Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Chuyển dịch từ ngữ song tiết (Nguyễn Quang Hồng)
Chuyển dịch từ ngữ song tiết (Nguyễn Quang Hồng) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Quang Hồng   
11/11/2013

CHUYỂN DỊCH TỪ NGỮ SONG TIẾT HÁN VĂN SANG TỪ NGỮ VĂN NÔM TRONG BẢN GIẢI ÂM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

* Nguyễn Quang Hồng

Tiểu dẫn

Truyền kì mạn lục là quyển sách 4 quyển gồm 20 truyện ngắn viết bằng văn ngôn chữ Hán. Tác giả là Nguyễn Dữ, sinh vào cuối thế kỉ XV và sáng tác vào nửa đầu thế kỷ XVI. Tương truyền Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) đã từng nhuận sắc tác phẩm này, và khoảng nửa cuối thế kỉ XVI thì được Nguyễn Thế Nghi, người quen thân với Mạc Đăng Dung (1483-1541) từ thưở nhỏ, chuyển dịch sang văn Nôm tiếng Việt.

 

Về sau, phần văn dịch chữ Nôm (mà người xưa quen gọi là “giải âm”) này cùng khắc in chung với nguyên văn chữ Hán là kèm ngay một câu dịch sang chữ Nôm (có vẻ như sau này ta gọi là “dịch đuổi”, nhưng không bằng miệng, mà bằng giấy), và tiếp theo là những dòng chữ Hán chú giải. Đó là những bản khắc in với cái tên sách chung là Tân biên Truyền kì mạn lục (tăng bổ giải âm tập chú). Bản khắc đầu tiên của Tân biên TKML là vào năm Vĩnh Thịnh 10 (1714) thời Lê, và văn bản mà chúng tôi đề cập đến dưới đây là bản khắc năm Cảnh Hưng 35 (1774), có nhiều khả năng là trực tiếp kế thừa bản khắc đầu tiên nói trên. Theo thống kê của chúng tôi, độ dài của toàn bộ 20 truyện trong nguyên tác chữ Hán là gần 37900 lượt chữ, và độ dài của toàn bộ phần “giải âm” chữ Nôm là gần 44500 lượt chữ.

Các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (như văn học, văn hóa học, ngôn ngữ học và văn tự học) dễ dàng nhận thấy giá trị của bộ sách Tân biên TKML, và có thể nghiên cứu nó theo nhiều khía cạnh, nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong bài này, từ góc nhìn ngôn ngữ - văn tự là chính, chúng tôi tìm hiểu các cách chuyển dịch từ Hán sang Nôm để thực hiện Việt hóa ngữ liệu Hán văn trong bước đầu hình thành văn học chữ Nôm của tiếng Việt. Tuy nhiên, do khối lượng tư liệu quá lớn, nên ở đây chúng tôi phải tạm giới hạn phạm vi khảo sát như sau:  (a) Chỉ Khảo sát những từ ngữ chữ Hán song tiết (2 chữ) đã được chuyển dịch sang từ ngữ văn Nôm (với độ dài có thể bằng hoặc lớn hơn 2 chữ). (b) Trong đó, chỉ quan tâm đến những từ Hán Việt mà ngày nay vẫn được sử dụng và khá quen thuộc trong ngôn ngữ văn học tiếng Việt hiện đại: (c) Trong đó, sẽ không kể đến những tên riêng (nhân danh, địa danh, hiệu danh…), tên chức tước, phẩm hàm, học vị.

Phần lớn công phu của công trình này là dành cho việc nhận diện, thống kê, phân tích các ngữ liệu cần được trình bày đầy đủ, với nguồn dẫn rõ ràng. Mặc dù vậy do khuôn khổ bài viết có hạn, các câu dẫn nguyên văn chỉ vừa đủ để thuyết minh vấn đề, còn lại sẽ liệt kê các đơn vị từ ngữ xuất hiện từ hai lần lên trong văn bản với chỉ dẫn xuất xứ đến số quyển, số trang, và số lần xuất hiện. Tổng số đơn vị từ ngữ song tiết chữ Hán được khảo sát trong bài này là hơn 500 đơn vị tương ứng với hơn 800 lần xuất hiện. Tất cả chúng sẽ được phân loại theo các phương cách chuyển dịch và lần lượt trình bày cùng với những dẫn liệu và nhận xét cụ thể.

Dưới đây, để tiện trình bày các phương cách này, sẽ dùng hai chữ AB để trỏ các chữ Hán, và mấy chữ XYZ để trỏ các chữ Nôm giả tá chữ Hán). Nguồn dẫn cứ liệu được viết tắt theo quy ước: (Tên truyện viết tắt, số quyển/số trang).

1. Giữ nguyên không chuyển dịch

Công thức chung cho loại này là AB. Trong toàn bộ văn bản giải âm sách Tân biên TKML  chúng tôi nhận thấy có 196 lần xuất hiện / 135 đơn vị từ ngữ song tiết Hán Việt quen thuộc được giữ nguyên như trong nguyên tác Hán văn. Trong số đó có 23 đơn vị lặp lại nguyên vẹn từ 2 đến 4 lần. Thí dụ:

- “Cư sĩ” xuất hiện 4 lần không chuyển dịch trong bản giải âm: “Tự xưng cư sĩ phục nguyên từ” > “Nghỉ xưng là cư sĩ xin làm lại miếu cũ” (Tản, II/39b). “Ngã cư sĩ giải” > “Ta là cư sĩ vậy” (Tản. II/40b). “Bỉ cư sĩ trung thuần kịch liệt” > “Kìa ngươi cư sĩ ngay trọn hăm hở” (Tản, II/43b). “nãi mệnh bản từ cư sĩ…” > “Bèn khiến bản từ ngươi cư sĩ…” (Tản, II/45b).

- “Phong lưu” xuất hiện 4 lần không chuyển dịch trong bản giải âm: “Phong lưu khẳng nhượng nhân” > “Phong lưu dễ khứng nhường người” (Khoái, I/25a). “Tuyệt liên quân thị phong lưu chủng” > “Câu tuyệt liên ấy đều những giống phong lưu” (Tây, I/63b). “Hứng đáo phong lưu tự bất đồng” > “khi hứng đến trong phong lưu nghỉ lại chẳng đông” > “ (Tây, I/63b). “Phong lưu thoại bổn khủng bị tha chiêm khởi” > “Vốn những lời phong lưu lệ người khác dựng làm lấy” (Kim, IV/53a).

Tuy nhiên, thật khó có gì bảo đảm để nói rằng những từ như thế là luôn luôn cố định. Có không ít những từ song tiết chữ Hán quen thuộc được giữ nguyên không dịch trong trường hợp này, nhưng lại được chuyển sang chữ Nôm trong những trường hợp khác. Xin nêu một vài thí dụ:

- “Phong lưu trong những câu vừa dẫn ở trên đã được giữ nguyên không dịch, nhưng trong các câu sau đây, nó đã được dịch sang từ Nôm là vẻ vang …………..  hoặc giòng thói ………….. tùy thuộc vào nghĩa cụ thể trong câu văn: “Oán lục tu hồng giảm liễu phong lưu nhất đoạn dã” > “Hận màu lục thẹn màu đỏ, kém hết một đoạn vẻ vang vậy” (Tây, I/62a); “Điều ca tiếp khúc đồ khoa Hà Hữu chi phong lưu” > “Điều ca tiếp khúc, không khoe chưng giòng thói đất Hà Hữu (Thúy, III/48b).

- “Ân tình” đã giữ nguyên không dịch trong câu “Dĩ ân tình chi cố kiên thủ tiền minh” > “Lấy chưng cớ ân tình bền giữ lời thề trước” Lệ, IV/39b). Nhưng trong hai câu khác, từ này đã được chuyển dịch thành lòng ơn……….. hoặc lòng ân ái:………. : “Ân tình thiết chí” > “Lòng ơn rất thiết” (Khoái, I/30a), “Khởi kì báng xán như sơn, ân tình tự diệp” > “Há hẹn lời gièm pha bằng núi, lòng ân ái dường lá” Nam, IV/6b).

- “Hoang đường” không dịch trong câu “Bất quá chỉ ngã bối vị hoang đường minh dã, kì hề hại” > “Chẳng qua chỉ chúng ta làm tiếng hoang đường vậy, thửa nào hai” (Kim, IV/53a). Nhưng đã được chuyển dịch theo từ Nôm huênh hoang   hoặc sự huênh hoang trong những câu sau: “Vật vị thần tiên chi thuyết vi hoang đường dã”  > “Mựa rằng chưng lời thần tiên làm huênh hoang vây” (Từ, II/56b): Hữu vô hoang đường kì từ nhược quái hĩ” > “Bênh có bênh chăng là sự huênh hoang thửa lời bằng dường lại vậy” (Từ, II/67a).

2. Giữ nguyên chữ Hán, đảo vị trí

Công thức chung cho phương cách này là AB > BA. Trong số hơn 500 đơn vị song tiết Hán Việt được khảo sát, chỉ thấy có tất cả 7 đơn vị được dịch giả Việt hóa theo cách này. Đó là: “ẩn sĩ”  > sĩ ẩn (Long, II3b), “biệt li”  > li biệt (thúy, III/50a), “bình dân” > 民平 dân bình (Đông, III36b), “hậu ý” > ý hậu (Tây, I68b; Lệ. IV/38a), “hiền sĩ” > sĩ hiền (Lí. IV/18b), “oan hồn” > 魂冤 hồn oan (Trà, I/55b), “sát khí”  > khí sát (Lệ, IV/35b). Trong số này, từ “biệt li” có phần đặc biệt. Ngay trong hình thức Hán Việt vốn đã có thể là “biệt li” và cả “li biệt”, và nhiều khi đã được dịch sang văn Nôm là lìa ghẻ ghẽ lìa, lìa cách  (Tất cả các chữ được đọc Nôm là lìađều dùng nguyên dạng chữ Hán “li” . Dùng nguyên dạng chữ Hán mà đọc theo âm Nôm là hiện tượng phổ biến trong khi giải đọc các văn bản Nôm). Thí dụ:

- Nguyên văn là “biệt li” > li biệt / lìa ghẽ / ghẽ lìa: “Biệt li thường sự tử diệc hà nan” > “Lìa ghẽ là sự thường, thác cũng nào khôn” (Khoái, I/27b), “Tu đối tân lang ngữ biệt li” > “Hổ sánh chàng mới nói sự ghẽ lìa” (Mộc I/37a). Ss. “Biệt li khế khoát chi hoài” > “li biệt cách lí chưng lòng ấy” (Thuý, III50a).

 - Nguyên văn là “li biệt”   > lìa ghẽ lìa cách: “Nhất triêu li biệt, vạn cổ bi thương” > Một mai lìa ghẽ, muôn đời thương cảm” (Tây, I/79b). “Li biệt du du nhất hận thiên cổ” > “Lìa cách thẳm thẳm một chốc hận nagnf đời” (Thúy, III/51a).

Mặc dù số lượng ít, nhưng không thể phủ nhận rằng đây cũng là một cách Việt hóa  từ Hán song tiết theo quy tắc tiếng Việt để có từ Việt song tiết mà các ngữ tố đều là ngữ tố Hán Việt.

3. Thay một chữ Hán bằng một chữ Nôm

  163 lượt xuất hiện / 131 đơn vị từ chữ Hán song tiết được phát hiện trong văn bản giải âm. Cần phân biệt 4 tiểu loại như sau:

3.1. Công thức chung: AB > AX, nghĩa là ở vế dịch Nôm có chữ Hán A được giữ lại, còn chữ Hán B được thay (dịch) bằng một chữ Nôm. Có 61 lượt / 44 đơn vị từ song tiết chữ Hán được chuyển dịch theo phương cách này. Trong đó có 5 đơn vị được xuất hiện từ 2 đến 4 lần: “cam tâm” > ………. Cam lòng (trà, I58b; Đào, II/32b; Lệ, IV/37a; Dạ, IV/56a), “hương hỏa” > ……….. hương lửa (Long, II/1a; Từ, II/56a; Xương, III8b), “li biệt” > lìa cách (Thúy, III51b) và > lìa ghẽ (Tây, I/79b), “uy linh” > ……. oai thiêng (Tản, II/40a; Long, II/8a), “tước vị”  > ……….  tước ngôi (Hạng, I4a; Lí, IV/18a). Riêng từ “sở dĩ”  > thửa mặt xuất hiện đến 10 lần (hạng, I/ 7b x 2 lần; Phạm, II/70b; Xương, III/13a; Na,III/ 26b & 27b; Đông, III/39a; Lí, IV/25a; Nam, IV/6a; Kim, IV/49 b), sở dĩ nhiều như vậy có lẽ vì đây là một hư từ trong câu. Xin đơn cử một vài câu thí dụ:

- “Cam tâm” > ……. cam lòng: “Thoát đắc tương tòng cam tâm minh mục: > Dẫu được cùng theo, cam lòng nhắm mắt (Đào, II/32b). Chung hựu nhẫn cam tâm nhi đầu lữ” > Sau lại nỡ cam lòng mà đầu giặc (Lệ, IV/37a).

- “Uy linh” > ………uy (oai) thiêng:“Đãn vọng bằng tịch uy linh tiễn trừ hung xú” > Những trông nương nhờ oai thiêng dứt trừ loài dữ” (Long, II/ 8a). “Sử hương hỏa vô sở uy linh vô sở xiển vị chi hà da” > Khiến hương lửa chẳng thửa nương, uy thiêng chẳng thửa rệt, rằng chưng sao vậy vay” (Tản, II/40a).

-“Sở dĩ”   >  所默 thửa mặc: “Phàm bỉ sở dĩ cung nghênh ưu tiếp giả vị năng khu quỷ dã” > Hễ người kia thửa mặc kính rước ưu tiếp ấy, vì ta hay xua quỷ vậy” (Đông III/39a). “Thử thế sở dĩ đa loạn thần tử” > ấy đời thửa mặc nhiều tôi loạn con giặc” (Lí, IV/25a).

3.2. Công thức chung: AB > XB, nghĩa là ở vế Nôm giữ lại chữ hán B, còn chữ A được thay (dịch) bằng một chữ Nôm. Có 71 lượt / 57 đơn vị từ song tiết chữ Hán được chuyển dịch theo phương cách này. Có 9 đơn vị xuất hiện từ 2 đến 4 lần: “dao động” > …….. day động (Long, II3b, II/42a), “dương uy” > ra uy (oai) Long, II/8a; QIII, Na, 21b), “đa tạ”    > ……….. nhiều tạ (Khoái, I/31a; Nam, IV/12b),  “đắc đạo” > ………   được đạo (Trà, I/59a; Long, II, II/4a; Na, III/32a), “hàm oan”  > ngậm oan (Tản, II/43b; Nam, IV/5b; Lệ, IV/35b) và cưu oan (Đào, II/32b). “hối lộ”  > ………../ của lộ (Xương, III/6b; Dạ, IV/60a). “nghênh tiếp” > rước tiếp (Thúy, III/44b; Dạ, IV/62a), “tái hợp” > lại hợp (Đào, II/33a; Lệ, IV/28b), “Thành công” >  ……… nên công (hạng,I/5a; Tây, I/75b; Lệ  IV /30a). Xin đơn cử  một vài câu thí dụ: - “Đắc đạo” > được đạo: “Hoặc giả nghi kì đắc đạo vân” > hoặc có kẻ ngờ thửa người được đạo vậy(Trà, I/59a). “Nhược tiều phu giả chân đắc đạo chi sĩ dã dư”  > Bằng người tiều phu ấy thực chưng sĩ được đạo vậy vay” (Na, III/32a).

- “Hàm oan” > ……… ngậm oan / cưu oan: “Bất hạnh hàm oan tử dã” > Chẳng may ngậm oan thác vậy (Lệ, IV/35b). “Nhữ hàm oan lão thảo vị ngã nhi chung” > Mày cưu oan bối rối vì tiểu tăng mà mất (Đào, II/32b).

- “Thành công”   ……. nên công: “Tuy xúy tiêu chức bạ diệc túc dĩ thành công” >  Tuy kẻ thổi tiêu dệt rèm cũng đủ mặc mà nên công (Hạng, I/5a). “Sử tập liễu thành công khán hoa đắc lực” > Khiến nối liễu nên công, xem hoa được sức (Tây, I/75b).

3.3 Công thức chung: AB > XA, nghĩa là giữ lại chữ hán A, thay thay chữ hán B bằng chữ Nôm, đồng thời đảo vị trí. Tiểu loại này không nhiều, có cả thảy 8 lần xuất hiện / 7 đơn vị. Chỉ có một đơn vị dùng hai lần, đó là từ song tiết chữ Hán “hoa chúc” > …….. đuốc hoa: “Mạc nhược hoãn hoa chúc chi trình kì gỉa vân song chi tuế nguyệt” > Chẳng bằng khoan đuốc hoa chưng hẹn cùng kì, giả song mây chưng năm cùng tháng (Tây, I/73a). “Lưu hỏa động phòng hoa chúc dạ” > Đành chờ đuốc đêm soi phòng thẳm (Long, II/2a).

Tiểu loại này tuy ít, nhưng cùng với tiểu loại. 3.4 dưới đây phản ánh cách kết hợp vừa dịch nghĩa vừa chuyển trật tự ngữ tố cho phù hợp với từ pháp tiếng Việt có cấu trúc chính phụ.

3.4. Công thức chung: AB > BX, nghĩa là giữ lại chữ Hán B, thay chữ Hán A bằng một chữ Nôm  đồng thời đảo vị trí, sao cho phù hợp với trật tự , các ngữ tố trong cấu trúc chính phụ của từ ngữ. Có tất cả 25 lượt xuất hiện / 21 đơn vị từ ngữ song tiết Hán được chuyển dịch theo phương cách này. Trong đó có 4 đơn vị được sử dụng 2 lần. Cụ thể như sau:

- “Hương hồn” > ……..hồn thơm: “Hương hồn nhất phiến cánh hướng thùy gia phiêu bạc dã” > Hồn thơm một tấm lại phiêu  bá đến nhà ai vậy (Tây, I/ 74b). “Hương hồn chung bất đáo Liêu Tây” > Hồn thơm trọn chẳng đến đất Liêu Tây (Kim, IV/443a).

-“Lương duyên” …… duyên lành: “Ngã bổn viễn khách, ngẫu kết lương duyên” > Ta vốn khách phương xa, tình cờ kết duyên lành (Mộc, I/39b). “Lương duyên vị hứa tâm tiên hứa” > Duyên lành chửa khứng cho, lòng đã trước cho (Tây, I/69b).

- “Nguyên khí” > ……khí cả …….khí lớn: “Đế Quân thốn thổ nguyên khí chu lãm bát cực” > Ông Đế Quân nuốt nhả khí lớn, khắp xem tám cõi (Phạm, II/73a). “Hao tổn thần chi nguyên khí chân tinh” > Hao tổn nô chưng khí cả tinh thực (Xương, III/9a).

- “Thảo am” > ………. am cỏ: Chí tắc đài tỏa thảo am cô phục hành tích” > Đến thời rêu rấp ôm cỏ, chẳng còn dấu đi (Đào, II/38a). “Huề cung độc thượng, kiến nhất thảo am” > Cầm gậy trúc một mình lên, thấy một am cỏ (Na, III/18a).

4. Thay cả hai chữ Hán bằng hai chữ Nôm

Từ ngữ song tiết chữ Hán được dịch trọn sang từ ngữ song tiết chữ Nôm chiếm một khối lượng lớn nhất trong toàn bộ các từ ngữ được khảo sát. Có đến 361 lượt xuất hiện / 236 đơn vị thuộc diện này. Công thức chung của phương cách này là AB > XY. Tuy nhiên, căn cứ vào cách dịch nghĩa, ta có thể phân biệt hai tiểu loại: Một là dịch sát nghĩa từng chữ từ AB sang XY. Hai là dịch thoát nghĩa chung của AB sang XY.

4.1. Dịch sát nghĩa từng chữ từ AB sang XY.

Có tất cả 195 lượt hiện diện / 131 đơn vị từ song tiết chữ Hán được chuyển dịch theo kiểu này lại có thể phân biệt thành 2 mảng, nếu ta chú ý đến hiện tượng có hay không chuyển đổi vị trí của chữ tương ứng về nghĩa trong hai vế AB và XY.

(a) Không chuyển đổi vị trí của chữ tương ứng. Có nghĩa là chữ Hán A sẽ tương ứng với chữ Nôm Y trong công thức AB > XY. Đây có thể gọi là hiện tượng “trực dịch” từng chữ một ở cấp độ từ ngữ. Có đến 122 lượt / 84 đơn vị thuộc diện này. Trong đó có 23 đơn vị xuất hiện từ 2 đến 4 lần: “bất giác” > ……. chẳngcốc (Lệ, IV/36b; Lệ, IV/49b), “bất hạnh” >……..chẳng may (Long, II14b; Lệ, IV/35b; Dạ, IV/55b), “Bất tất” > ……. chẳnglọ (Tản,II/44b; Từ, II57b; Lệ, IV/38b; Kim, IV/52a), “bất trung” > ..........chẳng ngay (Phạm, II/71b; Thúy, III/59a), “cổ kim” > …………xưa nay (Phạm, II/70a; Xương, III/12a), “cực lực”  > ……… hết sức (Kim, IV/54a; Dạ, IV/59b Dạ, IV/62b), “hà tất” > ……... nào ắt / ……… sao ắt / …….. nào lọ (Đào, II/28a; Phạm, II/78a; Na, III/26b; Kim, IV/50a), “hiếu sinh” >   …….ưa sống / ………..(Lí, IV/1719a), “khởi binh” > …………. dấy quân (Lệ, IV/30a; Lệ, IV/38b), “mặc nhiên”  > lặng vậy (Đào, II/34aH; Na, III/31a), “ngẫu nhiên”   > xảy vậy (Long, II/9b; Nam, IV/9b), “nỗ lực” > năng sức (Tản, II/46b; Lí, IV/18b), “phong trần” > ………gió bụi (Khoái, I/ 21b; Khoái, I/28b), “phú quý” > …………giàu sang (Trà, I/54a; Dạ, IV/63a), “phụ mẫu”   > …………cha mẹ (Nam, IV4b; Lệ, IV/26b) “thanh tịnh” > trong sạch (Phạm II/73a; Đào, II/21b), “thiên địa” > ……… trời đất (Hạng, I11a: Na, IIII/27b), “tồn vong” > …….. còn mất (Hạng I /8b; Khoái, I /18a; Dạ, IV/67/b), “tự cấp” 自級 > nghỉ đủ (Trà, I/49a; Thúy, III/52b), “tương kiến” > …….Cùng thấy (Khoái, I/49a; Thúy, III/52b), “tương kiến” > cùng biết (Long, II/4b; Lí, IV/17b), “vãng lai” > ……. đi lại / qua lại (Long, II/3a; Đào, II/20b; lệ, IV/26b; Kim, IV/49b), “vị tất” > …..  chữa ắt (Đào, II/24a & 34b; Từ, II/50a & 67a; Lí, IV/16b). Xin dẫn một số câu thí dụ với cùng một đơn vị từ song tiết chữ Hán được dịch thành mấy từ song tiết chữ Nôm khác nhau:

- “Hà tất” > ….. nào ắt / ôm khác nhau: nào lọ: “Hà tất thượng Nam lâu”   Sao ắt lên lầu Nam (Đào, II/28a). “Sĩ các hữu chí hà tất nãi nhĩ”  Sĩ đều có chí, sao ắt bằng thể ấy vậy (Na, III/26b). “Bình hộ nghị môn hà tất Thôi Lư Lí Trịnh” > Cửa Trần Bình cũng luận gả, nào lọ họ Thôi, họ Lư, họ Lí, họ Trịnh. (Lệ, IV/26b).

- “Hiếu sinh” > ………..ưa sống / ……. Muộn sống:  “Hiếu sinh ố sát thùy vô thị tâm” > Mà ưa sống ghét thác, ai chẳng có lòng ấy (Lí, IV/17a). “Huống thiên dụng đức nhi bất dụng uy, nhân hiếu sinh nhi bất hiếu sát”  Huống chi trời dùng đức mà chẳng dùng uy, người muốn sống mà chẳng muốn chết (Dạ, IV/56b).

- “Vãng lai” > ……… đi lại / qua lại: “Dĩ phụ mẫu tương hậu chi cố vãng lai vô gián” > lấy chưng cớ cha mẹ cùng hậu, đi lại chẳng có gián cách (Lệ, IV/26b). “Thường vãng lai hành hiển ngụy Nhược Chân gia”  > Hằng qua lại nhà quan hành khiển là người Ngụy Nhược Chân (Đào, II/20b).

(b) Có chuyển đổi vị trí của chữ tương ứng. Có nghĩa là chữ Hán A sẽ tương ứng với chữ Nôm X về nghĩa trong công thức AB > XY. Có tất cả 70 lượt xuất hiện / 45 đơn vị từ xong tiết chữ Hán thuộc mảng này. Trong số này trừ 16 lượt / 10 đơn vị là từ ngữ có cấu trúc chính phụ, là những từ ngữ khi dịch buộc phải chuyển đổi vị trí các ngữ tố sao cho phù hợp với từ pháp tiếng Việt (ngược với tiếng Hán). Theo đó ta có thể chia thành hai nhóm như sau:

Nhóm Một gồm những từ ngữ song tiết có cấu trúc chính phụ. Có tới 54 lượt / 35 đơn vị thuộc nhóm này. Trong đó 12 đơn vị xuất hiện từ 2 lần đến 4 lần: “gia tư” > ……. của nhà (Mộc, I33a; Trà, I/49a), “giai nhân” > …….người lành / …………người đẹp (Đào,II/32b; Nam, IV/13b; Kim, IV/43a), “hậu thế” > ........ đời sau (Hạng, I/11a; Tản, III/46b; Đà, III/68a), “không trung” …….. Giữa trời (Khoái, I/30a; Mộc, I/44a; Đào, II/37a; Lí, IV/24a), “mĩ nhân” > ……. người tốt > …………người đẹp (Tây, I/67a; Kim, IV/41a  45a), “tân lang” > chàng mới (Mộc, I/36b; Khoái, I/27b; Từ, II/57b), “tha hương” ……. 圭恪 quê khác (Khoái, I/21a & 21b; Lệ, IV/36a), “thâm tình” > ……….lòng thẳm (Tây, I/68a; Lệ, IV/38a), “thi tứ” > ……….. lòng thơ /  Ý thơ (Từ, II61a; Kim. IV/53b), “thiếu thời”少時…….thưở trẻ (Từ, II/66a; Phạm II/69b), “tiền bối” > tác trước (Long, II/7b; Phạm, II/70b), “u hoài” > ……. lòng nhẹm /…… lòng thẳm (Mộc, I/34b; Lệ, IV/38a). Xin dẫn một số câu làm thí dụ:

- “Giai nhân” >………người lành / …………người lành: “Thành bất sử giai nhân độc tử” > Thực chẳng khiến người lành một mình thác (Đào, II/32b). “Vi trượng phu giả vô sử giai nhân chí thị tai” > Kẻ làm trượng phu ấy chớ khiến người lành đến nỗi ấy vậy thay (Nam, IV/13b(). “Giai nhân nhà đả thu thiên viện” > người đẹp khi rỗi đánh đu trong viện (Kim, IV/43a).

- “Mĩ nhân” > …… người tốt /  …… người đẹp: (Kế hữu mĩ nhân tự xưng Vi thị…” > Nối có người tootrs tự xưng họ Vi… (Tây, I/67a). “Bàng hữu mĩ nhân lí châu trâm ngọc” > Bên có người tốt dận giày châu cài trâm ngọc (Kim, IV/41a). “Mĩ nhân kim trướng yể lưu tổ” > Người đẹp trong trướng vàng rủ giải lưu tooer” (Kim, IV/45a).

- “U hoài” >……. lòng thẳm / …….. lòng nhẹm: “Dục tả u hoài, mạn lao kí chỉ” > Muốn rửa tấm lòng nhẹm, luống mỏi mượn tay gảy (Mộc, I/34b). “Cảm thuật u hoài, hạnh thùy tri tất” > Dám bày lòng thẳm, phúc rủ biết hết (Lệ, IV/38a).

Nhóm Hai  gồm những từ ngữ có cấu trúc đẳng lập là chính. Nhóm này có số lượng ít hơn hẳn (16 lượt / 10 đơn vị). Có 3 đơn vị xuất hiện từ 2 đến 4 lần: “quốc gia” > …… nhà nước (Phạm, II/71b x 2 lần; Đà, III/67b), “Quy y”  nương về (Đào, II22a; Đông, II                    I/36b), “từ bi” > ……… hiền lành (Đông, III/ 36b & 42b; Đào, II/21b & 36a). Thí dụ:

- “Quốc gia” > …… nhà nước:  (Cập trù quốc gia đại sách, quyết quốc gia đại kể” >  Đến khi trù chức cả nhà nước, quyết mưu cả nhà nước (Phạm, II/71b).

- “Quy y” > nương về: “Đài đầu gian dĩ quy y Đâu Suất chư thiên” > Ngước đầu thưở ấy, đã nương về cung Đâu Suất mọi chốn (Đào, II, 22a).

- “Từ bi” > ……. hiền lành: “Phật cố điềm nhiên tọa thị vô nãi từ bi quá thậm hồ” > Bụt chỉn lặng vậy ngồi xem chẳng bèn hiền lành quá thậm vậy ôi (Đông, III/36b).

4.2. Dịch thoát nghĩa của vế Hán AB sang vế Nôm XY

Có tất cả 116 lượt xuất hiện / 105 đơn vị từ song tiết chữ Hán được chuyển dịch theo kiểu này. Trong tiểu loại này có thể chia thành 2 mảng, dựa vào quan hệ ngữ âm  (láy âm hoặc ghép âm).

(a) Không có quan hệ ngữ âm giữa A và B. có 99 lượt / 75 đơn vị từ song tiết Hán thuộc diện này. Điều đáng lưu ý là nhiều khi có thể tìm thấy một sự tương ứng ngữ nghĩa nào đó giữa một chữ Hán AB với một chữ Nôm ở XY. Nhưng chữ Hán và chữ Nôm còn lại thì không có được sự tương ứng ngữ nghĩa như vậy. Trong mảng này có 14 đơn vị xuất hiện từ 2 đến 4 lần và 1 đơn vị xuất hiện 5 lần: “ba đào”    > ……….sóng nước / ……….sóng cả (Khoái, I/17a; Từ, II/63b), “chu toàn” > …….. trọn vẹn / …….(.oanh) quanh tới (Khoái, I/28a; Long, II/7b; Đông, III/38b; Nam, IV/5b), “đại để” > / ……. thảy cả (Hạng, I/7a, Khoái, I15b; Phạm, II/70b; Đông, III/43a; Kim, IV/47a), “đối thoại” > nói khó/ ……. thưa nói (Hạng, I/3a; Na, III/25b), “gia thất” > …./, cửa nhà (Xương, III/5; Nam, IV/7a), “nhan sắc” >……. mặt mũi (Khoái, I/30b; Tây, I/64b; Từ, II/48a), “nhất nhất” > thảy thảy (Từ, II/66a; Phạm, II/71a), “sĩ tử” > học trò (Tây, I/61a; Kim, IV/40b), “tân hôn” > …….vợ mới / dâu mới (Tây, I/68b; Nam, IV/b x 2 lần), “thuê lương” > ,…… lạnh lẽo (Tây, I/79a; Thúy, III/53b), “thổ địa” > ….…… đất đai (Hạng, I/9a; Phạm, II/76a), “tiễn biệt” > ……. đưa ghẽ (Khoái, I/17a; Khoái, I/27b; Tây, I/68b), “tiêu ma”   tan mòn (Hạng, I/9b; Dạ, IV/57b), “tung tích” >   đi lại /………. noi bước / dấu diếm ………(Mộc, I/39b; Long, II/2b; Đà, III/69b), “văn tự” > ……… chữ nghĩa (Mộc, I/37b; Kim, IV/50a). Có thể dẫn vài câu thí dụ như sau:

- “Ba đào” > ……. sóng nước /……. sóng cả: “Nhẫn sử ba đào vạn lí chướng vụ song thân” > Nỡ khiến sóng nước muôn dặm, khí chướng mù hai thân (Khoái, I/17a). “Tứ diện ba đào nhất kiết sơn” > Bốn bề sóng cả, một đỉnh núi dường búi tóc (Từ, II/63b).

- “Tân hôn”  > vợ mới ……/ …… dâu mới: “Vô dĩ tân hôn chi lạc nhi vong cựu nhật chi tình” > chớ lấy chưng vui vợ mới mà quên chưng lòng người cũ (Tây, I/68b). “Nguyện bỉ thương thiên bất phụ lão thân dã” > Xin trời xanh kia chớ phụ dâu mới bằng dâu mới chưng chẳng phụ mẹ già vậy (Nam, IV/4b).

- “Tung tích” > ……… đi lại/ …….. noi bước ……/ dấu diếm: “Nhiên chỉ xích Tiên cư vị thường tung tích” > Song gang thước chốn Tiên ở chửa từng đi lại (Mộc, I, 39b). “Phàm giang tân thủy thứ thận vô tung tích yên” hễ bến sông chốn nước chớ noi bước vậy (Long, II/2b). “Yên hà thử khứ vô tung tích” > Khói rán chốn ấy đi chẳng có dấu diếm (Đà, III/69b).

(b) Có quan hệ ngữ âm giữa A và B. Đây không hẳn là những từ ngữ lắp láy, mà có khi là từ ghép có chiếu cố đến hài âm theo âm đầu hoặc theo âm đầu hoặc theo vần giữa A và B. mặc dù vậy ở vế Nôm thì giữa X và Y không phải bao giờ cũng liên quan về mặt ngữ âm. Xét về nghĩa, ta hầu như không tìm thấy mối liên hệ trực tiếp nào giữa một thành tố trong vế Hán AB với một thành tố nào trong vế Nôm XY. Có tất cả 72 lượt / 34 đơn vị song tiết Hán thuộc kiểu loại chuyển dịch này. Trong đó có 10 đơn vị xuất hiện từ hai đến 4 lần, riêng một đơn vị (là thán từ “ô hô” > hỡi ôi) xuất hiện 21 lần (với 19 lần mở đầu “Lời bình, mỗi truyện). Lần lượt liệt kê như sau: “ân cần” > ……..gắn bó / cặn kẻ / …….lo lắng (Tây, I61b; Long, II10; Xương, III/4a), “bàng hoàng” > bồi hồi (Tây, I/67b; Đào, II28/28b; Na, III/18a) “bồi hồi” > lãng đãng (Đào, II/35a; Từ, II/51b), “đường đột” >   xông xáo (Long, II/10a; Thúy, III/46a), “Hoang đường” > huyênh hoang (Từ, II/56b & 67a), “khảng khái” >   hăm hở (Tản, II/39a; Lí, IV/17b; Lệ, IV/35a), “la liệt” > ……. xếp hàng / …… phô bày (Hạng, I/3a; Dạ, IV/57b),   “lâm  li” > …… đầm đìa / …… thấm tháp (Lí, IV/22a; Kim, IV/54a), “lưu li” > > phiêu bạc / …….phiêu trôi (Phạm, II/76a; Lệ, IV/36a), “ô hô” > hỡi ơi (Hạng, I/14a; Khoái, I/32a; Mộc, I/44b; Trà, I/59b; Tây, I/71b & 80a x 2 lần; Long II/17b &; Đào, II/38a; Tản, II/47a; Từ, II/66b; Phạm, II/77b; Xương, III/12b; Na, III/32a; Đông, III/41a; Thúy, III/59a, Đà, III/70b; Nam, IV/12b; Lí, IV/24b; Lệ, IV/39a; Dạ, IV/67a), “tịch mịch” > ….. vắng vẻ (Từ, II/59a; Xương, III/9a), “tiêu điều” ….. >  …. vắng vẻ / lạnh giờn (Khoái, I/2a; Xương, III/9a; Lệ, IV/35b), “triền miên” 綿 > lơi dơi /……. bện bịt (Đào, II/32bb; Nam. IV/3b). Một số câu thí dụ cho kiểu loại này.

- “Ân cần > ……. gắn bó  /cặn kẻ / lo lắng: :Sinh đãi bất năng định tình, toại chí ân cần yên” > Người Nhân Giả chỉn chẳng hay định được trong lòng, bèn nên gắn bó vậy  (Tây, I/61b), “Minh triêu hựu chí, ân cần lao vấn” > Sáng mai lại đến, cặn kẽ an ủi hỏi (Long, II/10b). “Đãn tích nhật dĩ tiên nhân thái triệu vị an, cố ân cần kiến cự” > nhưng ngày sơ lấy mồ nấm kẻ tiên nhân chửa yên, vì vậy lo lắng thấy nỗi ấy dám chống (Xương, III/4a).

- “Lâm li” ….. > …..  đầm đìa / ………..thấm tháp: “Thống gia tiện kích lưu huyết lâm li” > Thêm đau vọt đánh, máu chảy đầm đìa (Lí, IV/22a). “Lâm li túy mặc hoa vựng vị can” > Thấm tháp lóa mực, vòng hoa chửa ráo (Kim, IV/54a).

- “Triền miên” 綿 > lơi dơi / …….bện bịt: “Triền miên bán tải chiên chúc bất lợi” >   Lơi dơi nửa năm, cơm cháo chẳng ngon

(Đào, II/32b). “Mẫu diệc dĩ tư sinh cố triền miên chí bệnh” > mẹ chàng cũng lấy cớ nhớ chàng bệnh bịt bèn nên bệnh (Nam, IV/3b).

5. Song tiết Hán văn chuyển dịch thành đa tiết văn Nôm

Trở lên, chúng ta chỉ mới quan sát những trường hợp từ song tiết chữ Hán chuyển thành song tiết chữ Nôm. Đành rằng đấy là phần chủ yếu, song cũng có một số trường hợp từ song tiết Hán được chuyển dịch thành từ ngữ Nôm gồm ba bốn tiếng (chữ).

5.1. Hai chữ hán văn chuyển dịch thành ba chữ văn Nôm

Có thể chia làm hai nhóm nhỏ trong tiểu loại này như sau:

(a) Nhóm Một bao gồm những trường hợp chuyển dịch theo công thức AB > XAB, nghĩa là ở vế dịch chỉ thêm vào trước AB một chữ Nôm thôi. Tác dụng của cách dịch thêm chữ này là giúp cho người đọc văn Nôm hiểu chính xác hơn, cụ thể hơn ngữ nghĩa của từ ngữ song tiết Hán. Chữ Nôm được dùng để thêm vào thường là để chỉ người (người, kẻ, đấng, chàng, nàng, bà, quan, thầy), nơi chốn (chốn, nơi, cõi, trên, dưới), thời gian  (thưở) … Khả năng sử dụng của những chữ Nôm này để phụ nghĩa là đa dạng và linh hoạt. Bởi vậy, không nhất thiết phải xác định số lượng của chúng trong văn bản. riêng trường hợp “bình sinh” > thưở bình sinh xuất hiện khá nhiều lần (9 lần) và rất nhất quán (Trà, I54a; Tây, I/63b & 73a; Đào, II/32b; Từ, II/53a; Phạm, II/69a; Đông, III/40b; Lệ, IV/38a; Dạ, IV/62b). Có thể dẫn ra đây một vài thí dụ.

- “Quân tử” > …… người quân tử / …. Đấng quân tử:   “Nguyện quân tử hẩy hơi dương hòa ư u cốc” > Xin người quân tử hẩy hơi dương nhần chưng hang thẳm (Mộc, I/36a). “Dĩ cao minh quân tử tá chi giả chúng” > Lấy đấng quân tử cao sáng giúp đấy nhiều vậy (Đông, III/42b).

- “Nhân gian” > …… trong nhân gian / . Cõi nhân gian …… / chốn nhân gian: “Nhân gian phú quý tưởng cực bình sinh” > trong nhân gian giàu sing tưởng đã rất nhớ thưở bình sinh (Trà, I/54a).” Hoa lưu động khẩu hề, thủy đáo nhân gian” > Hoa còn ở cửa động Tiên vậy, nước đã chảy đến cõi nhân gian (Tây, I/72a). “Bỉ xứ nhân gian thần cư thủy tề” > Đứa kia ở chốn nhân gian(Tây, I/72a). “Bỉ xứ nhân gian thần cư thủy tế” > đứa kia ở chốn nhân gian, tôi ở cung thủy tế (Long, II/13b).

- “Hồ li” > …… muông hồ li: “Hồ li hoa biểu chi tinh” > Chưng muôn hồ li cơn [cây] hoa biểu (Xương, III/9b).

(b) Nhóm Hai bao gồm những trường hợp trong đó AB đã được dịch thành ba chữ. Nếu xem xét kĩ cũng có thể chia nhóm này thành hai mảng nhỏ, tùy thuộc vào chỗ ở vế dịch Nôm có hay không giữ lại ít nhất một trong hai chữ A hay B.

Có tất cả 34 lượt / 32 đơn vị song tiết Hán được chuyển dịch sang ba âm tiết Nôm theo kiểu có giữ lại ít nhất một trong hai chữ A hay B. nói “ít nhất” vì cũng có mấy trường hợp cả A và b đều được giữ lại, nhưng bị một chữ khác chen vào giữa theo công thức AB > AXB: “Bắc triều” > …… triều bên Bắc (Tản, II/41a), “tạm thời”  > tạm một thời (Phạm, II/74a), “tùy ý” >  tùy thửa ý (II/74a). Số còn lại đều chỉ giữ lại một trong hai chữ A hay B mà thôi, có điều không tập trung theo một công thức chung nào. Xin dẫn một số câu thí dụ:

- “Dã sử” >  sách sử quê: “Dã sử chích di, phàm mai phách kình tinh nhi diệc lục” > Sách sử quê lặt sự sót, hễ phách cây mai tinh cây đèn mà cũng biên (Xương, III/7a).

- “Hồ tinh” > tinh cái cáo / ……. tinh con cáo: “Độc bất kiến hao biểu hồ tinh chi sự hồ” > Một chẳng thấy chưng sự cột hao biểu tinh cái cáo kia ru (Đà, III/61a). “Đệ văn thử xử hữu thiên tuế hồ tinh” > Chỉn mắng tiếng chốn ấy có tinh con cáo ngàn ănm (Đà, III/65a).

- “Tạm thời” >  tạm một thời: “tùy tiêu ngự tạm thời quan du” > chỉn trông theo đòi xe gió tạm một thời xem chơi (Phạm, II/74a).

- “Trần gian” > …….  trong trần ai: “Trần gian danh lợi khách: > trong trần ai những khách danh lợi (Đào, II/28b).

Có tất cả 35 lượt / 30 đơn vị song tiết Hán được dịch tiệc để sang ba tiếng Nôm theo công thức AB > XYZ. Có 4 đơn vị xuất hiện 2 – 3 lần: cổ nhân” > …… người đời xưa (Đông, III/39a; Kim, IV/48b), “hào kiệt”   > kẻ hiền ngỏ (Lí, IV/14a; Lệ, IV/31b), “nội trợ” > ……. giúp bề trong  (Khoái, I/16a; Kim, IV/40a), “tà dương 斜揚 …… mặt trời xế (Khoái, I/30b; Từ, II/58b; Na, III/18a). Một số câu thí dụ:

- “Đồng tâm” > ……. cùng một lòng: “Thủy tinh cung lí kết đồng tâm” > trong cung thủy tinh kết cùng một lòng (Long, II/2a).

- “Lục súc” > ……. ……. sáu giống nuôi: “Phiến động bình dân họa cập lục súc” > Day động dân bình, hại đến sáu giống nuôi (Đông, III/36b).

- “Thù lao” > …..…… đền công nhọc: “Hoàng thiên dĩ huyết thực thù lao sử hâm kì tự”  Vua trên trời lấy ăn tươi đền công nhọc khiến hưởng thửa tế (Tản, II/44a).

- Tiểu thư” > …… nàng tuổi trẻ: “Ô hô tiểu thư, hâm thử phương tôn” >Hỡi ơi nàng tuổi trẻ! Hưởng chén rượu thơm ấy (Khoái, I29b).

5.2. Hai chữ Án văn chuyển dịch thành bốn chữ văn Nôm

Kiểu dịch này không nhiều, chỉ thấy 13 lượt / 13 đơn vị. Thí dụ:

- “Hưởng ứng” >  ……. ứng bằng tiếng vang: “Tứ phương hào kiệt viễn cận hưởng ứng” > bốn phương kẻ hiền ngưỡng xa gần ứng bằng tiếng vang (Lí, IV/14a).

- “Thành bại”   >  khi được khi mua:

Khởi há lệ dĩ thành bại luận chi tai” > Há khả so lấy khi được khi thua mà luận đấy vậy thay (Hạng, I6a).

- “Tịch dương” > …… …… mặt trời ban hôm: “Nhôm  yêu ẩn tà dương” > sừng núi giấu mặt trời ban hôm  (Đào, II/28a).

- “Tương tri” > cùng quen biết nhau: “Thời hương nhân Lê Ngộ dữ Dĩ Thành tố tương tri giả” Thời ấy người làng là ngươi Lê Ngộ cùng ngươi Dĩ Thành vốn cùng quen biết nhau) (Dạ, IV/62).

Tiểu kết

(a) Như có thể thấy qua các dẫn chứng trên, một đơn vị song tiết Hán có thể bao giờ cũng chỉ được dịch theo một  kiểu tương ứng với một đơn vị từ ngữ Nôm cố định (như: “ô hô” > Hỡi ôi, “sở dĩ” thửa mặc, “đại để” > ……. thảy cả,...), nhưng cũng lắm khi một từ ngữ Hán văn đã tùy theo cảnh mà được chuyển dịch theo kiểu khác và tương ứng với nhiều “bản dịch” khác nhau trong bản văn Nôm (như: “biệt li”  > lìa ghẽ ghẽ lìa, lìa cách , nỗi cách lìa, “u hoài” > lòng thẳm / …… lòng nhẹm lòng sầu thẳm). Cũng có khi một “bản dịch” văn Nôm tương ứng với không chỉ một đơn vị song tiết trong Hán văn, do có sự gần gũi hoặc xê xích về nghĩa giỡ hai bên Hán và Nôm (Như: người đẹp dịch cho “giai nhân” . Nhưng cũng dịch cho “mỹ nhân” lòng thẳm  vừa dịch cho “U hoài” vừa dịch cho “thâm tình” Điều thú vị là đôi khi dịch giả dùng từ hán việt này để “dịch” cho từ Hán Việt kia (như: “bàng hoàng” có khi dịch là “bồi hồi” , còn, “bồi hồi”. thì dịch là “lãng đãng” ).

(b) Trong phạm vi khảo sát các từ ngữ song tiết Hán Việt quen thuộc, ta thấy số lượt xuất hiện của những trường hợp được chuyển dịch bằng cách này hay cách khác (gọi tắt là D) chiếm vị trí áp đảo so với những trường hợp để nguyên cả khối không chuyển dịch (gọi tắt là K): D/K = 614 lượt/196 lượt - 76% / 34 %. Trong phạm vi của D, thì phương thức chuyển dịch được sử dụng rộng rãi nhất là phương thức chuyển dịch triệt để cả hai chữ Hán sang hai chữ Nôm: AB > XY, gồm 361 lượt: [AB > XY] / D = 361 lượt / 614 lượt = 57%. Nếu xét về số lượng âm tiết (chữ) ở vế dịch Nôm thì ta thấy cấu trúc song tiết (gọi tắt là ST) được sử dụng nhiều hơn hẳn so với cấu trúc ba hay bốn âm tiết (gọi tắt là ĐT): Tỉ lệ này là D-ST / D = 532 lượt / 614 lượt = 86,5 %, như vậy D-ĐT chỉ chiếm 23,5% mà thôi (không kiểu chuyển dịch theo công thức AB > XAB).

Những gì đã trình bày trên đây chưa đủ để làm căn cứ đánh giá hết chỗ mất chỗ được của dịch giả khi chuyển dịch tác phẩm truyện kì mạn lụctừ văn ngôn chữ Hán sang văn xuôi chữ Nôm tiếng Việt ở cuối thế kỉ XVI. Người đọc ngày nay đôi khi có chút lạ lẫm với khá nhiều trường hợp trực dịch từng chữ của dịch giả. Tuy vậy, cũng phần nào nhận thấy những cố gắng của dịch giả trong việc khai thác tiềm năng của tiếng Việt đương thời và linh hoạt vận dụng mọi phương cách để có được một dịch phẩm văn xuôi chữ Nôm trong sáng xứng đáng được người đời truyền tụng.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Quang Hồng, (phiên âm và chú giải), truyền kỳ mạn lục giải âm, Nxb KHXH, H., 20001

2. Kawamoto Kuniye ( ), , Truyền kỳ mạn lục san bản khảo,  khánh Hưng Nghĩa thục đại học xuất bản, Tokyo, 1989.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online