Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Hà Tiên một cõi thơ (Nguyễn Hữu Hiệp)
Hà Tiên một cõi thơ (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
19/06/2013

HÀ TIÊN, MỘT CÕI BIÊN THÙY MỘT CÕI THƠ

* Nguyễn Hữu Hiệp

Cách nay vừa tròn 270 năm, sau khi Mạc Cửu từ trần, Mạc Thiên Tích thừa hưởng võ công khai cương lập ấp của cha, được phong Đô đốc Tổng binh, ông nghĩ nay đến việc chấn hưng văn hiến, xúc tiến thành lập hội tao đàm Chiêu Anh Các – 1736.

Chiêu Anh Các là tao đàn thứ hai trong lịch trình văn học Việt Nam. Không như tao đàn Nhị thập bát tú của vua Lê Thánh Tông ngày trước (các tao nhân chỉ xướng hoạ, bình phẩm thư văn), mà nó được lập ra với nhiều mục đích hoạt động rất thiết thực, vừa tập hợp các thi nhân vịnh ngâm phong cảnh cho thỏa tình văn nghệ; vừa là một văn miếu tôn thờ đức “Vạn thế sư biểu” Khổng Phu Tử, tứ phối và thập nhị hiền; lại cũng là “nhà nghĩa học, tuyển chọn con em tuấn tú, cùng là học trò nghèo khó đều đem về truyền dạy. Những người Hán đến ở trong nước mà thông hiểu kinh sử thì đón vào làm thầy dạy. Cho nên con em đều hay giỏi cả” (sách Thanh văn hiến thông khảo do sử thần người Tàu viết dưới triều nhà Thanh). Chính vì vậy mà xứ Hà Tiên “gần thì Đàng Trong, Đàng Ngoài thưởng thức ca tụng, xa thì Trung nguyên nô nức tham gia”!

 

Dựng nên được một tao đàn tập hợp ngót “tam thập lục kiệt” trong xứ và hải ngoại như thế đủ chứng tỏ Mạc Thiên Tích không chỉ là bậc võ công hiển hách mà còn hữu đức đa tài, văn chương trác tuyệt.

Ông Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) cho biết, lúc 20 tuổi ông đã trông thấy 6 tập sách, gồm 3 tập truyện và 3 tập thơ của thi phái Chiêu Anh Các xuất bản, lưu hành là: Hà Tiên thập cảnh toàn tập, Minh bột di ngư thi thảo, Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Châu thi trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng lưu tiết phụ, và Thi thảo cách ngôn di tập (Lời tựa sách Minh bột di ngư thi thảo do chính ông tìm được và cho trùng bản năm 1821). Trong số ấy nay đã thất lạc gần hết, duy chỉ hai tập Hà Tiên thập vịnhMinh bột di ngư là còn lưu truyền đến ngày nay.

Nội dung các tác giả, nếu hầu hết tao nhân vừa tôn vinh phong cảnh, con người đáng yêu ở Hà Tiên, vừa qua đó ký thác tâm sự thì, nguyên súy Mạc Thiên Tích không thể không tỏ bày tư tưởng, chí khí mình, quyết không khuất phục trước bao áp lực nặng nề về thiên tai, địch hoạ. Nó hiển nhiên là cả một kho trước tác khá đồ sộ, góp phần rất đáng kể trong việc khơi nguồn dòng chảy văn học phương Nam, làm giàu thêm ra cho văn học cổ nước nhà.

Mạc Thiên Tích đã chọn 10 thắng cảnh xung quanh trấn lỵ Phương Thành – Hà Tiên để làm đề tài cho thi phái vịnh hoạ. Đó là Kim Dữ lan đào (đảo Kim Dữ chắn sóng); Bình San điệp thúy (dãy Bình Sơn chập chùng màu xanh biếc); Tiêu Tự thần chung (tiếng chuông sớm chùa Tiêu Tự); Giang Thành dạ cổ (tiếng trống đêm ở Giang Thành); Thạch Động thôn vân (hang đá nuốt mây); Châu Nham lạc lộ (cò đậu trên núi Châu Nam); Đông Hồ ấn nguyệt (trăng chiếu Đông Hồ); Nam Phố trừng ba (sóng lặng trong ở bến Nam Phố); Lộc Trĩ thôn cư (xóm thôn ở núi Lộc Trĩ); Lư Khê nhàn điếu (câu ở Lư Khê khi nhàn rỗi).

10 bài thi xướng của Mạc Thiên Tích vừa trình ra, tức thì văn nhân kẻ xa người gần cảm nhận hưởng ứng, đua nhau họa lại có đến mấy trăm bài. Một hiện tượng văn học thật đẹp, và hãn hữu!

Đọc Hà Tiên thập vịnh tập, ông Phan Huy Chú khen: “Những thơ trong tập đều êm ái, xinh đẹp đáng học; Thiên Tích là người có học vấn, phong lưu tài hoa, cả vùng ấy đều coi trọng” (Lịch triều hiến chương loại chí). Ông Trịnh Hoài Đức cho biết thêm: “Gần xa các sĩ phu đọc từng bài, thưởng thức và thán phục. Dầu ở tận cõi Nam thuỳ, Hà Tiên cũng nhờ đó mà trở thành trời Trâu, đất Lỗ, nổi dậy tiếng tăm” và “đương thời người ta khen là vị bồ tát xuất thế” (Gia Định thành thông chí). Ông Lê Quí Đôn phát biểu mang tính kết luận: “Xem đó chúng ta không nên bảo ở ngoài miền biển không có văn chương vậy” (Phủ Biên tạp lục). Phải đâu chỉ bấy nhiêu! Người ta còn ghi nhận nào Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu, và cả những tác giả nước ngoài như  Pie-Poa-vrê, A. Ha-min-tơn, Gas-pac-dông… tất cả đều tỏ tấm lòng rất trân trọng đối với tao đàn Chiêu Anh Các cả văn hóa và vũ công, văn chương và vũ lược!

Nhưng đó là Hán thi. Mà đã là Hán thi thì, như nhận xét của ông Đông Hồ: “Làm sao mà chúng ta khỏi có một cảm tưởng chung như nhau và tự nhủ thầm: Hay thì hay nhưng mà nghe nó Tàu quá!”. Vã lại sáng tác bằng chữ Hán thì số người cảm nhận được sự thâm thuý của những bài thơ xướng hoạ ấy, hẳn nhiên rất hạn hẹp. Là người đứng đầu Hà Tiên trấn, hơn ai hết Mạc công biết rất rõ điều đó. Với tầm nhìn rộng, óc tổ chức khéo léo, sắc sảo ông không thể không nghĩ đến việc “lợi dụng tiếng Nôm để làm phương tiện tuyên truyền, để làm lợi khí phổ biến cho việc chính trị, kinh tế”… “để cho tiếng nói của chính quyền mới thâm nhập vào lòng nhân dân quần chúng, để cho người dân, nhân yêu thích văn chương mà cảm mến hoàn cảnh địa phương mà ủng hộ quy phụ công việc làm của người lãnh đạo” (1). Chính vì thế ông đã không quên làm thêm tập thơ Nôm (tiếng Việt) Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh – cũng ca vịnh 10 cảnh đẹp ấy, hầu phổ biến rộng hơn trong nhân dân lao động, bởi họ là những người đã cùng ông tích cực xây dựng và bảo vệ xứ Hà Tiên ngày càng phong quang, giàu đẹp, làm cho:

                   Gấm vóc non sông một dãy liền,

                   Từ Nam Quan suốt đến Hà Tiên…

                                                (Thơ xưa)

Toàn tập gồm 334 câu, trong đó chưa kể 10 bài thơ luật Nôm (10 x 8 = 80 câu) sau mỗi cảnh vịnh, và một bài “Tổng vịnh”, vị chi 422 câu vừa lục bát gián thất, vừa Đường luật bát cú, liên hành.

Với khuôn khổ một bài viết nhỏ, người viết chỉ xin được phép ghi lại một đoạn trong Tuy Tĩnh Tử tạp ngôn của Doãn Uẩn (1795 – 1848) để chúng ta cùng cảm nhận được rằng, thơ Mạc Thiên Tích không chỉ là món  ăn tinh thần mà hơn thế nữa, nó còn là “thức nhắm” cho những người lính bảo vệ Hà Tiên:

“Mùa thu năm ngoái ta vâng kiếm lệnh của nhà vua đi dẹp giặc cỏ ở nơi sơn cùng thuỷ tận, nhân đó có dịp tới Hà Tiên. Cảnh vẫn còn đó mà người xưa đâu tá? Vừa rời khỏi yên ngựa, áo vẫn nồng khói đạn, lưng vẫn nặng trĩu gươm lệnh, chưa kịp nhắp chén rượu tẩy trần, ta đã hạ lệnh cho tướng sĩ mau dâng lên Hà Tiên thập cảnh đề của cố Mạc tướng công…

Mùa thu, nửa đêm, trời không trăng sao… Ta quên ăn quên ngủ đọc liền một mạch. Mắt có nhìn thấy cảnh vật đâu, nhưng qua thơ Mạc tướng công, cảnh vật cứ như hiển hiện trước mắt mình.

Bấy giờ là nửa đêm chăng, ta không nhớ kỹ nữa vì thơ và rượu làm lòng người say ngây ngất, ta đương trầm ngâm đọc Trống đêm ở Giang Thành của Mạc tướng công, trong thư phòng của chính người xưa. Cũng chính bấy giờ, từ đồn canh Giang Thành, trống quân báo giặc tới bỗng thúc lên từng hồi… Ta vốn cúc cung tận tụy vì mệnh vua, vội tiếc rẻ gài thơ hay vào bao gươm lệnh, rồi cùng tướng sĩ lên mình ngựa xông pha vào chốn lằn tên mũi đạn mà dẹp tan bọn giặc cỏ ngu si mê cuồng…

Tiệc rượu khao quân cử ngay trước trần tiền, ngay bên gò đống xác giặc. Tướng sĩ nói:

– Rượu ngon. Giá có đồ nhắm thì tuyệt!

– Sực nhớ, ta cười ha hả, rút bài thơ hay trong bao gươm lệnh ra, sang sảng nói:

– Thức nhắm đây!  Rồi sang sảng đọc lớn bài Trống đêm ở Giang Thành của Mạc tướng công. Tướng sĩ ngồi im phăng phắc lắng nghe, quên cả rượu trước mắt và “đồ nhắm” ở đâu đâu. Đọc xong, ta nói: Thơ hay phải nói cái thực; đã là thực thì thành thơ hay ngay! Đó, ta và các người, những cái thực, đang là bài thơ hay mà người xưa miêu tả…” (2).

Ở chiến trường, thơ Mạc nguyên súy gây phấn chấn tinh thần cho binh sĩ trong việc giữ gìn cõi bờ như thế thì, về phương diện ổn định đời sống nhân dân, Mạc công thiết dựng thành công một “xã hội đã sống hòa bình an lạc như vậy, thì cũng gọi được là một xã hội hoàng kim, cảnh thanh cõi lạ. Người dân sống trong một tổ chức cách biệt, độc lập ngoài một tương quan tranh chấp, ngoài mọi mâu thuẫn xung khắc, y như người dân thở tránh loạn đời Tần, vào biệt lập một xã hội Đào nguyên, sống một đời sống lý tưởng. Được như vậy thì không có tổ chức xã hội nào so sánh cho hơn được (3).

Nói chung, nhờ có Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh làm bằng quốc âm mà thơ của Mạc Thiên Tích dễ hiểu, dễ thuộc, nên nó đã thâm nhập khá rộng trong quần chúng qua con đường truyền miệng. Chính vì thế mà các cụ ở Hà Tiên ngày trước nếu không thuộc nhớ toàn tập thì, chí ít cũng ngâm nga được bài Tổng vịnh:

                   Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình

                   Non non nước nước gẫm nên xinh

                   Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy

                   Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh

                   Tiêu Tự, Giang Thành chuông trống ỏi

                   Châu Nham, Kim Dữ cá chim quanh

                   Bình San, Thạch Động là rường cột

                   Sừng sựng muôn năm cũng để dành.

Hà Tiên đã phải trải bao phen binh lửa, nhưng rất may mắn là tập thơ Nôm này không tiêu mất vì nhờ được dân gian nhớ, thuộc. Và, nếu chúng ta không lầm thì Đông Hồ tiên sinh chính là người có công sưu tầm, công bố tập thơ Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh này.

Nay nhân kỉ niệm 270 năm tao đàn Chiêu Anh Các (1736 - 2006); 300 năm ngày sinh Mạc Thiên Tích (1706 - 2006); và 100 năm ngày sinh Đông Hồ (1906 - 2006), chúng ta tưởng nhớ công đầu các văn nhân khả kính đã cống hiến không nhỏ trong việc khơi nguồn dòng chảy văn học Hà Tiên của phương Nam, để “Hà Tiên đẹp đến mức không chỉ tạo ra thơ mà còn sản sinh ra nhiều nhà thơ từ các thành viên Chiêu Anh Các đến Đông Hồ…” đúng như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã hơn một lần tôn vinh, ca ngợi.

_______________________ 

 (1), (3) Đông Hồ, Văn học Hà Tiên, Nxb. Văn nghệ TP. HCM, 1996.

             (2)heo Hà Văn Thùy, Tao đàn Chiêu Anh Các qua những trang sách cũ, in trong sách 250 Tao đàn Chiêu Anh Các, Sở VHTT Kiêng Giang, 1987.


Phong cảnh Hà Tiên – Núi Bình An. Ảnh cartes postale: Trần Lam

 

Phong cảnh Hà Tiên – Động Mo So. Ảnh cartes postale: Trần Lam

 

Nhà thơ Đông Hồ (1906 – 1969)

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online