Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Chuyện Phật đản trong văn Nôm xưa (Hoàng Xuân Hãn)
Chuyện Phật đản trong văn Nôm xưa (Hoàng Xuân Hãn) PDF In E-mail
Người viết: Hoàng Xuân Hãn   
02/07/2013

Chuyện Phật-đản trong văn nôm xưa

* Hoàng Xuân-Hãn - Phiên âm từ bản nôm

Trong các bản văn nôm xưa, thể lục bát, còn có một bản kể chuyện Phật-đản.
Chắc là dịch từ một "Phật kinh" chữ Hán. Văn-bản nay còn là một bản in từ ván khắc với nhan-đề: Thích-Ca Như-Lai Thập Thế Chí Truyện Chú Nghĩa Quốc Ngữ. Sách khổ to 17 x 29, chữ chân phương kiểu vuông, viết và khắc rất chính-xác. Mỗi trương mười dòng, mỗi dòng mười sáu chữ. Cả thảy 6O tờ, 2728 vế, gần 19010 từ. Đó là một tư-liệu nôm xưa lớn.

 

Nội-dung kể chuyện chín đời tiền-thân Phật, và cuối là đời đức Phật Thích-ca. Nhưng đây không giống như những sách Bản sinh khác của những dân-tộc thuần-túy phật-tử. Sách nầy xuất-phát tự dân Trung-quốc hay Việt, chủ-trương Tam giáo tĩnh hành; tôn-trọng ngang hàng ba giáo: Lão, Phật, Nho. Tác-giả "kinh" nầy có lẽ lại thiên về Lão hơn hết; cho rằng Lão-tử là chủ các đạo, thấy đời suy-vi, cho nên sai một đệ-tử trung-thành đi đầu-thai để mong hoá ra kẻ cứu thế, rồi sự mong không được, lại gọi về để đi đầu-thai chỗ khác.

Như thế đến lần thứ mười, thì hoá làm con vua Tĩnh-Phạn, tức thành dức Thích-ca Mầu-ni. Từ đó, y kể chuyện đức Phật Thích-Ca gần như các kinh khác. Vả chuyện Thích-ca là phần chính sách , gồm 1236 vế, gần nửa văn chuyện. Tuy không còn phần lạc-khoản khiến ta biết ai là tác-giả và ván khắc năm nào, nhưng so-sánh với các sách cũ khác về phương-diện giấy mực, khổ chữ, từ cổ, lối viết nôm, thì cũng thấy rằng tác-phẩm nôm nầy ít ra cũng đã được soạn trước đây chừng ba, bốn trăm năm.

Xét lời văn, thấy tác-giả, ngoài sự thuộc phái Tam-giáo, là một văn-sĩ thông chữ Hán, biết tự-sự, gắng tìm từ, tìm vần dể dặt câu lục-bát cho thông; chứ không phải là một nhà thi-sĩ, và cũng không tìm niêm và vần cho đúng. Văn nầy thuộc loại văn bình-dị, dân-gian, phổ-biến trong các văn nôm chuyện đời Lê.

Bắt đầu văn, tác-giả viết:

Kính vâng giáo Bụt Thích-Ca

Xem kinh Đồ-Tượng chép ra lời nầy

Bộ Đại-tạng Chính-đức in tại Đài-loan thành hơn trăm tập (Phật-viện Trúc-lâm có) gồm mười tập lớn thuộc loại "Đồ-tượng", trong đó, tôi chưa tìm thấy nguyên-bản Hán-văn kinh "Thích-ca Mầu-ni Thập thế chí" nầy, nó có lẽ sẽ giúp ta khảo-sát văn-bản nôm một cách tiện-lợi hơn

Nay nhân lễ Phật-đản, tôi sẽ trình một đoạn văn nôm thuộc về đời đức Phật Thích-ca. Trong khuôn-khổ báo Hương Sen, tôi không thể viết dài về phần chú-giải và khảo-luận. Nhưng mỗi khi có từ-ngữ cổ hay tối nghĩa, tôi sẽ chú nghĩa vắn-tắt và viết trong hai dấu ngoặc đơn. Ám--hiệu "t.c." thấy trong chú-thích sẽ trỏ từ cổ hay tiếng cổ.

Lão-quân sai đệ-tử Y-Kì đầu-thai lần thứ chín làm thái-tử nước Chiêm-Ba(Chàmpa?), tu-hành đắc-đạo. Nhưng theo lời Lão-quân thì "chẳng chữa thiên hạ, chỉn xin tu mình". Bèn sai Thiên-vương-tướng ủng-hộ con voi trắng mang Thái-tử đi đầu-thai vào nhà Tĩnh-phạn-vương. Đây ý muốn nói Bắc-tông Đại-thừa khác Nam-tông Tiểu-thừa bởi sự ngoài mục-đích tu mình còn muốn cứu thiên-hạ.

Nối sau đó là chuyện Phật-đản, bắt đầu từ vế (1523):

Đời Phật Thích-ca

 

 

Ngày rằm tháng bảy nhật tinh (sáng sớm)
Cỡi con bạch-tượng xuống mình (đầu-thai) MA-DA

(1525) Ban ngày nằm ngủ trương-toà (lầu vua)
Chiêm-bao nách hữu thấy qua vào lòng
Phu-nhân mộng giác (tỉnh) thân-trung (trong mình)
Từ ấy ăn uống hôi tanh đều đình
Ngồi thì muốn ở một mình
(1530)  Gẫm hay Bồ-tát giáng-sinh chẳng nhầm
Sáng ngày Dục-giới (cõi người) thiên-quan
Đến cùng thuyết pháp chẳng không một thì (nghỉ một chốc)
Nửa ngày Trung-giới (cõi đã thoát dục) chư vì
Quỉ thần ban tối triều-nghi (mặc lễ-phục) tới cùng
(1535) Chiều hôm, trung-dạ (nửa đêm), dạ-chung (cuối đêm)
Thánh, Hiền đều đến song-song hoà luần (t.c. cùng bàn)
Thuyết pháp, cứu-độ chúng-sanh
Cảm động tinh-thành Đâu-suất thiên-quan
Mười phương Bồ-tát hội-đồng
(1540) Bẩm qua Đế-thích giáng-sanh trung-thần
Bà-la (Bà-la-môn), cư-sĩ chư nhân (mọi người)
Chín mươi chín ức cùng sanh ra đời
          ***

Phu-nhân mãn nguyệt hoài thai (mang thai đủ tháng)
Năm hai mươi bốn đời CHU Chiêu-vương (chừng 977 trước C.L.)

(1545) Tháng tư mồng tám cung trương (tức trương-toà: lầu vua)
Khắp hoà (t.c. cả) cung-nữ chơi vườn Trung-viên
Phu-nhân khi ấy thừa-lương (hóng mát)
Vin cây ưu-thụ (cây ưu-đàm nở hoa là điềm tốt) cội liền nở hoa
Nhụy sen (hoa sen) cả (lớn) tày vừng xe (bánh xe)
(1550) Thái-tử tức-thì nách hữu sinh ra
Thái-tử đứng trên liên-hoa
Bước đi bảy bước, kêu ba tiếng hùng (mạnh)
                    Tay tả trỏ lên hư-không (vòm trời)
     Tay hữu chỉ xuống, miệng cung (t.c. trong) niệm rằng (nói nhỏ) :
  (1555) (( Thiên thượng thiên hạ lâng-lâng (khắp cả trên trời dưới đất)
      (( Duy ngã độc tôn (một mình ta cao-quí) giáng-sanh bây giờ ))
                    Thiên-vương lấy lụa phúc (trùm) che
           Ôm Thái-tử đứng trong ca ( t.c. ở nơi) bình (lọ) vàng
                        Có vua Đế-thích Phạn-vương
      (1560) Che quạt, cầm tán (tàn), đòi (khắp các) phương đứng chầu
                       Chín rồng phun nước trước sau
          Tẩm (tắm) cho Thái-tử nước hoà (vừa) ôn lương (ấm mát)
                       Bấy-giờ bốn tướng Thiên-vương
          Đều nâng chậu vàng quán tẩy kim khu (tắm gội mình vàng)
                (1565) Ba mươi hai tướng tuyền no (t.c. đuû)
                Tám mươi thức tốt sáng hoà (bằng) hào-quang
                       Ba nghìn thế-giới đòi phương
   Soi khắp Đại-thiên (thế-giới gồm 1 triệu thế-giới) bằng gương làu làu
                        Thiên-long, Bát- bộ đâu đâu
                 (1570) Hư-không cổ-nhạc hương-hoa dập-dìu
          Áo tốt, anh-lạc (cườm xâu hạt ngọc) báu yêu (ngọc quí)
               Kể nào có xiết thụy (điềm lành) đều ứng sinh
              Khắp hoà (cả) tha (nguyên: địa) ngục, bãi hình
           Bát-quốc đế-vị đều sinh hoàng-trừ (con nối ngôi vua)
               (1575) Mọi nhà Thích-chủng (họ Thích) gần xa
                   Đều sinh hoàng-tử chín nghìn năm trăm
                        Trưởng-giả, cư-sĩ, nhân-dân
                    Nam-tử sinh được tám nghìn bốn muôn
                        Ngựa sinh được năm trăm con
         (1580) Đều thì cùng đẻ một đêm mọi tàu (chuồng ngựa, voi)
                   Hễ là thương-cổ (kẻ buôn bán) đâu đâu
                    Đều được châu báu, trước sau về rày
                      *** Thái-tử sinh được bảy ngày
                   Mới đặt tên rày là TRUNG-THIÊN-vương
      (1585) Biểu-tự (tên để thường gọi) Tất-Đạt từ-tường (điềm lành)
                       Ba-Đồ-Ba-Đề là dì giưỡng nuôi
                    *** Đến nên bảy tuổi mất lời (câm)
                  Hoàng-đế liền mời chư (các) La-môn-tiên
                       (( Xem tướng Thái-tử cho Quan
             (1590) (( Biết hay lành dữ, vậy an, được mừng ))
                 Bà-la tâu: (( Vua chưa từng ! (chưa biết)
                   (( Thái-tử tướng-mạo lạ hình người ta
                (( Chưng sau (t.c.:sau nầy) ắt đi xuất-gia
        (( Nhược dù (nếu) ở nhà, truyền vị Luân-vương (Pháp-chủ) ))
             (1595) Thầy tướng tâu dộng (t.c.: tảu) Phụ-hoàng:
            (( A- Kì tiên cả (đầu) ngõ-ngàng (giỏi) thần thông
                 (( Ngài tu ở Hương-sơn trung (trong núi)
                  (( Biết hay quá-khứ, thông cùng vị-lai
                        (( Vua thì đi rước lấy Ngài
     (1600) (( Đến xem được quyết (t.c. đoán, định) kẻo lời hồ-nghi ))
                         Hoàng-đế nghe tâu tức-thì
                     Kết làm toà báu liên-hoa một đài
              Hư-không (trông lên trời) cúng-dàng nguyện lời
                 Chúc-đảo: (( Xin Ngài gấp đến chốn nay ))
                       (16O5) Đại-tiên khi ấy xa hay
                   Phút giây liền đến ngồi nay trên toà
                        Xem tướng Thái-tử, phán ra
                    Tiên-nhân nước mắt nhỏ-sa dòng dòng
                  Hoàng-đế thấy vậy lệ xong (t.c. sợ lắm)
             (1610) Hỏi Tiên-nhân rằng: (( Ấy sự làm sao ? ))
                          Đại-tiên khi ấy nói tâu
              (( Hoàng-đế chớ có lệ-âu (t.c. lo-lắng) chi là
                       (( Thương vì tuổi nay đã già
            (( Năm trăm lại lẻ thêm hoà (t.c. và, với) hai mươi
              (1615) (( Tiếc rằng chăng còn ở chầy (t.c. lâu)
                   (( Được nghe Thái-tử nói nay đạo mầu
                 (( Thái-tử tướng lạ có đâu (không đâu có)
                 (( Ba mươi tướng tốt, tám mươi giống lành
                      (( Trị quốc thiên-hạ thái-bình
         (1620) (( Nhược ( nếu) đi tu-hành, nên Bụt Pháp-vương ))
             Lòng Vua thấy thốt (t.c. nói) bội (t.c. rất) mừng
                   Tiên-nhân lại bảo: (( Nửa mừng nửa lo
                       (( Mừng rằng sinh làm con Vua
             (( Lo mười chín tuổi đi tu dụ (trèo qua) thành ))
               (1625) Thốt thôi hào-quang nhiễu (quấn) quanh
                    A- Kì tiên cả hoá hình biến đi.....

(Trích từ sách Thích-ca Mầu-ni Thập thế chí truyện Chú nghĩa Quốc-ngữ)

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online