Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH CÁI TÀU Ở U MINH (Huỳnh Thăng)
VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH CÁI TÀU Ở U MINH (Huỳnh Thăng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
28/10/2008

VÀI NÉT VỀ ĐỊA DANH CÁI TÀU Ở U MINH

* Huỳnh Thăng

Gắn liền với địa danh Cái Tàu ở huyện U Minh (Cà Mau) còn có những tên gọi được nhiều người biết đến như Sông Cái Tàu, Xóm Cái Tàu, Chợ Cái Tàu, Ngã Ba Cái Tàu, Vàm Cái Tàu, Trại giam Cái Tàu… Theo tìm hiểu của chúng tôi, địa danh "Cái Tàu" đã xuất hiện từ lâu đời, trước cả thời kỳ Nguyễn Ánh bôn tẩu xứ Cà Mau[1]. Đầu tiên, có lẽ là tên sông, rồi thành tên xóm, tên chợ và dần dần hình thành những tiểu loại địa danh tiếp theo. Con sông Cái Tàu dài khoảng 43km, bắt nguồn từ ngã ba Cái Tàu, chảy qua xóm Cái Tàu về phía thị trấn U Minh rồi đổ ra Vịnh Thái Lan.

Địa danh "Cái Tàu" mang nguồn gốc dân gian rất rõ nét. Tuy có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng nếu đặt trong bối cảnh hàng loạt những địa danh có cấu tạo bởi từ tố "Cái" thì hợp lý hơn cả. Chữ "Cái" được dùng cho tên gọi các dòng sông ở khắp ba miền của Tổ quốc. Những con sông lớn như sông Hồng, sông Gianh, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu… đều được người địa phương gọi là sông Cái. Tác giả Lê Bá Thảo viết trong sách "Đời sống con sông" (1960) đã khẳng định : "Sông Hồng cũng có tên gọi là sông Cái" với lý giải như sau : "Cái có nghĩa là mẹ. Nhân dân ta đã ví các con sông lớn chảy qua địa phận mình ở như con sông mẹ, còn các sông nhỏ đổ vào sông Cái gọi là sông Con". Sách "Đại Nam quốc âm tự vị" (1895) của Huỳnh - Tịnh Paulus Của cũng giải thích sông Cái là "sông lớn, sông mẹ". Trong cuốn "Sổ tay địa danh Việt Nam" (2001) của các tác giả Nguyễn Dược, Trung Hải biên soạn[2] thì giải thích địa danh "Sông Cái" là tên gọi của 5 con sông lớn :

(1) sông lớn trong cùng hệ thống với sông Thu Bồn ở tỉnh Quảng Nam, bắt nguồn ở vùng biên giới Việt - Lào, nối với sông Thu Bồn ở huyện Đại Lộc.

(2) sông lớn chảy trong tỉnh Bình Định, đổ ra vịnh Quy Nhơn. Đoạn trung lưu là sông Hà Giao, đoạn thượng lưu là sông Đắc Cron Bung.

(3) sông lớn chảy trong tỉnh Khánh Hòa, qua thành phố Nha Trang, rồi đổ ra vũng cùng tên.

(4) sông chính chảy trong tỉnh Ninh Thuận, qua thị xã Phan Rang rồi đổ ra vũng cùng tên.

(5) sông chính bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng, chảy trong huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, rồi đổ ra vịnh Phan Thiết.

Như vậy, các con sông lớn, sông chính của từng địa phương hầu như đều có tên gọi dân gian là "sông Cái" trước khi được đặt những tên khác. Và liên hệ với các địa danh mang từ tố "Cái" để thấy rằng từ những tên gọi chung là "sông Cái" kết hợp với yếu tố khác (tên vùng đất, đặt điểm riêng…) trở thành những địa danh cụ thể : Cái Sắn, Cái Thia, Cái Bé (Kiên Giang), Cái Nước, Cái Tàu, Cái Rắn (Cà Mau), Cái Bè (Tiền Giang), Cái Mơn (Bến Tre), Cái Vồn (Vĩnh Long), Cái Răng (Cần Thơ)… Từ tên gọi chung theo thời gian được chuyển hoá thành tên gọi riêng là một trong những quy luật hình thành của địa danh.

Về nguồn gốc của từ "Cái" thì nhiều tài liệu khẳng định đây là một từ thuần Việt, và đã được người Việt sử dụng từ rất sớm. Khoảng thế kỷ thứ VIII, khi vị anh hùng Phùng Hưng qua đời, dân chúng suy tôn ông là "Bố Cái Đại Vương", chữ "Cái" (danh từ) ở đây có nghĩa là mẹ, giống như trường hợp tục ngữ có câu "con dại, cái mang" vậy. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, với tác động của văn hoá, việc sử dụng từ tố này đã mang nhiều tầng ý nghĩa. Đầu tiên, "Cái" có nghĩa mẹ, và "sông Cái" có nghĩa là sông mẹ. Đặc điểm này tương đồng với cách gọi sông Mê-Kông của người Thái Lan và người Lào, họ dùng chữ "Mê-Kông" để gọi tên con sông lớn với ý nghĩa "Kông" là sông,"Mê" là mẹ. Cách thức gọi những sự vật quan trọng, chính yếu là "Cái" có lẽ xuất phát từ nguồn gốc mẫu hệ xa xưa của cư dân Nam Á. Chính vì thế, từ này còn mang nghĩa phái sinh khác, "Cái" là chính, là giữa, là chủ yếu. Ví như "sổ cái" là sổ chính, "cửa cái" là cửa chính, "cột cái" là cột giữa, "đường cái" (hay đường cái quan) là đường lớn (ngược lại với tiểu lộ), "rễ cái" là rễ chính của cây, "cầm cái" hay "nhà cái" là người chủ yếu trong chơi cờ bạc, hoặc tục ngữ có câu "khôn ăn cái, dại ăn nước"…

Về sau này, xã hội loài người càng ngày càng xa dần nguồn gốc mẫu hệ xưa kia, có lẽ thế mà ý nghĩa của từ thuần Việt này cũng dần chuyển nghĩa. Theo ngôn ngữ hiện đại, "Cái" được sử dụng để chỉ những sự vật, hiện tượng, con người cụ thể, những việc được lưu ý. Cụ thể như gọi người thì : cái Hiền, cái Hạnh, cái Hoa…, gọi đồ vật thì : cái nhà, cái ghế, cái bàn, cái ly, cái chén…, gọi loài vật thì : cái cò, cái vạc, cái nông…, rồi còn cái tình, cái lý, cái đức, cái tài…, hoặc tiêu cực : cái đồ, cái thứ… và, "Cái" còn dùng để chỉ giới tính (chỉ phái tính chung, ngược lại với "đực") và được chuyển hoá trong nhiều trường hợp, nếu như ở người gọi là "gái" thì ở loài vật gọi là "nái" (heo nái, trâu nái), là "mái" (gà mái, vịt mái), hay vẫn là "cái" (cọp cái, sư tử cái)… đến mức độ này, thì ý nghĩa của "Cái" không còn lớn lao, chính yếu, trọng đại như ngày xưa nữa.

Đối với địa danh "Cái Tàu" bằng cách tiếp cận đầu tiên là sông Cái Tàu có thể giải thích "Cái" là cách dân gian gọi con sông chính (thậm chí là sông mẹ), vì hai bên tả ngạn và hữu ngạn có rất nhiều sông rạch nhỏ chảy về nhiều hướng, dẫn nước hoà vào hệ thống sông rạch nhỏ nằm chằng chịt ở xứ U Minh.

Còn "Tàu" là gì? nhiều người cho rằng tên gọi sông Cái Tàu vì trước đây sông này có nhiều tàu ghe neo đậu. Cách giải thích này tỏ ra không thuyết phục, vì ở đây từ lâu không hề có thương cảng, và vùng đất U Minh này từ xưa vốn hoang sơ, "khỉ ho, cò gáy", "đồng năn, chó ngáp", ít người lui tới, con sông này cũng không thuận lợi để vận chuyển hàng hoá vì nằm xuyên qua rừng già âm u, hiểm trở. Nếu có tàu ghe đến vùng đất Cà Mau thì chỉ có thể neo đậu tại cảng Đốc Huỳnh (Cửa sông Ông Đốc), hoặc Năm Căn. Vậy thì, "Tàu" có ý nghĩa gì?

Một số người lớn tuổi cho rằng, chữ "tàu" theo cách gọi trước đây chỉ những vùng nước lợ. Có tài liệu giải thích "tàu" có nghĩa là lạt. Ví dụ như món thịt kho tàu nghĩa là kho lạt, món ăn này có người cho rằng của người Trung Quốc, nhưng thực ra là món ăn của người Việt sáng tạo với nguyên liệu rất Việt Nam : gồm có thịt ba rọi, loại thịt có lớp da, lớp mỡ, lớp thịt kho với nước dừa, và thường có thêm trứng để ăn cho đỡ ngán. Món này thường gặp trong các dịp lễ tết, đám tiệc, là món chính để cúng ông bà tổ tiên. Hoặc trong những dịp đi buôn bán dài ngày, hoặc đi làm đồng, đi rừng... người ta thường mang theo ăn dần với cơm, vì có thể nhiều ngày không bị ôi thiu. Về món ăn này, giáo sư Trần Văn Khê có lần nói : "món thịt kho "tàu" hóa ra lại là  "ta" hoàn toàn, món Việt trăm phần trăm".

Qua tìm hiểu thì ở Đồng Tháp cũng có địa danh Cái Tàu, đó là Cái Tàu Hạ (huyện Châu Thành) và Cái Tàu Thượng (huyện Lấp Vò) là tên hai con sông ở Đồng Tháp. Hai con sông này nước lợ trong khi nhiều sông khác ở đây đều nước ngọt. Sông Cái Tàu ở U Minh (Cà Mau) có lẽ do được hoà lẫn bởi nước ngọt của sông Trèm Trẹm với nguồn nước mặn bên dòng Ông Đốc chảy qua rồi đổ ra Vịnh Thái Lan nên trở thành nước lợ, thứ nước lạt lạt, không mặn mà cũng không ngọt, được cư dân định cư sớm ở đây gọi là nước "tàu". Như vậy có thể giải thích nguồn gốc địa danh "Cái Tàu" đầu tiên là tên dòng sông chính (sông Cái) nước lợ của vùng U Minh.

Nguồn gốc địa danh Cái Tàu mang đậm màu sắc dân gian và lưu lại nhiều dấu tích của lưu dân thời kỳ khai phá vùng đất phương Nam. Địa danh này còn gắn liền với cuộc nổi dậy chống giặc Pháp của hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự vào cuối thế kỷ 19, đó là những năm sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ.

Theo một số tài liệu và chuyện kể thì Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự là con trai của ông Đỗ Văn Nhân (ông này là cử nhân dưới truyền Nguyễn). Vào năm 1872, hai anh em họ Đỗ đã chiêu mộ nghĩa quân tại làng Khánh An để tổ chức nổi dậy khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Cuộc chiến đã diễn ra ác liệt tại vàm sông Cái Tàu và kéo dài được khoảng 3 năm. Nghĩa quân của anh em họ Đỗ đã thắng nhiều trận lớn, thu nhiều vũ khí của địch, giết và bắt sống nhiều tù binh. Tuy nhiên, do thế cùng lực kiệt, đến giữa năm 1875 thì không chịu nổi sức đàn áp của giặc Pháp, cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự bị giết vào ngày 3/8/1875. Hiện nay, mộ của hai ông[3] vẫn được con cháu dòng họ Đỗ chăm nom và có tổ chức cúng giỗ hàng năm.

Điều cần lưu ý là cuộc khởi nghĩa này có hàng trăm nghĩa quân và hào kiệt các nơi tập hợp về để tham gia, trong đó có sự tham gia của Trương Quyền, con trai của Bình Tây Đại Nguyên Soái - Trương Định. Trương Quyền là người chỉ huy "Đội quân anh hai" trong Khởi nghĩa Trương Định tại Gò Công (Tiền Giang) và hai người con trai của cụ Phan Thanh Giản ở Bến Tre là Phan Tôn (tự là Quý Tướng) và Phan Liêm (tức Phan Thanh Liêm). Sau khi thân phụ tuẫn tiết, hai ông khởi binh chống Pháp ở Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc (1867 - 1870) và bí mật đến rừng U Minh góp sức cùng họ Đỗ khởi binh.

Cuộc khởi nghĩa của Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự tuy thất bại nhưng đã gây tiếng vang lớn ở nhiều nơi, làm cho giặc Pháp khiếp sợ, phải huy động nhiều lực lượng để đàn áp. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm của người dân Việt Nam ở mảnh đất cuối trời Tổ quốc vào thời kỳ tiền cách mạng.



[1] Thời gian Nguyễn Ánh bôn tẩu khoảng năm 1777 đến 1802, đã đến nhiều nơi ở đất Cà Mau, hiện nay còn dấu tích qua các địa danh và truyện kể lưu truyền trong dân gian.

[2] Nguyễn Dược - Trung Hải, Sổ tay địa danh Việt Nam, Hà Nội, Nxb Giáo dục, 2001, 279tr.

[3] Mộ của hai ông Đỗ Thừa Luông và Đỗ Thừa Tự hiện nay vẫn còn tại xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau.

Cập nhật ( 30/11/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online