chấn hưng

Có nhiều nguyên nhân của phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu như sau:

Trước hết nói về sự suy vi của Phật giáo. Phật giáo Việt Nam phát triển hưng thịnh dưới thời Lý, Trần, sau đó chững lại từ thời Lê Sơ, bởi từ đây các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện việc cai trị chủ yếu dựa vào Nho giáo. Thực ra Nho giáo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa mà là học thuyết tư tưởng, đạo đức với hệ thống “Tam cương”, “Ngũ thường”, với tư tưởng xem vua là “Thiên tử” (con Trời), đại biểu đại diện cho quyền uy và lẽ phải đã đáp ứng yêu cầu của nhà nước phong kiến.

Nhà Nguyễn (1882-1945), triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam càng dựa vào Nho giáo để xây dựng nhà nước tập quyền, chuyên chế. Thời kỳ này, Nho giáo đã trở nên địa vị độc tôn, và thậm chí đã có lúc Nho giáo đả kích cả Phật giáo. Gia Long là người sáng lập triều Nguyễn lại dựa vào, đúng hơn là mang ơn những người theo đạo Công giáo, rộng hơn là đạo Công giáo. Vua Gia Long còn cấm cả việc xây chùa mới, cấm tô tượng, đúc chuông, mở đàn chay,… Vua Tự Đức, vị vua được đánh giá cao về phương diện cai trị và văn hóa nhưng không khá hơn vị tổ sáng nghiệp của mình. Ông không chỉ cấm việc xây chùa, đúc chuông, tô tượng,… mà còn bắt tách hoạt động của nhà chùa ra khỏi hoạt động của triều đình. Có lẽ vì vậy, có người đã nhận định rằng từ nhà Nguyễn trở đi Phật giáo trở nên suy vi: “Từ đây trở đi trong lịch sử không thấy chép gì để căn cứ một giai đoạn vẻ vang cho lịch sử Phật giáo nữa”. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng dưới triều Nguyễn, Phật giáo Việt Nam tuy có đôi lúc bừng lên, nhất là dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, nhưng không còn được như trước nữa. Nhìn tổng thể, Phật giáo Việt Nam vẫn tiếp tục suy vi cho đến những năm hai mươi của thế kỷ XX.

Sự suy vi của Phật giáo thể hiện ở sự suy giảm uy tín và ảnh hưởng của Phật giáo đối với dân chúng những năm đầu thế kỷ XX. Về giáo lý, kinh sách thì bị thất truyền, sai lạc nhiều do sự thâm nhập của lối sống thế tục và các hình thức mê tín, nhất là của đạo Lão thần tiên. Về sự tu hành càng bị sa sút. Xin nêu những biểu hiện của sự suy giảm đú qua một số nhận xét của giới Phật giáo đương thời. Cư sỹ Khánh Vân đã miêu tả trong Tạp chí Duy Tâm số 18 năm 1926 rằng: “Có kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, nhập sóc vọng, cũng sám hối như ai, nhưng lại luyện bùa học ngải, luyện roi thần, khi lên ông, lúc gặp bà, gọi là cứu nhân độ thế, nhưng thực ra lợi dụng lòng mê muội của thiện nam, tín nữ, rộng túi tham vơ vét cho sạch sành sanh”. Cư sỹ Thanh Quang cũng nói về tình trạng này trong Tạp chí Đuốc Tuệ:Đau đớn thay xứ ta, những hạng xuất gia vào chùa phần nhiều chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp tán cho già, nay lãnh đám này, mai lãnh đám kia; cũng tràng hạt, cũng cà sa, thử lật mặt trái của họ ra mà xem thì có khác nào người trần tục”.

Tình hình như nói trên đã tác động mạnh đến giới Phật giáo. Nhiều chức sắc, trí thức tâm đạo lo ngại sự sa sút sẽ ảnh hưởng đến tiền đồ vai trò của Phật giáo- một tôn giáo có cả ngàn năm lịch sử gắn với dân tộc.

Phong trào chấn hưng Phật giáo còn do tác động của tình hình tôn giáo đương thời ở Việt Nam, nhất là ở Nam Bộ. Đầu thế kỷ XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp thực hiện chính sách nâng đỡ tạo điều kiện cho đạo Công giáo phát triển. Đạo Tin lành một tôn giáo đại diện cho lối sống thị dân, xã hội công nghiệp từ Mỹ thâm nhập đang tìm địa bàn truyền giáo ở Việt Nam. Và đặc biệt, ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, xã hội và tư tưởng đã xuất hiện nhiều thứ đạo mới, hoặc đi ra từ Phật giáo, hoặc đi ra từ tín ngưỡng dân gian, hoặc đi ra từ “Tam giáo” (Phật - Lão - Nho), như: Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856) sáng lập năm 1849; Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi (?-1890) lập năm 1867; Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam do ông Nguyễn Văn Bồng (1886-1958) sáng lập đầu thế kỷ XX; đạo Minh sư và các nhóm Ngũ chi Minh đạo (Minh sư, Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tân) mở rộng ảnh hưởng vào đầu thế kỷ XX; đạo Cao đài do các ông Ngô Minh Chiêu (1878-1930), Lê Văn Trung (1875-1934), Phạm Công Tắc (1893-1959),… thành lập năm 1926, Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1946) thành lập năm 1939,…

 Sự nẩy nở và phát triển của các tôn giáo tạo ra sức cạnh tranh giữa Phật giáo với các tôn giáo đương thời. Đó cũng là nguyên nhân thúc đẩy chấn hưng Phật giáo.

Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, ngoài những nguyên nhân về tôn giáo như nói trên, còn nguyên nhân về chính trị xã hội gắn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Như đó biết, vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng và lực lượng lãnh đạo cách mạng. Các phong trào giải phóng dân tộc theo các khuynh hướng khác nhau, như phong trào Cần Vương, phong trào khởi nghĩa của nông dân cuối thế kỷ XIX; và gần hơn là phong trào theo khuynh hướng tiểu tư sản mà đỉnh cao là khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học, hoặc theo khuynh hướng tư sản của Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Châu Trinh (1872-1926),… Tất cả đều thất bại. Cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam tưởng như bế tắc, không lối thoát.

Trước tình hình chính trị xã hội như nói trên, một số nhà sư cùng một số nhân sỹ trí thức yêu nước, mến đạo muốn Phật giáo phát triển, qua đó lấy ngọn cờ Phật giáo nhằm đoàn kết tập hợp lực lượng để chống Pháp giành độc lập cho dân tộc.

Khi tìm hiểu các nguyên nhân, cần phải thấy rằng, đầu thế kỷ XX phong trào chấn hưng Phật giáo không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ở nhiều nước, là kết quả tất yếu của những biến đổi lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, tư tưởng và nhất là sự sa sút của Phật giáo nói chung. Phong trào chấn hưng Phật giáo nổ ra ở Trung Quốc, Nhật Bản với các khẩu hiệu cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế, cách mạng giáo hội. Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc qua các sách báo, nhất là Tạp chí Hải Triều Âm cùng những hoạt động sôi nổi của các nhà sư Trung Quốc, nhất là Hoà thượng Thái Hư đã làm nức lòng những tăng ni, cư sỹ trí thức yêu mến Phật giáo ở cả ba miền. Đó cũng là động lực, là sự nâng đỡ quan trọng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam.

 

2.                            Diễn biến của phong trào

Nói về diễn biễn và thành tựu của phong trào chấn hưng Phật giáo thì các bộ sách về lịch sử Phật giáo Việt Nam viết khá đầy đủ và chi tiết, chúng tôi xin khái quát một số nội dung chủ yếu của phong trào.

Khởi phát của phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra ở Sài Gòn và một số tỉnh phía Nam vào năm 1920 gắn với tên tuổi của các nhà sư tiên phong như Khánh Hòa (1878 - 1947), Thiện Chiếu (1898 - 1974),... Từ miền Nam, Phong trào chấn hưng Phật giáo lan ra miền Trung và miền Bắc với các nhà sư như Hòa thượng Giác Tiên, Thượng tọa Tố Liên, Thượng tọa Trí Hải, các cư sỹ như Lê Đình Thám, Nguyễn Năng Quốc, Phan Kế Bính, Trần Văn Giáp, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Kỷ, Nguyễn Trọng Thuật,... Phong trào chấn hưng Phật giáo kéo dài đến giữa những năm 1950 đã đưa lại những kết quả rất quan trọng.

Trước hết là Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức khác với sự rời rạc lỏng lẻo trước đó. Một loạt tổ chức Phật giáo ra đời trong thời kỳ này ở ba miền, nhưng trong đó có sáu tổ chức quan trọng của tăng ni và cư sỹ. Cụ thể:

+ Ở miền Nam có hai tổ chức:

- Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học do nhà Hoà thượng Khánh Hòa lập năm 1930 (năm 1951, Cư sỹ Mai Thọ Truyền lập lại, lấy tên là Hội Phật học Nam Việt),

- Hội Tăng già Nam Việt lập tháng 6-1951.

+ Ở miền Trung có hai tổ chức:

- An Nam Phật Học hội do Cư sỹ Lê Đình Thám lập năm 1932,

- Hội Tăng già Trung Việt thành lập năm 1949.

+ Ở miền Bắc có hai tổ chức:

- Hội Phật giáo Bắc Kỳ do Cư sỹ Nguyễn Năng Quốc lập năm 1934,

- Hội Chỉnh lý Tăng ni Bắc Việt do Thượng tọa Tố Liên lập năm 1949 (năm 1950 đổi thành Hội Tăng già Bắc Việt).

Sau khi các tổ chức Phật giáo được thành lập, các kinh sách được sưu tầm, biên dịch ấn tống rộng rãi; các tạp chí Phật học ra đời làm phương tiện chấn chỉnh về phương diện giáo lý, giáo luật và sự tu hành,... Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học xuất bản tờ Từ Bi âm; năm 1932, An Nam Phật học Hội xuất bản tờ Viên âm, năm 1934 Hội Phật học Bắc kỳ xuất bản tờ Đuốc Tuệ; năm 1931 Hội Thiền giáo tông xuất bản tờ Bát Nhã âm; Lưỡng Xuyên Phật học xuất bản tờ Duy Tâm Phật học,... Nhiều cuộc trao đổi, tranh luận về Phật học, về lịch sử Phật giáo, về tình hình Phật giáo đương đại, cùng những vấn đề đặt ra được đăng tải trên các tạp chí thu hút sự quan tâm của giới Phật giáo và dư luận xã hội tạo ra không khí sôi nổi của phong trào chấn hưng Phật giáo. Sư Thiện Chiếu là người cổ vũ mạnh mẽ việc đổi mới Phật giáo. Ông viết nhiều bài luận đăng trên các tạp chí, viết nhiều sách để phổ biến quan điểm đổi mới Phật giáo của mình. Ngoài việc làm chủ biên nội san Phật hoá Tân thanh niên, sư Thiện Chiếu còn biên soạn lại Phật học Tùng thư và cho xuất bản các sách: Phật học vấn đáp, Cái thang Phật học, Phật giáo vô thần luận, Phật học tổng yếu, Chân lý Tiểu thừa và chân lý Đại thừa, Kinh Pháp cú, Kinh Lăng nghiêm,…

Một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và là kết quả của Phong trào chấn hưng Phật giáo, năm 1951, tại Huế các tổ chức Phật giáo nói trên đã họp lại để lập ra Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Đây được coi là cuộc vận động thống nhất đầu tiên của Phật giáo ở Việt Nam về mặt tổ chức. Người đứng đầu Tổng hội Phật giáo Việt Nam là Hoà thượng Thích Tịnh Khiết với chức Hội trưởng, Thượng toạ Thích Trí Hải là Phó Hội trưởng. Văn phòng Tổng hội đặt tại chùa Từ Đàm, Huế. Thành lập từ năm 1951 nhưng đến năm 1953, chính quyền đương thời mới chính thức công nhận và cho phép Tổng hội Phật giáo Việt Nam hoạt động. Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời về mặt tổ chức nhưng chưa có thực quyền đối với các tổ chức thành viên, nên trên thực tế các hoạt động vẫn duy trì theo các sơn môn. Do đó, tháng 9 năm 1952, đại biểu tăng già ở ba miền tổ chức Đại hội tại chùa Quán Sứ, Hà Nội thành lập ra Giáo hội Tăng già Toàn quốc nhằm hỗ trợ cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam thiết lập cơ chế lãnh đạo thống nhất trong các hoạt động Phật sự; đồng thời tạo mối quan hệ rộng rãi với Phật giáo thế giới, trước hết là tổ chức Thân hữu Phật tử Thế giới (World Friendship of Buddhist - WFB) vừa được thành lập mà Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập. Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời, Hoà thượng Thích Huệ Tạng được suy tôn làm Thượng chủ, Thượng toạ Thích Trí Hải làm Trị sự trưởng, Thượng toạ Thích Tố Liên làm Tổng Thư ký. Ngoài ra, cơ quan của Giáo hội còn có Ban Nghi lễ, Ban Giám luật, Ban Giáo thụ, Ban Hoằng pháp, Ban Hộ tịch.

Cùng với sự củng cố, trưởng thành về tổ chức, phong trào chấn hưng Phật giáo đã xây dựng được một số cơ sở đào tạo gọi là Phật học đường để đào tạo bồi dưỡng tăng ni một cách quy củ ở cả ba miền. Ở miền Nam có Trường Tăng sỹ tại Chợ Lớn, các lớp Phật học ở các chùa Tuyên Linh (Bến Tre), chùa Phi Lai (Châu Đốc), chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), chùa Long Hoà (Trà Vinh), chùa Thiên Phước (Vĩnh Long), Phật học đường Lưỡng Xuyên Trà Vinh). Ở miền Trung có Sơ đẳng Tăng Trường, Trường Trung đẳng Phật học (Bình Định), Phật học Đường Trúc Lâm và Tây Thiên, Phật học đường Báo Quốc và Kim Sơn (Huế). Ở miền Bắc có hai lớp tiểu học cho tăng và ni ở Phúc Yên và Hải Dương, Trường Trung học Phật học tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), Trường Đại học Phật học (theo cách gọi thời bấy giờ) tại chùa Sở (Hà Đông),...

Các cơ sở đào tạo của Phật giáo không chỉ đào tạo ra đội ngũ tăng ni trí thức của Phật giáo hỗ trợ cho cho phong trào chấn hưng; mà còn tạo ta một nề nếp mới trong việc đào tạo tăng tài của Phật giáo ở những giai đoạn về sau.

Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giới Phật giáo và ngoài xã hội. Chấn hưng Phật giáo đã đưa Phật giáo trở lại đúng với truyền thống và vai trò, vị trí của Phật giáo trong xã hội Việt Nam. Chấn hưng Phật giáo là bước chuẩn bị để Phật giáo Việt Nam- với vai trò “Hộ quốc an dân”, tiếp bước cùng dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Chấn hưng Phật giáo tạo ra nguồn mạch để sau này, khi đất nước thống nhất, non sông quy về một mối, năm 1981, giới Phật giáo Việt Nam đã đi đến quyết định thống nhất Phật giáo, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam- ngôi nhà chung của Phật giáo Việt Nam. Với những ý nghĩa đó, phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam được ví như một cuộc cách mạng về Phật giáo. Xin đừng hiểu “cách mạng” theo nghĩa thông thường là “thay cũ đổi mới” mà hãy hiểu tác động và sự ảnh hưởng, hay đúng hơn là ý nghĩa của Phong trào./.

Tài liệu tham khảo:

- Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Viện Triết học, NXB KHXH, Hà Nội 1991;

- Lược khảo Phật giáo Việt Nam, Thích Mật Thể, Sài Gòn 1974;

- Lược khảo Phật giáo Việt Nam, Vân Thanh, Sài Gòn 1974;

- Lược sử Phật giáo Việt Nam, Thích Minh Tuệ, TP Hồ Chí Minh 1993;

- Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nguyễn Thanh Xuân, NXB Tôn giáo, Hà Nội 2007;

- Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, NXB Văn học, Hà Nội 2000.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online