Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Chọn chuẩn chính tả (Hồ Xuân Tuyên)
Chọn chuẩn chính tả (Hồ Xuân Tuyên) PDF In E-mail
Người viết: Hồ Xuân Tuyên   
11/11/2013

CHỌN CHUẨN CHÍNH TẢ CHO NHỮNG TRƯỜNG HỢP LƯỠNG KHẢ

* Hồ Xuân Tuyền

1. Mở đầu

Chính tả tiếng việt hiện nay vẫn đang là vấn đề phức tạp làm đau đầu các nhà Việt ngữ. Những khó khăn lúng túng đó biểu hiện không chỉ từ những cách xử lý chính tả trong các cuốn sách, tạp chí và những tờ báo đang tồn tại hiện nay mà ngay cả những cuốn từ điển chính tả cũng có những quan điểm biên soạn rất khác nhau của tác giả hoặc nhóm tác giả khác nhau. Chúng ta đã có Quyết định số 240/QĐ - Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt của Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Thị Bỉnh Kí) ban hành ngày 5/3/1984.

 

          Chúng ta có Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục do Bộ giáo dục (Thứ trưởng Võ Thuần Nho kí) và Ủy ban khoa học xã hội (Phó Chủ nhiệm Phạm Huy Thông kí), ban hành ngày 30/4/1980. Tuy nhiên, những trường hợp khó xử lí, các quy định trên cũng chưa đưa ra được cách giải quyết rốt ráo: “khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen xử dụng nghiêng hẳn về một hình thức” [4]. Chúng ta cũng đã có cuốn Từ điển Chính tả tiếng Việt do Hoàng Phê  và các đồng tác giả biên soạn năm 1988, tức là sau những y định trên. Rong cuốn từ điển này còn rất nhiều trường hợp một từ có tới hai, thậm chí ba cách viết khác nhau. Chính các tác giả cuốn từ điển này còn rất nhiều trường hợp một từ có tới hai, thậm chí ba cách viết khác nhau. Chính các tác giả cuốn từ điển nêu trên cũng đã thừa nhận sự tồn tại của những trường hợp khó xử lí này và họ đưa ra một phương án xử lí mang tính tôn trọng thực tế sử dụng của đa số: “Trong những trường hợp trước nay vẫn coi là có hai (đôi khi ba) chuẩn song song tồn tại (đối với một từ) (…) thì trên cơ sở mức phổ biến của mỗi cách viết, có thể xác định (bằng cách dùng phiếu từ điển - HX) những trường hợp thật sự có hai chuẩn chính tả cùng tồn tại tương đối phổ biến  như nhau” [1,10].

Một từ có hai, thậm chí ba hình thức chữ quốc ngữ, cũng có thể do phát âm khác nhau, hoặc do phiên âm khác nhau dẫn đến cách ghi khác nhau. Tuy hiện hiện tượng lưỡng khả chính tả là phổ biến ở nhiều ngôn ngữ, nhưng sẽ là tốt hơn, nhiều thuận lợi hơn nếu chúng ta có thống nhất một cách viết cho một từ trong các văn bản hành chính nhà nước, trong môi trường trường học.

Cuốn từ điển chính tả và các quy định trên đến nay đã hàng chục năm, chúng ta cũng chưa thể  khẳng định được nhiều trường hợp nào mà “thói quen xử dụng nghiêng hẳn về một hình thức” để giảm bớt số trường hợp lưỡng khả. Thực tế sử dụng đã gặp không ít khó khăn về những trường hợp lưỡng khả này. Nó gây trở ngại cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, cho công tác biên tập, xuất bản và trong đời sống nói chung.

Bài viết này chúng ta xin xuất chọn một chuẩn duy nhất cho một số trường hợp lưỡng khả điển hình nhằm hạn chế những trở ngại trên. Và cũng không dám coi đây là phương án tối ưu và duy nhất.

2. Căn cứ để xác định một chuẩn

Tiêu chí đầu tiên là căn cứ vào chuẩn âm để xác định chuẩn chữ viết. Chính tả tiếng Việt cơ bản là chính tả ngữ âm học, do đó chúng ta cần chọn một hệ thống chuẩn âm. Quy định về chuẩn chính tả tiếng Việt  và thuật ngữ tiếng Việt khi cần nhắc giữa những thói quen phát âm từ nguyên đã đưa ra cách lựa chọn sau đây: “Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xã hội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán)”. Quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, nguyễn Văn Tu, Nguyễn Trọng báu cũng cho rằng” Cách viết các âm tiết của tiếng Việt hiện đại là biết dựa vào một cách phát âm chuẩn mực văn học xem như chuẩn của cuối thế kỷ XIX. Người miền Bắc, miền trung, miền Nam phát âm có khác nhau đôi chút, nhưng trên chữ viết hầu như thống nhất. Chúng tôi cho rằng nên lấy cách phát âm ba âm trong lưỡi vùng Nghệ An, Hà Tĩnh có phân biệt rõ ràng d/gi/r, tr/ch, s/x. sự biến đổi âm qua thời gian lịch sử cũng gần được nghiên cứu để thay đổi cho phù hợp giữa chữ cái những âm vị” [6; 295, 296]. Trong cuốn từ điển nêu trên các tác giả cũng viết “Mặc dầu giữa các địa phương (giữa các phương ngữ) vẫn có sự khác nhau đáng kể trong phát âm, các âm tiết của tiếng Việt nói chung đều có một chuẩn chính tả duy nhất, thống nhất cho cả nước. Phát âm làm cơ sở cho chính tả thống nhất đó thực chất là của thủ đô Hà Nội, tiêu biểu cho phát âm miền Bắc, có bổ sung ba phụ âm đầu tr.(đối lập với ch-), s- (đối lập với x-), r- (đối lập với d-/gi- và hai khuôn (cũng gọi là vần), - ưu (đối với -  iu) và - ươu (đối lập với iêu), phổ biên sở nhiều địa phương lớn khác, miền Trung và miền Nam. Trong phạm vi cả nước” [1,8].

Chúng ta đã căn cứ vào âm Hà Nội (Bắc Bộ) làm chuẩn, bổ sung một số âm của Trung Bộ và Nam Bộ thay cho những âm chưa chuẩn của Bắc Bộ. Nếu căn cứ vào tiêu chí phát âm mà vẫn không xác định được chuẩn (vì bất kỳ ngôn ngữ nào cũng không thể có một hệ thống chữ viết phù hợp trăm phần trăm với phát âm và hơn nữa, ngôn ngữ nào cũng có từ đồng âm) thì căn cứ vào từ nguyên. Chúng ta sẽ chọn cách viết nguyên gốc. Tiếp theo hai căn cứ trên, những trường hợp khác, nên chọn theo hướng khảo sát xác suất xuất hiện của các trường hợp chính tả này trên báo chí, tức là tính phổ biến của chúng. Bởi vì “Xem xét chuẩn chính tả chúng ta cũng phải lưu ý tới mặt sử dụng của xã hội, tính phổ cập tiện dụng và giản đơn”[6, 283]. Tính phổ biến được kiểm tra bằng cách thống kê tần số xuất hiện của mỗi trường hợp trong các cặp chuẩn cùng song song tồn tại trên các tờ báo uy tín, từ đó để có thể chọn một chuẩn. Sách báo dùng để khảo sát gồm: báo Nhân dân, Văn nghệ, Lao động, Tuổi trẻ, Người lao động, Thanh niên…; sách giáo khoa phổ thông hiện nay.

3. Những trường hợp cụ thể

3.1. Thống kê

Trong cuốn từ điển chính tả của Hoàng Phê  nêu trên, căn cứ vào chú thích cho kí hiệu “h” (hoặc), nghĩa là “cả hai hình thức chính tả đều là chuẩn, đang song song tồn tại và có giá trị như nhau” [1, 23], chúng tôi thống kê được khoảng 206 trường hợp có hai hình thức chữ viết cho một từ. Chúng tôi quan niệm đó là lưỡng chuẩn. Trong đó, chúng tôi chia ra: Nếu có một hình thức được in đậm thì chúng tôi tạm gọi là lưỡng khả không điển hình (hay biến thể). Thật ra, không thể gọi chúng là lưỡng khả, vì chính tả tiếng Việt đã quy định thống nhất các trường hợp này rồi. tuy nhiên, chúng tôi vẫn thống kê vì từ điển nêu trên đã xác định hai loại chuẩn: chuẩn chính tả phổ biến (chuẩn chính tả phổ biến, được ghi chú, in đậm”) (tr.23). Thí dụ, tác giả chỉ dẫn” “chòng: chòng chành (h, tròng trành) (tr. 63) - (tr. 309),  “rưởi: rưởi (h. rưỡi)” (tr. 255) - “rưỡi: -rưỡi (h. rưởi)” (tr. 255), “râm:  râm bụt (h. dâm bụt)” (tr. 248) - (dâm: dâm bụt (h. râm bụt)” (tr. 81) … Nếu cả hai trường hợp điều ( tức điều phổ biến) thì chúng tôi gọi là lưỡng khả điển hình. Thí dụ: chung quanh (h. xung quanh) (tr. 67) dậm (hay  giậm) (tr. 82), chưng bày (h. trưng bày) (tr. 70); hoặc  acmônica/ harmônica (tr. 25). Caolanh/ kaolin (tr. 48)… Đây là loại lưỡng khả chính tả mà chúng tôi lưu tâm nhất. Loại này có khoảng 120 trường hợp (chiếm gần 59%).

3.2. Xử lý

3.2.1. Lưỡng khả không điển hình

* Các trường hợp đối lập sau đây, cách xử lý của tác giả từ điển là theo quan điểm bổ sung chuẩn âm, tức là chọn cách phát âm Trung Bộ và Nam Bộ:

- CH- / TR-, chọn TR- có các trường hợp: bù trì/ bù chì, trí mạng/ chí mạng/ trập trùng/chập chùng… (riêng: chờn chơn/trờn trợn, chùng chình/trùng trình, chơn/trợn v.v… chọn CH - theo tiêu chí phổ biến).

- GI-, D-/R-, chọn R- có các trường hợp: râm bụt/ dâm bụt, rấm rứt/ dấm dứt, (bị) rơ/giơ v.v (riêng dái (“cha kính mẹ dái”/ rái  căn cứ vào từ nguyên,  dái cá/ rái cá  căn cứ vào sự phổ biến).

- D-/ T-: ghế tựa/ ghế dựa… chọn T-.

- D-/ Gi: giàng/dàng, giỏi dắn/ giỏi giắn, giăng/dăng, hát dặm/ hát giặm v.v. chọn D D-. Nhưng giâm cây/dâm cây, giẫm/dẫm, gióng giả/ dóng dả, giội/dội, (bị) giong/dông, giăng giăng/dăng dăng…chọn GI-.

- D-/NH-:dấm dẳn/nhấm nhẳn… chọn D-.

- L-/NH: sao nhãng/sao lãng, lem luốc/nhem nhuốc… … chọn L.

- NH-/R: nhộn nhịp/rộn rịp chọn NH-.

- TH-/V-: thí dụ/ví dụ… chọn TH-

- TH-/s-: sẫm/thẫm… chọn S-.

- B-/L-: bòn bon/lòn thon… chọn B-.

- T-/CH: chưng hửng/tưng hửng… chọn CH.

- TR-/R-: bốc rời/bốc trờiì… chọn R-.

- TR-/L-: lòng đỏ/tròng đỏ, lòng trắng/tròng trắng…chọn L-.

- -ÂU-/U-: dù/dầu… chọn - U-.

- -EO-/ -OEO-: tréo khoeo/tréo kheo… chọn -OEO-.

- -O-/ -U-: lụm khụm/lọm cọm, võ thuật/vũ thuật… chọn -U-. Cach chọn này của từ điển phù hợp với thống kê của nhóm tác giả tài liệu [7].

- -ÂU-/ -ÔNG: sầu đông/sầu đâu… chọn –ÔNG-.

- -Ê-/ UÊ-: đểnh đoảng/đuểnh đoảng, chệnh choạc/ chệch choạc… chọn -Ê. Mặc dù -UÊ- đúng quy tắc của từ láy tiếng Việt hơn.

- -IÊ-/ -ƯƠ-: giềng mối/giường mối… chọn -

- -IÊ-/-UYÊ-: truân chuyên/truân chiên, huyên thiêng/ huyên thiên… chọn -UYÊ-.

- -Ư-/ Â-: thực tình/thật tình, thực tâm/thật tâm… chọn -Ư-. Nhưng lại chọn -Â- trong thật sư/thực sự… Theo chúng tôi nên thống nhất  -Ư-.

- -Ă-/ -Â-: bặm môi/bậm môi, gặm/gậm… chọn Ă. Riêng (một)chập/chặp…thì chọn -Â-. Theo chúng tôi nên chọn thống nhất -Ă-.

- -A-/ -Â-: cày cục/cầy cục, lảu bảu/lảu bẩu, làu bàu,lầu bầu, nhún nhảy/nhún nhẩy… chọn -A. Nhưng (gậy) tầy/tày, quẩy/quảy… lại chọn - Â-. Theo chúng tôi nên thống nhất chọn -A-.

- -ƯU-/ -IU: mắc mứu/mắc míu… chọn - -ƯU-.

- Dấu ? (hỏi)/ dấu ~ (ngã): (gấp) rưỡi/rưởi… chọn dấu ~ (ngã). Cách chọn này phù hợp với kết luận sau khi thống kê tần số xuất hiện của hai trường hợp này trong tài liệu [7].

- Dấu ? (hỏi)/ dấu \ (huyền)” (bải hải/bài hải… chọn -  dấu ? (hỏi).

- Dấu \ (huyền)/ không dấu.

- Dấu . (nặng)/ dấu \ (huyền): bọ cạp/bò cọp… chọn -  \ (huyền).

- Dấu . (nặng)/ dấu ~ (ngã): diễu võ dương oai/ diệu võ dương oai… chọn - ~ (ngã).

- Chọn chinh an trong chính an/chinh yên chọn chú chiệc trong chú chệt/ chú chiệc…

- Chọn toòng teng trong toòteng /tòn ten.

3.2.2. Lưỡng khả điển hình

Loại lưỡng khả điển hình là loại mà tác giả của cuốn từ điển trên không chọn một chuẩn mà công nhận nhiều chuẩn theo những căn cứ mà chúng tôi vừa nêu.

* Các trường hợp sau đây chúng ta cũng chọn theo quan điểm bổ sung chuẩn âm, tức là chọn cách phát âm Trung Bộ và Nam Bộ:

- Đối lập S-/X-: sá (cày)/ xá (cay), sải (đầu)/ xải (đầu), seo giấy/ xeo giấy, chổi sể/ chổi xể… chọn S-. Tuy nhiên,  (to) sù/ (to) xù, siểm nịnh/ xiểm nịnh, soong/ xoong, soi mói/xoi mói, súc sắc/ xúc xắc, sề sệ/ xề xệ. sệ/ xệ, săm sắn/ xăm xắn… X- phổ biến hơn.

- Đối lập TR-/CH-: trưng bày/ chưng bày, trương/ chương, trống trếnh/ chống chếnh… chọn R-. nhưng re/de, rớp/dớp viết D- phổ biến hơn.

- Đối lập R-/GI-.

* Các trường hợp khác, chúng ta căn cứ vào tiêu chí từ nguyên, vào tính phổ biến (qua thống kê tần số xuất hiện trên tài liệu báo chí). Mặc dù căn cứ vào thống kê nhưng cũng phải xme xét, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để không có những kết luận cứng nhắc.

- Đối lập B-/ V-: ăn bận/ ăn vận, bận áo/ vận áo… chọn B-. Nhưng  bò vẽ/ vò vẽ… chọn V-.

- Đối lập D-/GI-: dấn (xuống)- giấn (xuống(, (cá) diếc/ (cá) giết, dò (phong lan)/ giò (phong lan), dạt/ giạt… Theo thống kê của chúng tôi thì đa số viết là: dấn (xuống), (cá) diếc, giò (phong lan), dạt.

- Đối lập NH-/L- có các trường hợp: nhể/lể, nhem nhuốc/ lem luốc, nhầm lẫn/ lầm lẫn, lệch nhệch…,

L- thắng thế.

- Đối lập TH-/ L-: thờn bơn/ lờn bơn…, TH- thắng thế.

- Đối lập NH-/D-: nhíp xe/ dip xe…, NH- thắng thế.

- Đối lập G-/C: gài/cài…, C thắng thế.

- Đối lập CH-/X-: chung quanh/xung quanh…, X- thắng thế.

- Đối lập K-/ KH-: kều/ khều…, KH- thắng thế.

- Đối lập -C/ -T: dở ẹc/ dở ẹt, lức/ lứt, méc/ mét…, -C thắng thế. Đây là những từ thuộc phương ngữ Nam Bộ. cách viết này cũng phù hợp với cách phát âm của đa số người Nam Bộ.

- Đối lập -N/ -NG: lẻn xẻn/ lẻng xẻng…, NG Thắng thế.

- Đối lập -Ê-/ -A- có các trường hợp: lơ đễnh/ lơ đãng…,  chọn  - Ê-. Tác giả Bùi Khánh Thế thống kê tần số xuất hiện của –Ê-, -A- và đi đến kết luận: “xu hướng chúng là a → ê” [7, 96].

- Đối lập –Â-/ -A- gồm có các trường hợp:  rẩy (mực)/ rảy (mực), gầu (tát nước)/ gàu (tát nước),, đầy đọa/ đày đọa, gẫy/ gãy, nậy/ nạy, dầu/ dàu…, chọn -A- vì “có thể thấy xu hướng chuyển â thành a đã thắng thế trong đa số trường hợp (…) chỉ trừ thầy, gầy”  [7, 93].

- Đối lập -UÊ-/ -Ê- có các trường hợp: chuệch choạng/ chệnh choạng, chuếch choáng/ chếch choáng…,  chúng ta chọn -UÊ- vì chúng phù hợp với quy tắc của từ láy tiếng Việt hơn.

- Đối lập -ƯƠ- / -A- có các trường hợp: đường hoàng/ đàng hoàng…, -A- thắng thế.

- Đối lập -ÂU- / -U- có các trường hợp: mặc dầu/ mặc dù…, - U- thắng thế.

- Đối lập -Â- / Ă- có các trường hợp: nhấp/ nhắp, cập bến/ cặp bến, gậm/gặm…, -Ă- thắng thế. Riêng châm bẩm/ chăm bẩm thì - Â- thắng thế.

- Đối lập -Â-/ -Ư-: thật ra/ thực ra…chọn -Â-. Tài liệu 7 thống kê: “trong hầu hết các trường hợp có hiện tượng song tồn thì cách ghi â được lựa chọn phổ biến hơn” (tr. 93).

- Đối lập -I- -OA-: hành dinh/ hành doanh…, -I- thắng thế.

-Đối lập -I-/ -Ê-: chình ình/chềnh ềnh… chọn Ê-. Từ kết quả thống kê tần số xuất hiện: “xu hướng thống nhất đối với i → ê” [7, 95].

- Đối lập -A-/ -IÊ-: nát bàn/ niết bàn…, -IÊ- thắng thế.

- Đối lập -A-/ -OA-: ngảnh cổ/ ngoảnh cổ…, -OA- thắng thế.

- Đối lập -Ô-/ -U-:  mông lung/ mung lung, đậu phộng/ đậu phụng…, -Ô- thắng thế.

- Đối lập -O-/Ô-: nhỏm/nhổm…, - Ô- thắng thế.

- Đối lập -UÔ-/ -Ô-: muôi canh/ môi canh…, -Ô- thắng thế.

- Đối lập dấu ~ (ngã)/ dấu ? (hỏi): mãng cầu/ mảng cầu, lễu nghễu/ lểu nghểu…, dấu ~ (ngã) thắng thế. Ở Nam Bộ, phát âm mảng cầu những vẫn viết mãng cầu.

- Đối lập dấu . (nặng)/ dấu \ (huyền): quặn quẹo/ quằng quẹo…, dấu . (nặng) thắng thế.

- Đối lập dấu / (sắc) / không dấu: á phiện/ a phiện… dấu / (sắc) thắng thế.

Riêng ở trường hợp đối lập I/ Y thì nên theo cách xử lí của các tác giả sách gíao khoa phổ thông đã viết thống nhất nhiều năm nay, ít nhiều đã tạo thói quen trong học sinh, sinh viên, trong đã số người Việt. Thí dụ, nên viết I ở các trường hợp: lí tí, sĩ,…; viết Y ở các trường: quý trọng, y tá…

Trong số những từ mà chúng ta thống kê của lưỡng khả điển hình có cả những từ vay mượn tiếng nước ngoài. Các trường hợp này, chúng ta sẽ chọn phiên âm ngueyen gốc. Đây là phương án mà nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đề nghị. Đồng thời, cũng là cách xử lý của bản Quy định về chính tả và thuật ngữ nêu trên “Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định” [4]ư. Thí dụ, chọn  napalm (chứ không chọn napan), marxit (macxít), neon (nê ông), tango (tănggô), tenis (tennit), logic (lôgic), harmonica (acmônica), acquy (ăcquy), acordeon (accoođêông), anten (ăngten), banjo (bangiô), baket (batkêt), bitcôt), turbin (tuabin), biptet (bittêt), burker (boongke), bombê (bômbê), kaolin (caolanh), jambông (giămbông), roket (rocket), fecmơtuya (phecmơtuya), víu (virut), villa (vila), violon (viôl ông), dollar (đôla)… Phương án mà nhóm tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Trọng báu đưa ra cũng có lý nhưng khó thực hiện: “Dù có là người thông thái nhất trên trái đất cũng không thể biết hết để “làm quen” với các chữ viết trên thế giới (…) … Khi gặp các tên riêng nước ngoài đó, mỗi người sẽ có “các kiểu đọc của mình”, và đề xuất: “Phiên âm theo ngôn ngữ là cách khoa học đáp ứng được cả hai chức năng nói và viết” [6, 288]. Riêng những từ có từ tố gốc hán rõ rệt với từ có từ tố gốc Việt theo tinh thần “Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta” (Bác Hồ). Thí dụ, chọn tiến công trong tiến công/ tấn công,  chọn  sức mạng trong  sứ mệnh, chọn sinh mạng trong sinh mệnh, chọn sinh mệnh trong sinh mệnh/, chọn truy tìm/ trong truy tìm/ truy tầm, chọn tông miếu trong tông miếu/ tôn miếu, chọn cấu kết trong cấu kết/ câu kết, chọn thế cuộc trong thế cục/thế cuộc, chọn soái phủ trong  soái phủ/ súy phủ v.v… Nhưng vẫn bảo đảm được sự trang trọng và quen dùng thì chọn quan san trong  quan san/ quan sơn …

Mặc dù muốn có một chuẩn chính tả duy nhất vì như thế sẽ rất nhiều thuận lợi trong cuộc sống, nhưng những trường hợp saud dây chúng tôi cho là khó xử lí nhất, có lẽ phải đợi thêm thời gian nữa để khẳng định bằng tính phổ biến chăng?:

-Đối lập giữa D- và GI- trong:  dục dăc/ giục giặc, dăng dăng/ giăng giăng, dậm/ giậm, dở dói/ giở giói, duộc/ giuộc, dâu da/ giâu gia, rau dền/ rau giền… hay đối lập trong các trường hợp: trăm nghìn/ trăm ngàn, nghìn, ngàn, nghìn trùng/ ngàn trùng…; thọc lét/ chọc lét; xắc cốt/ xà cột…

- Đối lập  nhị/ ngụy, thư lại/ thơ lại, nấp/ núp,

- Đối lập   giữakheo/ khoeo, leo kheo/ leo khoeo… thì -E- thắng thế. Tuy nhiên, chiều hướng rụng âm /-w-/ chưa tahnwgs thế hẳn. quan điểm này của chúng tôi cũng là quan điểm của Nguyễn Kim Thảnh [6, 49].

4. Kết luận

Chúng ta đã đã phải sử dụng nhiều trường hợp lưỡng khả (lưỡng chuẩn) trong một thời gian khá dài kể từ sau Quy định của Bộ giáo dục về chính tả và thuật ngữ. “Đây là vấn đề tồn tại từ lâu gây phiền phức cho việc học tập, cho việc giao tiếp ngôn ngữ, cho công tác in ấn và cho sự trong sáng của tiếng Việt” [6, 283]ư. Việc đưa ra một chuẩn duy nhất cách viết là một việc làm hết sức cần thiết và khó đối với chúng ta. Chậm trễ ngày nào là chúng ta còn gây những khó khăn không nên có ngày đó cho chính chúng ta và cả con cháu chúng ta.

Tài iệu tham khảo

1. Hoàng Phê (chủ biên), Lê Anh Hiền, Đào Thản, Từ điển Chính tả tiếng Việt, iNxb Gd, 1988.

2. Hoàng thị Châu,Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb GD, H., 1998.

3. Trung tâm biên soạn sách giáo khoa Cải cách giáo dục và Viện ngôn ngữ học Việt Nam, Chuẩn hóa chính tả và thuật ngưx, Nxb GD, H., 1984.

4. Quyết định số 240/ QĐ, Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt của Bộ trưởng Bộ giáo dục (Nguyễn Thị Bình Kí) ban hành ngày 5/3/1984.

5. Nguyễn Tài Cẩn, giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb GD, 1997.

6. Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn văn Tu, Tiếng Việt trên đường phát triển,  Nxb KHXH, 2002.

7. Trường ĐH KHXH và NV TP HCM, Mấy vấn đề về tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐHQG, TP HCM, 2001.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online