Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Phải giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Nam bộ (Nguyễn Hữu Hiệp)
Phải giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Nam bộ (Nguyễn Hữu Hiệp) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Hữu Hiệp   
02/07/2013

PHẢI GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA NGÔN NGỮ NAM BỘ

* Nguyễn Hữu Hiệp

Ngôn là tự nói với mình, ngữ là nói với người khác. Cũng như người Nam Bộ, ngôn ngữ Nam Bộ rất chân quê, giản dị, nhưng lại phong phú, đa dạng. Phong phú và đa dạng đến mức không tài nào có thể kể ra hết được cả trăm, thậm chí nhiều trăm từ – tiếng riêng biệt, mà mới nghe, người ta tưởng như dân gian đã sử dụng tuỳ tiện, hoặc quá thừa, không cần thiết! Song, nếu để tâm tìm hiểu mới nhận ra rằng, ở mỗi trường hợp, mỗi tình tiết, dân gian đã sáng tạo ngôn từ rất tinh tế, rất hình tượng và cũng rất chính xác. Về phương diện này, đôi khi chính “người Nam Bộ ngày nay” cũng chưa chắc đã thấu hiểu hoàn toàn ý nghĩa cụ thể của từng từ, cụm từ.

 

Đơn giản vì người ta đã hoặc vô tình, hoặc cố ý xem thường thứ ngôn ngữ ấy! Người đọc thỉnh thoảng vẫn bắt gặp đó đây những cách giải thích từ, ngữ rất tuỳ tiện, hoặc nhận định, xem xét sự kiện rất hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn óc” mà còn dẫn đến sai lầm nghiêm trọng.

Như thế quả là tai hại, bởi nó không thể không gây xáo trộn kiến thức, tạo sự hoang mang và hoài nghi cho người đọc. Thí dụ có người đã giải thích câu “Một trái cà bằng ba thang thuốc” là: cà rất độc, ăn một trái thì phải uống ba thang thuốc mới trị hết bệnh! Lẽ nào lại như thế khi mà bất cứ nơi nào trên đất nước ta, nhân dân cũng đều ưa chuộng trái cà? Ca dao:

                   -        Ba cơm, bảy mắm, chín cà,

                      Sớm trưa, mưa nắng mới ra lúa này.

 

                   -        Lộc đỗ cho chí lộc vừng,

                      Quả cà, vại nhút, quả sung để dành.

 

                   -        Đẩy nốc thì phải có đà,

                      Ăn cơm canh hến có quả cà mới ngon!

Cà là món ăn thường bữa rất thân thiết:

                   -        Anh đi… lại nhớ quê nhà,

                      Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

 

                   -        Làm cho lắm cũng mắm kho cà,

                      Làm thấy bà cũng cà kho mắm!

 

                   -        Sớm mai, đi dạo vườn cà,

                      Cà non chấm mắm cà già làm dưa,

                      Làm dưa ba bữa dưa chua,

                      Chị kia xách giỏ lại mua ba đồng,

                      Ba đồng mắc lắm chị ơi,

                      Cho thêm miếng nữa ăn cùng bữa cơm!

Rõ ràng, từ cổ chí kim, từ Nam chí Bắc bữa chay hay bữa mặn… cà tròn và cà dài (tức cà tím hay cà dái dê) đều là thức ăn bổ dưỡng, rất quen thuộc của nhân dân (cũng là vị thuốc có giá trị, chữa được khá nhiều bệnh). Thế, sao lại bảo cà độc?!

Giải thích tuỳ tiện có khi còn làm mất đi cái hồn của ngôn ngữ, làm hoen ố sự trong sáng vốn có của tiếng Việt đáng yêu. Đơn cử như có một cuốn sách được xem là “tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập trong các trường đại học”, đã giải thích: “Nước rong: nước cạn. Nước ròng: nước lớn”!

Một sách khác đã giải thích chữ buôi (trong câu “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược”) là “bơi”. Tiếng Nam Bộ xưa”! Ta biết, cá buôi là một loại cá cụ thể, quê hương của nó không chỉ khu biệt ở Nam Bộ, mà còn có nhiều ở những nơi khác (nay rất hiếm). Đó là “thứ cá sông tròn mình, nhỏ con mà có nhiều mỡ” (Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị). Ca dao:

                 “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,

                 Nước chảy ngược con cá vược lội xuôi,

                 Anh với em xa cách ngậm ngùi,

                 Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng”.

Hoặc:      

                 “Ngó lên trời thấy cục mây bạch,

                 Ngó xuống vàm rạch thấy cá chạch đỏ đuôi.

                 Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,

                 Nước chảy ngược con cá vược lội theo.

                 Con cá heo nó khóc,

                 Con cá lóc nó sầu…

                 Phải chi ngoài biển có cầu,

                 Anh ra đến đó giải sầu cho em”.

Và :         

                 “Năm tiền một khứa cá buôi,

                 Cũng mua cho đặng đãi người khách sang”.

Hoặc:      

                 “Ba tiền một khứa cá buôi,

                 Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già”.

Vậy là đã quá rõ ràng, cá buôi là giống cá nào rồi, đâu phải “cá bơi”! (xin đừng đổ vạ cho “ngày xưa”!).

Ở một chỗ khác, tác giả sách đã dẫn, nêu câu ca dao:

                 Con cút cụt đuôi ai nuôi mầy lớn?

                 - Dạ thưa bà con lớn, bà nuôi?

Lại chú thích rằng: Có kẻ đã bẻ lại vế này ra “Dạ thưa bà con lớn mình con” và cũng đã bị mắng rằng “Cái đồ ở dưới lỗ nẻ chui lên”.

Câu này, nếu cho là “dị bản” thì chẳng đáng chuyện phải bàn, nhưng ở đây nó bị hiểu là “có kẻ đã bẻ lại”. Thực ra, nói như vậy không thỏa đáng. Chúng ta đều biết ngày xưa, dân Nam Bộ xưng hô với người trên là “tui” chứ không xưng là “con”, “em”, “cháu” như khoảng 5 – 70 năm trở lại đây. Câu ấy đúng là “Dạ thưa bà tui lớn mình tui” hoặc “Dạ thưa thầy tui lớn mình ên”. Và nếu không nghiên cứu kỹ sẽ không thể nào hiểu nổi cái lý tại sao “tui lớn mình tui” được! Cốt lõi của nó là “con cút” (chứ không phải con vật nuôi nào khác), lại là “con cút cụt đuôi”! Nếu có để tâm, đặc biệt chú ý hai yếu tố: vật nuôi và cụt đuôi (khuyết tật), rồi liên tưởng đến quy định về tế lễ của đời xưa, đồng thời tìm hiểu cho “thật tới” nguyên lý cấu trúc thi pháp của ca dao Nam Bộ, mới thấy hết cái độc đáo của sự kiện, và không thể không nghiêng mình bái phục trí tuệ dân gian.

Thế mới biết sẽ thật là nhạt nhẽo, thậm chí vô vị khi cho rằng “con lớn, bà nuôi”! – Ai bẻ ngược lại làm cho hư mất cái chân ý câu ca dao tuyệt vời này? (Hỏi tức trả lời).

Không cần dẫn chứng thêm chi nhiều, chỉ “đơn cử” một vài như thế tưởng cũng đã quá đủ. Chính vì vậy mà các nhà văn, nhà thơ, các nhà biên soạn, nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ bao giờ cũng tỏ ra trân trọng, luôn ý thức gìn giữ tính tích cực vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang sử dụng và phát triển.

Phát biểu một cách tùy tiện như thế, vô hình trung sẽ làm nghèo đi ngôn ngữ, nếu không muốn nói là hành vi phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp thế hệ cha ông – những người đã phải bươn chải trong quá trình lao động, tranh đấu gian nan – để rồi từ cuộc sống đời thường, mới lần lượt sáng tạo ra cả một kho tàng ngôn ngữ phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta. Thế thì lẽ nào ta lại phụ phàng, ngoảnh mặt?

Ngôn ngữ – tiếng nói, được dân gian dùng làm phương tiện giao tiếp. Tùy từng thời và theo trào lưu tiến hóa, nó không thể không biến đổi cùng với việc bổ sung thêm mãi cho thích ứng. Ở đó, có không ít từ/ tiếng người nay ít dùng, thậm chí không còn dùng. Chúng đã vui lòng yên nghỉ, nhưng thiết tưởng cũng nên có cái nhìn trìu mến, bởi dù sao nó cũng đã hoàn thành chức năng vẻ vang trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Thế thì nỡ nào ta lại không quý trọng, không có tấm lòng đối với cái di sản phi vật chất cao cấp ấy?

Thật là khập khiễng khi mà ai nấy chỉ biết quý trọng những di sản vật chất. Thí dụ như những pho tượng cốt được người xưa chạm khắc rất ngô nghê, hoặc những chum lọ, nồi trách, bình vôi sức quai, mẻ miệng, thậm chí chỉ là những mảnh vỡ cũng được đưa vô bảo tàng, hoặc dựng cất mái che để bảo vệ, trưng bày những viên gạch lùi xùi vốn chỉ là đất nung!

Thật đáng quý biết bao khi được biết, cho đến ngày nay, dù đã trải mấy nghìn năm kể từ thuở loài người phát minh ra giấy viết, tức không còn phải “đề thơ trên lá” nữa, mà ngành báo chí Việt Nam vẫn dùng “Lá thư Tòa soạn” để trao đổi với bạn đọc của mình! Còn dân gian thì vẫn gọi vật “chỉ thời gian” là đồng hồ trong khi vật ấy không còn chút dấu vết nào của đồng, của hồ như xa xưa. Tinh thần bảo tồn ấy rất đáng ghi nhận, tuyệt vời!

Ngôn ngữ/ tiếng nói của Nam Bộ đích thực là mộc mạc, chân quê, nhưng đó là thứ mộc mạc chân quê rất đích xác, rất thiêng liêng của người Việt Nam – mà không đâu có được. Và có lẽ cũng rất khó tìm thấy ở các dân tộc khác sự phong phú “trên cả tuyệt vời” đến thế! Chẳng hạn như để mô tả trạng thái của nước, ngôn ngữ Nam Bộ có đến hàng chục khái niệm: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đầy mà, nước rặt, nước nhửng, nước nhảng, nước ưng, nước quay, nước lên, nước đổ, nước lộn, nước dâng, nước bò, nước sụt, nước trồi, nước mội, nước xẹt, nước lụt, nước tống, nước chụp, nước phân đồng.

Hoặc như nói về cái chết của con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm cách nói, mà cách nào cũng có hàm ý riêng như: mất, qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”, ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh dũng hi sinh, đền xong nợ nước, ly trần, tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh, Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế giới, về cõi vĩnh hằng, trở về cát bụi v.v. và v.v.

Rồi thì cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười… mỗi mỗi hầu như người Nam Bộ nào cũng sẵn có “cả kho”, ít gì cũng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn – từ nào cũng mang ý nghĩa riêng, biểu tỏ rất hình tượng, chân xác, đồng thời thể hiện đúng tâm trạng động thái của nhân vật, ngay cả tại “thời điểm khoảnh khắc”. Nó phong phú đến mức không tài nào có thể ghi lại được một cách đầy đủ – cho dù là tương đối!

Không ai có thể phủ nhận rằng, tiếng Việt miền Nam là tiếng/ giọng/ cách nói (và cả cách viết) chính thức từ bao đời nay của người Việt ở miền Nam.

Trong trường hợp cần thiết phải phân biệt rõ ngọn nguồn, cho rằng tiếng Việt miền Nam là tiếng địa phương, vì đó là thứ tiếng có không ít từ khá riêng và với cách phát âm cũng rất riêng của người miền Nam thì, để công bằng, thiết tưởng cũng phải hiểu như thế đó đối với tiếng Việt miền Bắc, tiếng Việt miền Trung. Bởi lẽ, trước hết và chung nhất, tiếng ở từng miền đều là tiếng Việt Nam, đều là một miền trong 3 miền của một Tổ quốc, một dân tộc (“Kinh”), một lịch sử (hàng ngàn năm văn hiến). Và xét rộng hơn, cách hiểu tiếng của một miền là tiếng địa phương e không còn thật sát đúng. Đơn giản vì hiện nay nó không chỉ được dùng trong quan hệ giao tiếp nội bộ, tức không còn khu biệt tại một địa phương cụ thể nữa, mà đã lan truyền phạm vi rất rộng, cả với người ngoại quốc – hàng triệu người Việt Nam Bộ đang định cư rải rác tại các quốc gia trên thế giới đều đang sử dụng tiếng Việt miền Nam!

Vậy thì, trong điều kiện đất nước đã được thống nhất (Nam Bắc một nhà – “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…”), thiết nghĩ, để ổn thoả nhất, chúng ta không nên tiếp tục hiểu tiếng của một miền (miền Nam, miền Trung, miền Bắc) là tiếng địa phương, mà phải hiểu toàn bộ đều là TIẾNG VIỆT.

Điều này chẳng những hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến công cuộc chuẩn hóa tiếng Việt, và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mà nó còn làm cho phong phú thêm hơn (tiếng Việt, nhất là tiếng Việt miền Nam vốn cực kỳ phong phú), và hẳn nhiên nó sẽ đánh tan được sự mặc cảm tự ti/ thành kiến giữa người miền này với người miền khác, dẫn đến thiếu chân tình với nhau trong quan hệ giao tiếp và đối nhân xử thế. Đó là điều không thể tránh khỏi, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình đoàn kết, sự hợp tác phát triển. Có thể nói duyên do của vấn đề chính là âm mưu thâm độc “chia để trị” của thực dân Pháp trước đây.

Đã nói “dân tộc” Việt Nam là một thì tiếng của dân tộc Việt Nam cũng phải là một – tất nhiên “tiếng” đề cập ở đây là “tiếng phổ thông”. Đồng bào các dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ riêng của mình nhưng trong giao tiếp với cộng đồng lớn của xã hội, họ cũng vẫn thấy cần thiết phải sử dụng thống nhất tiếng Việt phổ thông. Do vậy nhất thiết nó phải được chuẩn hóa, ở đó tiếng Việt miền Bắc (vùng đồng bằng sông Hồng, mà cụ thể là tiếng Việt vùng Hà Nội) về đại nét rất xứng đáng là đại biểu bởi đất và người nơi ấy, từ bao đời nay đã được xem là cái nôi của dân tộc, là trung tâm văn hóa và thủ đô nghìn năm vật của đất nước. Tuy nhiên không vì thế mà quá cứng nhắc để rồi phủ nhận những giá trị ưu việt/ độc đáo tiếng (ngữ) của các miền khác, nhất là không nên áp đặt theo ý kiến chủ quan, cục bộ, mà cần phải tôn trọng truyền thống, kể cả thói quen và ý thích của nhân dân, bởi nhân dân là người sáng tạo ra tiếng nói, ngôn ngữ. Tiếng nói/ ngôn ngữ ấy đã được cộng đồng thống nhất sử dụng như một quy ước từ rất lâu đời để nhằm biểu lộ tình cảm, truyền đạt, bày tỏ… Một khi nhân dân vẫn còn sử dụng nó trong giao tiếp, tha thiết với nó, vẫn yêu mến nó mà ai đó lại có ý kiến muốn thay đổi hẳn, đương nhiên không phải là chuyện dễ dàng, nếu không muốn nói là không tưởng! Thí dụ như đối với những người theo đạo Phật, từ bao đời nay họ đều/ vẫn niệm tụng “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô bổn sư Thích Ca mâu ni Phật” thì không thể bắt họ niệm sửa lại: “Nam mô Phật A Di Đà”, “Nam mô Bụt bổn sư Thích Ca Mâu ni” hay “Nam mô bổn sư Thích Ca mâu ni Bụt”!

Nói tóm, việc chuẩn hóa tiếng Việt phổ thông phải được thống nhất cân nhắc tinh chọn hài hòa dựa trên những tiêu chí hợp lý nhất định.

Trước đây người ta cho rằng tiếng nói của Nam Bộ là phương ngữ, không hơn không kém, xem như chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ. Rõ ràng ít nhiều có ý “phân biệt”, xem thường! Nhưng về sau, khi đã nhận chân được tiếng Việt ở Nam Bộ quả đã thực sự đóng góp rất tích cực trong việc làm giàu thêm cho ngôn ngữ toàn dân thì, cách hiểu mang tính cục bộ ấy không còn phù hợp công bằng, nên đã đổi gọi lại, không dùng phương ngữ Nam Bộ mà gọi là ngôn ngữ Nam Bộ.

Đúng thế, bởi hiện nay, với sự xen cử, giao thoa văn hóa của tộc người Việt ở cả 3 miền, và nhất là do khách quan từ các phương tiện truyền thông đại chúng, về phương diện “ngữ”, nếu chúng tôi không lầm, dường như cái gọi là “thổ ngữ”, “phương ngữ” hay “bán phương ngữ” không còn là vấn đề nữa, mà cần nhìn nhận đó là ngôn ngữ nhân dân, bởi nó không còn là những thuật ngữ khu biệt ở một địa phương cụ thể nào. Suy cho cùng về tổng thể, từ Thuận Hóa trở ra Bắc là phương ngữ Bắc Bộ; từ Quảng Nam trở vào là phương ngữ Nam Bộ. Tiếng nói miền Nam không chỉ phổ dụng toàn Nam Bộ và Nam Trung Bộ mà còn lan toả ra khắp nước, thậm chí không còn xa lạ đối với một số nơi trên thế giới như đã có nói ở trên.

Ngôn ngữ Nam Bộ là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn ngữ, là người sử dụng, giữ gìn và phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu vì lý do nào đó, ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt thì một ngày không xa, đương nhiên nó sẽ teo tóp dần, lúc ấy ta còn gì trong tay để “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”?

Hồ Chí Minh từng nói như lời căn dặn: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”.

Cập nhật ( 02/07/2013 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online