Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Kiến trúc Phật giáo Việt Nam (Chu Minh Khôi)
Kiến trúc Phật giáo Việt Nam (Chu Minh Khôi) PDF In E-mail
Người viết: Chu Minh Khôi   
02/07/2013

Kiến trúc Phật giáo Việt Nam từ tháp đến thượng điện

* Chu Minh Khôi

Tháp chùa thời Lý Tháp là hình tượng biểu trưng của Phật giáo ở dạng kiến trúc, hình thành ngay từ thuở Phật giáo nguyên thủy. Khởi nguồn từ truyền thuyết: Trước khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn, các môn đệ hỏi ngày sau lấy gì để tưởng nhớ Phật? Phật tổ gấp tấm áo cà sa đặt xuống mặt giường, úp chiếc bát lên, cắm tiếp cây gậy lên trên nữa. Sau này các môn đệ dựa theo hình ảnh Ngài dạy bảo để xây tháp, đặt Xá lợi vào. Những bảo tháp cổ ở Ấn Độ chính là nơi hàng năm các Tăng Ni, Phật tử kinh hành vòng quanh để tưởng niệm Đức Phật.

 

Khi Đạo Phật lan truyền rộng khắp châu Á, tháp Phật phát triển thành muôn dòng chảy văn hóa kỳ vĩ. Từ sơ khởi là nơi chứa xá lợi Phật tổ đã trở thành biểu tượng Phật pháp, tượng trưng cho Phật tính. Mỗi ngôi chùa sơ khởi đều bao gồm 2 công trình kiến trúc riêng biệt: tháp là nơi để Tăng Ni Phật tử tưởng niệm Phật (chức năng tương tự như tòa Tam bảo của thượng điện ngày nay trong hệ thống chùa chiền miền Bắc); tịnh xá là nơi để ở và thuyết pháp của các Tăng Ni. Phật giáo tại mỗi quốc gia đã sáng tạo ra những kiểu hình kiến trúc tháp Phật khác nhau: nơi mô phỏng hình quả chuông; nơi tạo tác thành hình quả bí; nơi mô phỏng cây lọng nhiều tầng; có nơi lại xây bảo tháp giống như trụ thu lôi cao vút. Ở Myanmar, người ta khoét rỗng phần đế tháp, biến thành tòa Tam bảo đặt trong lòng tháp. Người Indonesia đã khuếch trương quy mô tháp Phật lên thành cả một kho tàng đồ sộ chứa tượng Phật, kinh kệ.

Chùa Bút Tháp(Bắc Ninh)

Lần theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, cho thấy nhiều ghi chép về việc triều đình nhà Lý xây dựng những tòa bảo tháp quy mô đồ sộ, điển hình là các ngôi tháp: tháp Báo Thiên, tháp Tiên Du, tháp Chương Sơn, tháp Long Đọi. Năm Đinh Dậu, đời vua Lý Thánh Tông (1057), mùa xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên, cao vào chục trượng, 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên). Năm Bính Ngọ, đời vua Lý Thánh Tông, Long Chương Thiên Trị năm thứ 1 (1066), mùa thu, tháng 9, sai lang tướng là Quách Mãn xây tháp ở núi Tiên Du (tức ở chùa Phật Tích - Bắc Ninh ngày nay). Đời vua Lý Nhân Tông, Ất sửu, Tống Sùng Ninh năm thứ 4 (1105), mùa thu tháng 9, làm 2 ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột ngày nay) và 3 ngọn tháp chỏm đá ở chùa Lãm Sơn (tức chùa Dạm ở Bắc Ninh ngày nay). Năm Đinh Dậu, đời vua Lý Nhân Tông (1117), tháng 3, ngày Bính Thìn, vua ngự đến núi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện. Năm Nhâm Dần, đời vua Lý Nhân Tông, Tống Tuyên Hòa năm thứ 4 (1122), tháng 3 ngày Mậu Dần, mở hội khánh thành bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh ở núi Đọi.

Sử sách ghi chép như vậy, nhưng ngày nay trên đất nước ta không còn lưu giữ được tòa tháp nào của thời Lý, mặc dù nhiều ngôi chùa thời Lý giờ đây vẫn còn là những danh lam thắng tích. Ngôi bảo tháp thời Lý lừng danh nhất, cũng là một trong “Thiên Nam tứ đại khí”, đó là tháp Báo Thiên, tên chữ là Đại Thắng Tư Thiên, hay Sùng Khánh Tư Thiên. Tương truyền, Vua Lý Thánh Tông cho xuất 2 vạn cân đồng, sai đúc đỉnh nhọn đặt trên đỉnh tháp. Thời kỳ nhà Hồ, Hồ Quý Ly dời đô về Thanh Hóa, đổi Thăng Long thành Đông Đô, giao cho Lê Khải làm An Phủ Xứ. Năm 1406, đỉnh tháp gãy rơi xuống, Lê Khải vì không báo tin ấy cho triều đình biết nên bị biếm chức. Quân Minh xâm lược nước ta. Năm 1417, nghĩa quân Lê Lợi bao vây Đông Đô, Vương Thông sai phá tháp để chế súng thần công. Chùa Báo Thiên bị phá hủy, đổ đất thành gò cao. Thời Tây Sơn, năm Giáp Dần (1749) nhân dân địa phương đào gò đất để đóng gạch tu sửa thành Thăng Long, nhặt được rất nhiều di vật bị chôn vùi từ trước: tượng đá chạm hình người tiên, chén bát sứ cổ, gạch hoa đào khắc chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (Làm năm Long Thụy Thái Bình thứ tư đời vua thứ 3 nhà Lý)… Di vật, cổ vật nhiều không kể xiết. Ngày nay, di tích quan trọng này đã bị nhà phố đè lên khuất lấp, không còn bóng dáng. 

Bảo Tháp chùa Bút Tháp

Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh ở núi Long Đọi, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày nay đã không còn. Theo tấm bia Sùng Thiện Diên Linh còn lưu giữ tại chùa thì tháp chùa Đọi Sơn thời Lý là công trình kiến trúc to lớn, nguy nga, lộng lẫy. Tòa bảo tháp cao 13 tầng, mở 40 cửa hứng gió, vách chạm rồng ổ, xà treo chuông đồng, tầng trên đặt hộp vàng xá lợi, đỉnh nóc xây cảnh tiên khách bưng mâm. Tầng dưới có 8 ông tướng khôi ngô, đứng hộ vệ cho thần nhân cầm kiếm, chính giữa đặt pho tượng Đa Bảo Như Lai. Đầu thế kỷ XV, chùa Đọi Sơn bị giặc Minh tàn phá, ngôi tháp Sùng Thiện Diên Linh bị san phẳng. Ngày nay, chùa Long Đọi đã được trùng tu tôn tạo và trở thành di tích trọng điểm của tỉnh Hà Nam, nhưng không thể còn đủ dữ liệu để khôi phục bảo tháp trứ danh thời Lý.

Núi Ngô Xá, còn gọi là núi Chương Sơn, thuộc xã Yên Lợi, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, trên đỉnh núi ngày nay còn dấu vết rất rõ của công trình kiến trúc ngọn Bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện lừng danh thời Lý. Sách Việt Sử Lược chép: “Năm Mậu Tý, hiệu Long Phù Nguyên Hòa năm thứ 8 (1108), mùa xuân tháng giêng xây tháp Chương Sơn. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: “Hội Tường Đại Khánh năm thứ 8 (1117) tháng 3 ngày Bính Thìn, vua ngự đến núi Chương Sơn để khánh thành tháp Vạn Phong Thành Thiện”. Như vậy, tháp được khởi dựng từ năm 1108 và hoàn thành vào năm 1117. Theo văn bia chùa Ngô Xá tạc năm 1670 ghi lại rằng tháp Chương Sơn đã bị phá hủy thành bình địa. Năm 1970, các nhà khảo cổ học nước ta đã khai quật toàn bộ di tích chùa Ngô Xá để nghiên cứu, kết quả trong cuộc khai quật thu được hơn 200 di vật và 50 viên gạch thời Lý còn nguyên vẹn có khắc chữ Hán “Lý gia đệ tứ Long Phù Nguyên Hòa ngũ niên tạo”, cho thấy gạch được sản xuất trước khi xây tháp 3 năm. Những di vật văn hóa như đĩa tròn đá có chạm rồng, lá đề, khỉ, gạch, thành bậc lan can, các bộ phận kiến trúc khác chạm rồng, sóng nước. Nghiên cứu các di vật này, chúng ta có thể hình dung ra tháp Chương Sơn thời Lý có quy mô to lớn, với những đường nét chạm trổ tinh tế, duyên dáng mà lại khỏe khoắn, phản ánh sự tài ba của các nhà kiến trúc, điêu khắc Đại Việt đầu thế kỷ XII.

Chánh điện chùa Phụng Thánh

Chùa Phật Tích ngự trên núi Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày nay là ngôi chùa vô cùng giá trị về khảo cổ học, bởi tại đây lưu giữ được vô vàn di vật, cổ vật thời Lý. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhiều lần ghi chép về việc xây dựng chùa Phật Tích, Vua Lý Thánh Tông cho dựng cây tháp báu cao hơn chục trượng và pho tượng mình vàng cao 6 xích. Ngôi chùa thời Lý đã bị phá hủy từ thời nào chẳng ai rõ, chỉ biết vào đầu thế kỷ 20 trong khuôn viên chùa Phật Tích còn lại Phật điện được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng. Năm 1958, do Phật điện đã quá xuống cấp, người dân sở tại đã dựng lại ngôi chùa trên nền của Phật điện cũ. Chùa Phật Tích ngày nay còn bảo lưu được pho tượng A Di Đà, các nhà khảo cổ học đoán định rằng pho tượng này xưa kia tọa lạc trong lòng tháp báu thời Lý. Đây là pho tượng cổ nhất miền Bắc (niên đại 1057), đã được công nhận kỷ lục Phật giáo, đồng thời tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia và Bảo tàng Mỹ thuật đều có phiên bản của pho tượng này. Pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích mang hình thái nữ giới, có kích thước tương đối lớn, cao 1,85m, nếu tính cả bệ là 2,8m. Thân tượng biểu đạt một vị Phật đang ngồi tọa Thiền, mắt khép hờ trong thiền định, làm nên khí sắc thanh tịnh tươi nhuần. Vẻ mặt thể hiện nội tâm cân bằng giữa động và tĩnh. Đầu tượng kết nhục kế tóc xoắn ốc, vầng trán mở rộng thể hiện trí tuệ, tuổi thọ vô lượng. Hai bên má đầy đặn trông phúc hậu, nhân ái.  Hai tai dài rộng, thành quách rõ ràng, dái tai tròn mọng chảy sệ xuống. Sống mũi thẳng, nảy nở, thể hiện sự bao dung rộng lượng. Thân tượng mặc áo Pháp rộng rãi, cách điệu kiểu lá sen, gấp nếp lật đi lật lại ở vai áo, rủ xuống nách, trải rộng trên lòng đùi. Trên áo có các đường gân lá song song bó sát eo tạo dáng thon thả. Các đường nét luôn đổi chiều cốt xóa đi sự đơn điệu, những nếp áo mảnh đồng thời cũng là gân lá sen, bàn tay trái đặt lên lòng bàn tay phải, nương nhẹ vào đan điền làm nên nét uyển chuyển. Hai chân xếp bằng theo lối kiết già vững chãi. Tòa sen là đóa hoa mãn khai với hai tầng cánh, ngự trên bệ đá tám cạnh hình tháp. Bệ bát giác được trang trí phủ kín bề mặt là những hình rồng vờn đuổi nhau trong dày đặc mây lửa. Tượng A Di Đà chùa Phật Tích là bảo vật quốc gia, chiêm bái Ngài để cảm nhận và thực tập triết lý sống thanh tịnh, từ bi, hỷ xả muôn đời bất diệt.

Chánh điện Chùa Phật Tích

Cuối năm 2008, nhà chùa Phật Tích cho tháo dỡ Phật điện để trùng tu quy mô. Ngày 22-11-2008 khi đào móng xây lại tòa Tam bảo thuộc dự án trùng tu, tôn tạo chùa Phật tích, những người thợ xây dựng và cán bộ giám sát phát hiện một dải sỏi. Theo hướng dẫn của Đại đức Thích Đức Thiện (trụ trì chùa), những người thợ đã đào nhẹ thêm, phát hiện một móng gạch cổ. Để giữ nguyên phần móng cổ, đơn vị thi công là Công ty Tu bổ di tích và Thiết bị văn hóa Trung ương đã cẩn trọng đào rộng móng và phát lộ phần móng của một tòa tháp đồ sộ. Gạch xây móng tháp đều là những viên gạch cổ có chữ “Lý gia Đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo"(vua thứ ba đời Lý, năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 xây dựng). Ngay sau đó, Đại đức Thích Đức Thiện đã cho dừng thi công, báo cáo các cơ quan chức năng. Các nhà khoa học đã khảo sát, đối chiếu với những tư liệu lịch sử, đủ dữ liệu để khẳng định rằng đây chính là một trong những ngôi bảo tháp lừng danh do triều đình Nhà Lý xây dựng. Với phần móng tháp dài 9,1m, rộng 2,4m, các nhà khoa học đoán định ngọn tháp cao khoảng 42m. Hiện móng tháp Phật Tích đang tạm thời được giữ nguyên hiện trạng, tạm ngừng thi công để các nhà khoa học và cơ quan chức năng đưa ra phương án điều chỉnh quy hoạch xây dựng, bảo tồn. Không còn ngôi tháp thời Lý nào tồn tại tới ngày nay, khiến chúng ta không thể hình dung được về quy mô, hình dáng và mỹ thuật của tháp Phật thời Lý. Sự việc phát hiện đế tháp ở chùa Phật Tích mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nghiên cứu kiến trúc Phật giáo thời Lý.

Ba bảo tháp thời Trần

Ngày nay nước ta còn bảo lưu được 3 ngôi bảo tháp cổ thời Trần, đó cũng chính là 3 tòa bảo tháp cổ nhất miền Bắc: tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn, tháp Huệ Quang. Nghiên cứu những bảo tháp thời Trần, các nhà nghiên cứu khoa học khảo cổ đưa ra nhận định: Vào thời ấy, nhân dân ta đã tách các chức năng của tháp Phật để phát triển thành 2 loại hình kiến trúc riêng biệt: thượng điện - Tam bảo và tháp mộ. Bởi vậy, chức năng của tháp được đưa trở lại dạng sơ khởi, là nơi lưu giữ xá lợi. Theo tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông khai sáng, mọi Tăng Ni tu luyện đều có thể trở thành Phật. Niết bàn không còn là điều gì xa vời, mà trở thành đích đến cho mỗi nhà tu hành Đại Việt, nhờ đó mà Phật giáo phát triển mạnh mẽ trong lòng dân tộc. Từ đây trở đi, mỗi Tăng Ni sau khi viên tịch đều được địa táng theo tập quán cổ truyền của nhân dân ta (không cần hỏa táng theo nghi thức Phật giáo Ấn Độ), và được xây tháp mộ. Mỗi Phật tử từ giã cõi trần, tuy không được dựng tháp mộ, nhưng đều được đặt những mô hình tháp Phật lên trên mộ.

Tháp chính chùa Yên Tử

 Tháp Huệ Quang tọa lạc tại chùa Hoa Yên (Yên Tử - Quảng Ninh), xây dựng từ thời Trần nhưng lại được trùng tu lớn vào thời Hậu Lê, nên hàm chứa kiến trúc hỗn hợp của cả 2 triều đại Trần và Hậu Lê. Tháp ngự ngay trên lối vào cổng chùa. Bệ tháp được ghép bằng những phiến đá lớn chạm hoa sen, mặt cắt hình lục giác, đây chính là dấu tích kiến trúc Trần mà người thời Lê vẫn giữ lại sau khi trùng tu. Phần thân tháp gồm 5 tầng, hoàn toàn là sản phẩm dựng lại thời Lê, được xây bằng gạch, trát vữa kín các mặt. Tầng cuối cùng của tháp Huệ Quang bài trí cỗ ngai thờ, ngự trên ngai có pho tượng vua Trần Nhân Tông bằng đá. Tượng và ngai được chế tác công phu, chạm khắc hình rồng, hoa lá mang phong cách nghệ thuật thời Lê. Thân tháp tạo tác những viền mái, lên cao thu nhỏ nhanh chóng, tạo cảm giác chót vót. Đỉnh tháp hình hồ lô, kiến trúc không mấy ăn nhập với phần bệ thời Trần, và cũng không giống với kiến trúc tháp của các thời sau.

Tháp Phổ Minh tọa lạc trước tiền đường chùa Phổ Minh ở Tức Mặc (Thành phố Nam Định), giữa sân nhỏ hình vuông, quanh sân có tường bao, bốn góc sân đều có cột với hộp đèn lồng trên đỉnh. Tháp Phổ Minh ngự trên nền đá, tòa tháp cao 17m, gồm 14 tầng. Đế tháp hình vuông, mỗi cạnh 5,2m. Tầng tháp dưới cùng được bắt đầu bằng một vòng cánh sen 2 lớp, lớp dưới úp xuống, lớp trên nở xòe tạo cảm giác cây tháp mọc lên từ đóa hoa sen khổng lồ. Mười ba tầng trên của tháp được xây bằng gạch, lên cao thu nhỏ dần, trên đỉnh có 1 búp sen. Mỗi tầng đều có 4 cửa trổ ra bốn phía, cửa tháp hình cuốn nên trọng lượng phần trên dồn xuống nén ép các lớp gạch lại rất chắc. Thân tháp nguyên xưa xây bằng gạch mộc, tường hở mặt gạch khoe những đường nét chạm khắc hình rồng trên mặt gạch. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, khi trùng tu, người ta đã trát vữa kín thân tháp, che lấp hết những hình trang trí ở gạch, nên vẻ đẹp cổ kính của tháp chỉ còn ở kiểu dáng và nghệ thuật kiến trúc của đế tháp.

Tháp Bình Sơn tọa lạc ở chùa Then (Vĩnh Khánh tự) ở xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tòa tháp đất nung lớn nhất Bắc Bộ, có niên đại 1374. Tháp được xây dựng bằng những viên gạch đất nung già, gắn kết với nhau bởi kỹ thuật “mộng cá con chì” - một kỹ thuật kiến trúc điêu luyện thời Trần. Gạch để dựng tháp đồng nhất màu đỏ sậm, mịn mặt, hoa văn trang trí tinh xảo, cầu kỳ. Quy mô tháp khá đồ sộ, số tầng ban đầu của tháp là bao nhiêu chưa rõ, bởi phần đỉnh tháp đã bị hư hại, đổ nát. Tháp hiện còn 11 tầng, không kể phần bệ, tổng chiều cao 16m. Móng tháp ken bằng gạch vồ sâu hơn 1m. Bệ tháp hình vuông mỗi cạnh dài 4,44m với một cửa chính và ba cửa giả. Tháp có bình đồ hình vuông, lên cao thu nhỏ dần tới đỉnh, đến tầng trên cùng mỗi cạnh chỉ còn 1,55m. Trên mỗi tầng của tháp đều có kiến trúc kiểu mái cong. Lòng tháp rỗng, các tầng tháp liên kết hài hòa tạo thành một khối kiến trúc hoàn hảo ở mọi góc độ. Tháp đất nung Bình Sơn trang trí kín bốn mặt như từ đất mọc lên một cách tự nhiên, màu đất nung đỏ tươi cơ hồ như tháp luôn tự tỏa sáng. Trải qua nhiều thế kỷ, tháp bị nghiêng lệch và sụt lở. Năm 1972, dân chúng đã trùng tu lại tháp, tôn cao nền lên 4m bằng một bệ bê tông nhưng giá trị kiến trúc vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Nghiên cứu những ngôi cổ tháp, các nhà khoa học tìm thấy bí mật phần bệ tháp thường là nơi an táng nhục thân các nhà sư trụ trì chùa trong quá khứ, nhưng riêng ở tháp Bình Sơn, khi khai quật, các nhà khảo cổ không tìm thấy dấu vết nhục thân, đây là một điều vô cùng đặc biệt, hẳn tháp Bình Sơn là tháp thờ Phật hay Xá lợi Phật. Tháp Bình Sơn còn để lại cho ta thấy đầy đủ các hoa văn độc đáo trang trí trên bề mặt, vật liệu dựng tháp cũng như kiến trúc nghệ thuật hàm chứa rất nhiều dị biệt so với những ngôi tháp cổ khác. Tìm hiểu những cây tháp cùng thời kỳ ở Indonesia, trên mỗi tầng người ta xây hàng loạt cây tháp nhỏ biểu tượng Đức Phật. Người thời Trần khi dựng tháp Bình Sơn đã không xây những ngôi tháp nhỏ mà in hình tháp và làm những mô hình tháp cắm lên đầu tầng một. Tháp Phổ Minh, rào vây đã trở thành lan can chỉ cách tường tháp khoảng trên 1,5m. Riêng tháp Bình Sơn ngày nay không còn thấy rào vây nữa. Đế tháp Phổ Minh có bốn cửa, nhưng đế tháp Bình Sơn có một cửa chính và ba cửa giả.

 Tòa thượng điện là “đặc sản” của người Việt Nam

 Mỗi ngôi chùa đóng vai trò một trung tâm hoạt động của Phật giáo, với 2 chức năng chính yếu: chiêm bái Phật và tu học Phật pháp. Thuở sơ khởi, chùa chiền đều bao gồm tối thiểu 2 công trình kiến trúc quan trọng với chức năng riêng: tháp để tưởng niệm Đức Phật và nhà tịnh xá để các Tăng Ni thuyết pháp, tu học. Như vậy, tháp mới chính là biểu tượng của Phật pháp, là nơi bài trí những pho tượng Phật, những hình ảnh gợi nhớ tới Đức Phật. Những công trình kiến trúc khác không phải để bài trí tượng Phật mà là nơi bảo tồn sách kinh Phật, lớp học đạo pháp và nhà ở của người tu hành.

Vào thời Trần, cha ông ta có bước đột phá tuyệt vời, sáng tạo ra loại hình kiến trúc “đặc sản” của riêng người Việt Nam, đó là tòa thượng điện. Thượng điện hình thành bởi sự sáp nhập của 2 kiến trúc Phật giáo: Tháp Phật và tịnh xá. Bởi vậy, tòa thượng điện gánh gồng luôn cả 2 chức năng: vừa là nơi để chiêm bái Phật, vừa để tu tập đạo pháp. Hơn thế, sự hòa quyện giữa Phật giáo và tục lệ thờ cúng tổ tiên, đã làm nên nét độc đáo của tòa thượng điện Việt Nam. Người dân Việt vốn thường đặt bát hương để thờ cha ông đã mất, sau đó họ đem cả bát hương đặt lên bàn thờ Phật để rồi từ đó hình thành nên tòa Tam bảo trong thượng điện.

Khi trình độ văn hóa ngày càng phát triển, không chỉ dừng lại ở tòa tháp mang tính mô hình, con người biết tạc tượng Phật biểu thị cho lòng ngưỡng vọng. Hòa chung dòng chảy văn hóa Phật giáo, trong tháp Phật không thể thiếu tượng Phật, trong tòa thượng điện Việt Nam luôn bài trí hệ thống tượng Phật đa dạng phong phú, thêm vào những bát nhang nghi ngút khói trầm. Nhân dân ta đã thờ cúng Phật giống như thờ cúng tổ tiên, nói tòa thượng điện độc đáo là ở chỗ đó.

Đáng tiếc ngày nay không còn bảo lưu được nguyên vẹn một kiến trúc thượng điện nào của thời Trần. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ngôi chùa lưu giữ được những dấu tích kiến trúc thời Trần sót lại: chùa Phổ Minh, chùa Yên Tử, chùa Sùng Nghiêm, chùa Côn Sơn, chùa Thái Lạc, chùa Dâu, chùa Bối Khê, chùa Thầy, chùa Ngọc Khám… Di sản thời Trần sót lại ở chùa Phổ Minh (Nam Định) là bộ cửa 4 cánh của chánh điện, hiện nay đang được bảo tồn và trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quốc gia và Sở Văn hóa tỉnh Nam Định. Hai cánh giữa của bộ cửa chùa Phổ Minh chạm khắc đôi rồng chầu ghép lại thành lá đề, đây chính là chi tiết quan trọng để xác định niên đại, bởi nó tương đồng với nghệ thuật điêu khắc trên tháp Phật của những nền văn hóa Phật giáo khác cùng thời. Dấu tích thời Trần sót lại chùa Thái Lạc (Hưng Yên) nằm trên bộ vì kèo, không chỉ ở kết cấu chồng rường mà chính là ở lá đề nơi giá chiêng. Những chiếc lá đề này không còn thấy hiện hữu trong kiến trúc ở các thời đại sau. Lá đề trên giá chiêng vì kèo chùa Thái Lạc và cánh cửa chùa Phổ Minh khiến ta liên tưởng tới hình ảnh lá đề thường thấy trên những tháp Phật toàn cõi Đông Dương từ thế kỷ XIII trở về trước. Tháp Chàm cũng không nằm ngoài dòng chảy đó, các vòm cuốn trên cửa các tháp Chàm đều có hình lá đề. Vòm cuốn trên cửa của mỗi tầng tháp Phật đã được kế thừa trên bộ vì và cửa của thượng điện thời Trần, nhưng có sự cách tân sáng tạo thành hình đôi rồng chầu mặt trời. Như vậy tháp thờ Phật đã tiến hóa thành tòa thượng điện trên cơ sở 2 thuộc tính song hành: kế thừa và sáng tạo.

 Trên những tấm cốn trang trí thượng điện thời Trần còn sót lại, đều được chạm khắc những hình ảnh sinh động, thường được miêu tả cảnh những vị thần tiên múa hát chào mừng Đức Phật đản sinh. Những cảnh này cũng thường thấy chạm khắc trên hành lang hay buồng xá lợi của tháp Phật thời Trần trở về trước ở các nước châu Á. Di sản thời Trần trong những tòa thượng điện Việt Nam còn để lại phổ biến nhất là hàng chục bệ đá hoa sen, nằm trong các ngôi chùa dọc vùng tả ngạn sông Đáy. Các bệ đá đều có đặc điểm chung: hình hộp chữ nhật, thường mang chức năng của bệ tượng Tam thế. Hình ảnh nghệ thuật phổ biến trên những bệ đá này là chim thần Garuda quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ luôn ngự trị ở bốn góc bệ. Chim thần Garuda với thân hình người đầu chim, có khi là hình chim mỏ quặp. Trên những bệ đá này cũng thường gặp những hình rồng Naga hoặc Macara, nghệ thuật điêu khắc tương đồng nghệ thuật đặc trưng trên mặt tháp Phật đương thời.

 Các nhà nghiên cứu khảo cổ học nước ta đã tổng hợp những nét chung nhất về một tòa thượng điện sơ khởi thời Trần. Đó là một kiến trúc không đồ sộ, hình thành chuôi vồ gắn vào tiền đường, bốn mặt thượng điện đều có cửa (chùa Dâu ở Bắc Ninh vẫn còn nguyên 4 cửa của thượng điện thời Trần), vòm cửa cuốn kiểu cala-macara. Trên các bức cốn thượng điện chạm cảnh thần tiên chào mừng Đức Phật đản sinh. Kiểu hình đế tháp Phật bằng đá ở các thời đại trước đã biến đổi thành bệ thờ Tam bảo để lọt vào trong lòng thượng điện, thường được chế tác bằng đá hoặc đất nung, trên bày bộ Tam thế Phật. Tòa thượng điện là một sản phẩm tinh tế, kết tinh từ trí tuệ Việt Nam, được khởi phát từ thời Trần và trở thành dòng chảy quan trọng bậc nhất trong nền kiến trúc Phật giáo nước ta.

Những nét độc đáo trong kiến trúc cổ chùa Thầy

Kiến trúc chùa ở nước ta càng về sau càng phát triển đa dạng, từ thượng điện đã mở rộng thành nhiều tòa kiến trúc khác: tiền đường, thiêu hương, Thượng điện, các hành lang La hán, gác chuông, tam quan, hậu cung, điện Thánh… Các công trình kiến trúc được tổ chức, sắp xếp kết cấu đa dạng kiểu hình: kiểu chữ Nhị, kiểu chữ Tam, và đỉnh cao là kiểu nội công ngoại quốc. Kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc trở nên phổ biến trong kết cấu chùa từ thời Lê Trung Hưng đến thế kỷ XIX.

Chùa  Thầy

Xét về giá trị kiến trúc, chùa Thầy ở Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội là ngôi chùa còn lưu giữ được nhiều cấu kiện cổ nhất trên đất nước ta. Đây là kiến trúc chùa vô cùng độc đáo, hoàn toàn bằng gỗ, nhiều cấu kiện chưa từng thấy xuất hiện ở các ngôi chùa khác. Chùa Thầy gồm 3 tòa kiến trúc sắp xếp hình chữ Tam, với: tiền đường, điện Phật, điện Thánh.

Chánh điện (điện Phật) là tòa nhà thứ hai trong cụm kiến trúc trọng tâm của chùa Thầy, nằm phía sau tiền đường, với kết cấu ba gian hai chái, dài 20m, rộng 9,5m, cao 5,5m (tính từ nền nhà tới thượng lương). Khung chịu lực của tòa Điện Phật gồm 8 cột cái và 16 cột quân, khoảng cách giữa 2 cột cái  4,65m; giữa hai cột quân rộng 2,6m. Nền chánh điện cao hơn mặt sân 1,5m, cao hơn tiền đường 0,5m. Lối lên điện Phật phải đi sang hai bên, chia làm 3 bậc cấp  theo khẩu độ chênh nhau 0,5m. Mái giống với mái tiền đường, theo kiểu “tàu đao-mái lá”, lợp bằng ngói mũi hài, phía dưới có diềm lá sòi cách điệu trang trí cánh sen vuông. Hoành trên mái chánh điện rải theo lối “thượng tứ - hạ tứ”, đã nâng độ cao của mái lên rất nhiều.

Vì kèo tứ hàng chân, nhưng hệ thống liên kết giữa các vì không giống nhau. Trong gian giữa nửa phía trước, các vì sử dụng hệ thống liên kết bằng con rường, khoảng cách giữa hai con rường rộng tới 0,35m, đây là thông số rất hiếm gặp. Nhưng ở nửa sau của điện Phật lại dùng kẻ suốt với độ dốc khá lớn. Như vậy ngay trong một vì đã có hai cách liên kết: “chồng rường-giá chiêng” và “giá chiêng-kẻ suốt”, phong cách kiến trúc này chỉ thấy xuất hiện duy nhất tại chùa Thầy. Chánh điện cũng dùng 4 kẻ xó hỗ trợ đao, nhưng dài và lớn hơn ở tiền đường. Liên kết trên vì nóc cũng vô cùng đặc biệt, thay vì kiểu giá chiêng, người thợ xưa đã sử dụng kiểu “kèo cầu - cột giữa”, một lối kết cấu được coi là cổ nhất trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam. Những chiếc bẩy giả nơi đây cũng chưa từng thấy xuất hiện trong bất kỳ kiến trúc cổ nào ở Việt Nam. Trong kiến trúc truyền thống, sử dụng kẻ làm thành phần nối liền giữa cột cái và cột con, qua cột quân chạy thẳng ra ngoài để đỡ mái hiên. Với chánh điện chùa Thầy, mặt sau của vì kèo ba gian giữa, kẻ được làm chệch ra phía ngoài cột 0,8m tạo thành bẩy giả, đã làm mở rộng lối đi từ điện Phật lên điện Thánh. Lối sử dụng con sơn chống kẻ tại đây cũng thường gặp trong những ngôi chùa được xây dựng từ TK XVIII.

Mặt trước ba gian chính của chánh điện được bỏ trống để tạo thành cửa đi vào, hai bên được ghép ván tạo thành cửa bức bàn. Hai hồi và tường phía sau được bưng kín, có các ô cửa hình chấn song, cùng những ô hộc chạm thủng để lấy ánh sáng. Khám thờ ở hai đầu hồi cũng kết cấu độc đáo. Người thợ đã nối cột cái ra cột quân, ở phía dưới bằng những xà nhỏ để tạo ra hai khám thờ Đức Ông và Thánh Tăng. Rất nhiều ván gỗ được chạm thủng hình lá đề, vân xoắn, mặt trời, rồng, phượng, hoa... để trang trí, đồng thời đón ánh sáng cho khám thờ.

Theo các nhà nghiên cứu, bộ mái của chánh điện chùa Thầy có niên đại thời Nguyễn, còn bộ khung có niên đại TK XVII. Cố Thượng toạ Thích Viên Thành, sinh thời đã có bài viết đăng trên tạp chí Mỹ Thuật Thời Nay, nói về những nét độc đáo của kiến trúc chùa Thầy. Theo Thượng tọa, toàn bộ ngôi chánh điện bằng gỗ, cần rất nhiều sự kết nối các thành phần (cột, kèo, xà, vì..) để tạo khung chịu lực, thế nhưng tất cả mọi kết cấu kiến trúc của tòa nhà chỉ dựa trên cơ sở của 36 lỗ đục. Chi tiết này khiến tất thảy mọi người đều phải kinh ngạc, thán phục tài nghệ của những người thợ xưa.

Điện Thánh chùa Thầy được xây dựng trên nền cũ của ngôi chùa thời Lý, tuy nhiên đã được trùng tu rất lớn vào TK XVII, tới thời Nguyễn lại tiếp tục được sửa chữa. Nền điện Thánh cao hơn nền điện Phật 0,95cm, cách mặt sân sau (sân trước của nhà Tổ) 1,85m. Điện Thánh gồm ba gian hai chái, dài 14,7m, rộng 11,7m, chiều cao từ nền tới thượng lương 6m. Toàn bộ khung chịu lực gồm 4 cột cái (đường kính 0,5m) và 16 cột quân (đường kính 0,45m), tất cả các cột đều được kê trên các tảng đá hình vuông có kích thước 0,9*0,9m. Trong số 4 cột cái có hai chiếc cột vô cùng quý giá, là di sản của ngôi chùa thời Trần còn sót lại, đã 800 năm tuổi. Hai chiếc cột này, một chiếc bằng gỗ pơ-mu (Ngọc Am) và một chiếc bằng gỗ chò chỉ, được các nhà khảo cổ học đánh giá là hai chiếc cột gỗ cổ nhất Việt Nam. Vì kèo của hai gian giữa điện Thánh có khẩu độ rộng bất thường so với các kiến trúc khác của ngôi chùa Việt. Khoảng cách giữa cột cái là 6m, giữa cột cái và cột quân 2,9m. Câu đầu (thanh nối giữa hai cột cái) có kích thước lớn khác thường. Kiểu liên kết của vì vô cùng khác lạ, lối “chồng rường-bảy hiên” ở hai gian chính, riêng vì nóc lại kiểu “giá chiêng kép”. Hai trụ ngắn kê lên đầu với một xà ngang có khẩu độ rất lớn, cùng với hai con rường bổ trợ cho trụ ngắn, đồng thời dể đỡ mái thay hoành. Chông bên trên thanh xà ngang, có hai trụ ngắn nữa đặt trên với một thanh xà ngang tạo thành kiểu “vì nóc giá chiêng kép”, rất hiếm gặp trong kiến trúc Việt Nam. Điện Thánh cũng không sử dụng tường chịu lực, bốn mặt được bưng bằng hệ thống cửa gỗ và ván liệt bản. Các cửa bức bàn phía trước có thể tháo ra lắp vào dễ dàng. Rất nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ học đã đánh giá điện Thánh ở chùa Thầy là tòa hậu cung sớm nhất nước ta.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online