Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nghĩa gốc chữ THỦ (Huỳnh Chương Hưng)
Nghĩa gốc chữ THỦ (Huỳnh Chương Hưng) PDF In E-mail
Người viết: Huỳnh Chương Hưng   
06/06/2013

NGHĨA GỐC CỦA CHỮ “THỦ”

* Huỳnh Chương Hưng

          Cho rằng chữ (thủ) trong những từ như “lãnh thủ” (领取 – nhận lãnh), “đề thủ” (提取 – lấy ra), “hoạch thủ” (获取 – giành được) là chữ mới, thế thì nó từ chữ nào chuyển hoá thành, nếu không tại sao chữ lại liên quan đến “tai”? Chẳng lẽ người xưa gọi việc nghe lén lời của người khác là “thính thủ” 听取? Xem tự hình chữ (thủ) ở giáp cốt văn, tra trong Thuyết văn giải tự 说文解字 mới biết nghĩa gốc của chữ chính là “cắt tai”, mà lại là cắt tai trái.

 

          Cắt tai gọi là (thủ), đối với ngày nay là điều khó tưởng tượng ra, nhưng với người xưa “cắt tai” lại “dễ như trở bàn tay”, không tốn công phí sức. Họ không chỉ cắt tai động vật mà còn cắt tai người. Trong Chu lễ - Hạ quan – Đại tư mã 周礼 - 夏官 - 大司马 có ghi:

Đại thú công chi, tiểu thú tư chi, hoạch giả thủ tả nhĩ.

大兽公之,小兽私之,获者取左耳

Câu này ý nói nếu săn được thú lớn thì nộp làm của công, săn được thú nhỏ thì giữ làm của riêng, người đi săn cắt tai trái của con thú để tính công. Thảo nào chữ (nhĩ) ở bên trái của chữ (thủ).

Trong Tả truyện – Hi Công nhị thập nhị niên 左传 - 僖公二十二年 cũng có ghi:

Thả kim chi kình giả, giai ngô địch dã, tuy cập hồ cẩu, hoạch tắc thủ chi, hà hữu vu nhị mao? (1)

且今之勍者,皆吾敌也,虽及胡耇,获则取之,何有于二毛?

(Nay đối mặt với các nước mạnh, đều là kẻ địch của ta, cho dù là già cả cũng bắt (và cắt tai) không tha, quản gì tóc bạc hay không bạc?)

Trong Tư trị thông giám – Đường kỉ 司治通鉴 - 唐纪 ghi rằng:

Thủ Ngô Nguyên Tế

取吴元济

(Bắt (và cắt tai)  Ngô Nguyên Tế)

          Chữ ở đây không phải là cắt tai dã thú mà là cắt tai người. Về sau, trên chiến trường không chỉ có cắt tai kẻ địch, mà cắt đầu kẻ địch cũng được viết là , như vậy chữ đã được khuếch đại hoá. Tô Thức 苏轼 trong bài Dương Quan từ 阳关词 đã viết:

Hận quân bất thủ Khất Đan thủ

Kim giáp nha kì quy cố hương

恨君不取契丹首

金甲牙旗归故乡

(Hận anh không lấy được đầu của quân Khất Đan

Mặc áo giáp giương cờ trở về lại quê nhà)

          Chữ ở đây chính là cắt đầu. Thuyết văn giải tự 说文解字 ghi rằng:

Thủ, bộ thủ dã

,捕取也

“bộ thủ” 捕取 ở đây có nghĩa là sau khi bắt được thì cắt lấy tai. Thời cổ, bất luận là bắt được dã thú hay bắt được tù binh đều cắt lấy tai của dã thú hoặc tù binh đó để tính công lĩnh thưởng.

          Xem chữ trong giáp cốt văn, bên trái là “tai” (chữ “nhĩ” ), bên phải là “tay” (chữ “thủ” /), đây là chữ hội ý, biểu thị lấy tay cắt tai. Trong kim văn chữ bên trái có chút biến đổi, không giống cái tai, chữ / bên phải không biến đổi. Đến kiểu chữ tiểu triện, tai bên trái lại trở về dạng ban đầu. Khải thư theo tự hình của tiểu triện, thành chữ như ngày hôm nay.

          Cắt lấy tai là , lấy đầu cũng là , và chiếm lấy được trận địa, thành trì, đất đai đương nhiên cũng là , ngay cả đàn ông con trai lấy vợ, thời cổ cũng gọi là . Trong Sử kí – Tôn Tử Ngô Khởi liệt truyện 史记 - 孙子吴起列传 có câu:

Ngô khởi thủ Tề nữ vi thê

吴起取齐女为妻

(Ngô Khởi lấy con gái nước Tề làm vợ)

Trong Ngọc Đài tân vịnh – Cổ thi vi Tiêu Trọng Khanh thê tác 玉台新咏 - 古诗为焦仲卿妻作 cũng có ghi:

Chung lão bất phục thủ

终老不复取

(Đến già cũng không lấy vợ nữa)

          Trong Thuỷ hử truyện 水浒传:

Ngô cận lai thủ đắc nhất cá lão tiểu, Thanh Hà huyện nhân

吾近来取得一个老小,清河县人

(Ta gần đây lấy được cô vợ nhỏ, người ở huyện Thanh Hà)

          Những chữ (thủ) ở đây đều có nghĩa là chữ (thú). Còn như chữ có nghĩa là “đắc đáo” (得到 – có được), “thủ đắc” (取得 – lấy được) đó chính là nghĩa phái sinh, cũng thường thấy trong cổ văn. Trong Tuân Tử - Khuyến học 荀子 - 劝学 ghi rằng:

Thanh, thủ chi vu lam, nhi thanh vu lam

青取之于蓝而青于蓝

(Màu xanh lấy ra từ màu lam nhưng mà lại xanh hơn màu lam)

          Trong Hàn Phi Tử - Ngũ đố 韩非子 - 五蠹:

Toản toại thủ hoả

钻燧取火

(Dùi gỗ lấy lửa)

          Và trong Sử kí – Bình Nguyên Quân Ngu Khanh liệt truyện 史记平原君 - 虞卿列传 cũng ghi:

Văn năng thủ thắng

文能取胜

(Thông qua đàm phán mà lấy được thắng lợi)

          Những chữ ở đây đều mang ý nghĩa là “thủ đắc” (取得 – lấy được), “đắc đáo” (得到 – có được).

 

CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI DỊCH

(1)- Câu này trong nguyên tác là:

Thả kim chi đà lỗ giai ngô địch dã, tuy cập hồ giả, hoạch tắc thủ chi, hà hữu vu nhị mao? (1)

且今之驼撸皆吾敌也,虽及胡者,获则取之,何有于二毛?

Ở đây tôi theo 2 tư liệu

                   http://hlyzfsz.blog.hexun.com/tw/37883102_d.html

         http://ctext.org/chun-qiu-zuo-zhuan/xi-gong-er-shi-er-nian/zh

chép lại là:

Thả kim chi kình giả, giai ngô địch dã, tuy cập hồ cẩu, hoạch tắc thủ chi, hà hữu vu nhị mao?

且今之勍者,皆吾敌也,虽及胡耇,获则取之,何有于二毛?

Nguyên tác Trung văn

“THỦ” ĐÍCH BẢN NGHĨA THỊ CÁT THỦ TẢ NHĨ

的本义是吉取左耳

Tác giả: Lưu Thiệu Nghĩa 刘绍义

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online