Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Cầm trăng không phải là cây đàn nguyệt (Nguyễn Thái Bảo)
Cầm trăng không phải là cây đàn nguyệt (Nguyễn Thái Bảo) PDF In E-mail
Người viết: Nguyễn Thái Bảo   
11/11/2013

Cầm trăng không phải là cây đàn nguyệt

* Nguyễn Khắc Bảo

Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều bị buộc phải đánh đàn 6 lần cho: Kim Trọng, mụ mối, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Thúc Sinh và Hồ Tôn Hiến nghe. Nhưng chỉ có mỗi lần đầu tiên Thúy Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe là tiếng đàn có hồn và say sưa nhất, cảnh này được thi hào Nguyễn Du tả rất kĩ trong 34 câu thơ (từ câu 463 đến 496). Nhưng dụng cụ biểu diễn của Thúy Kiều lại được thi hào Nguyễn Du đặt tên một cách rất sáng tạo, uẩn súc là cây đàn “Cầm trăng”. Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày

 

Nhiều nhà Kiều học như Chiêm Vân thị, Hồ Đắc Hàm, Tản Đà, Lê Văn Hòe, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Thạch Giang, Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Nguyễn Quảng Tuân đều giảng: “Cầm trăng: tức nguyệt cầm, ta gọi là đàn nguyệt” và Chiêm Vân thị đã nêu lí do rất ngắn gọn: “Đổi chữ tì bà ra cầm trăng để tiện áp vần”.

Nhưng “nguyệt cầm” “đàn nguyệt” lại là loại: “Đàn gảy có hai dây, bầu cộng hưởng hình tròn, cần dài, phím cao(1).

Mà rõ ràng cây đàn Thúy Kiều sử dụng trong buổi đàn đầu tiên cho Kim Trọng nghe là:

     So dần dây vũ dây văn,

Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương

(câu 471 - 472)

Và sau này cũng được thi hào nhắc lại trong các lần Thúy Kiều gảy đàn:

     Bốn dây như khóc như than,

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay

Do vậy, chúng tôi cũng nhất trí với ông Ngô Quốc Quýnh trong bài: Cầm trăng là cây đàn gì? trên NN&ĐS số 10/2003 rằng cách giảng: “Cầm trăng là cây đàn nguyệt”, chưa đảm bảo tính chính xác. Song nguyên nhân không hẳn do Thúy Kiều là “một thiếu nữ khuê các, được phép chơi một loại đàn đã là quá được nuông chiều rồi và cũng chẳng đủ thì giờ mà tập chơi nhiều loại đàn”, như Ngô Quốc Quýnh luận giải. Vì Thúy Kiều đã được đại thi hào cho biết là người:

     Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

     Cung thương làu bậc ngũ âm...

Nên cũng như các nhạc công nổi tiếng hiện nay, việc chơi được nhiều nhạc cụ cùng loại cũng không phải là điều khó khăn gì. Chúng ta biết rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều là dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nên khi gặp những câu thơ khó hiểu, khó lí giải do “ý tại ngôn ngoại” ta nên nhớ tới phương châm của học giả Hoàng Xuân Hãn là: “So sánh với bản gốc, nguyên truyện của Trung Quốc, nếu cái bản xưa gần bản chính của Trung Quốc chừng nào thì là xưa chừng ấy”(2).

Đọc Kim Vân Kiều truyện ta thấy buổi đàn đầu tiên của Thúy Kiều đã được Thanh Tâm Tài Nhân tả như sau: Thúy Kiều nói: Hơn nữa cây đàn của thiếp đâu có mang sẵn sang đây, muốn chiều ý chàng tất nhiên thiếp phải về lấy, quay đi quay lại mất bao thì giờ, âu là chàng hãy cho thiếp khất đến một ngày nào khác thì hơn. Kim Trọng đáp: Tình dài đêm ngắn, sinh này há lại không biết hay sao? Chỉ vì lâu nay khát vọng, nhân tiện muốn nghe mấy tiếng thì mới hả lòng. Còn cây hồ cầm thì đây cũng có. Vừa nói chàng vừa đi lấy cây đàn đem đến trước mặt quỳ gối xuống đất, hai tay nâng lên trán để trao cho nàng(3).

Như vậy, ta thấy Kim Trọng đã rất tinh khôn, láu lỉnh trong việc tán tỉnh Thúy Kiều. Biết nàng Kiều có tài “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”, chàng đã chuẩn bị treo sẵn một cây hồ cầm ở hiên sau từ trước rồi. Nên mặc dù, Thúy Kiều lẻn sang nhà đối với Kim Trọng là hoàn toàn bất ngờ, nhưng chàng trai si tình này ngoài việc thường trực dưới mái tường hoa “Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông”, còn đã chuẩn bị rất đầy đủ một cây đàn sở trường của Thúy Kiều “Hiên sau treo sẵn cầm trăng” để chờ Thúy Kiều sang rồi. Thế ra khi yêu Thúy Kiều, Kim Trọng cũng không đến nỗi mụ mị đâu nhỉ, chàng ta vẫn láu lỉnh, ranh ma treo sẵn cây hồ cầm ở hiên sau, thật xứng danh là “Văn chương nết đất, thông minh tính trời”. Vậy thì sao trong nguyên truyện là cây “hồ cầm” mà thi hào Nguyễn Du lại viết là “cầm trăng”? Có phải là để “tiện áp vần” như cụ Chiêm Vân thị giải thích hay không? Ta cần tìm hiểu cây hồ cầm có nguồn gốc và cấu tạo, các tiểu, chủng loại như thế nào?

Theo Từ Hải: “Hồ Cầm là loại nhạc khí, thời Đường Tống do các tộc phương Bắc, phương Tây mang đến. Các loại nhạc khí gảy dây như: Tì bà, hốt lôi đều thuộc loại hồ cầm. Hồ cầm có 4 loại: Nhị hồ, Kinh hồ, Bản hồ và Tứ hồ, cách chế tạo không giống nhau”. Còn đàn tì bà (một loại hồ cầm) thì đã có hình vẽ ở trang 1.529 của Từ Hải, thân đàn như hình giọt nước, có căng 4 dây, 12 trụ (4).

Như vậy, cây hồ cầm Thúy Kiều đàn lần đầu tiên chính thuộc loại tì bà có “Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương”. Các bức vẽ của họa sĩ Mai Trung Thứ (1951), Tú Duyên (1959), Lê Xuân Thủy (1963), hoặc trong tranh minh họa ở quyểnKiều của Nordemann (1897), Crassac vẽ Thúy Kiều đang chơi đàn Tì bà là đúng. Còn tranh do các họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1942), Mạnh Quỳnh (1942), Nguyễn Tư Nghiêm (1965), Trần Văn Cẩn vẽ Thúy Kiều ôm đàn nguyệt là chưa chính xác(5).

Chúng tôi không rõ dựa trên tiêu chí nào mà ông Nguyễn Quảng Tuân trong cuốn Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều, tại trang 404 đã vẽ cả cây đàn tì bà 4 dây và cây đàn nhị 2 dây lại kết luận: “Hồ cầm là cây đàn nhị chứ không phải là đàn tì bà”. Mà đàn nhị lại là “Nhạc khí có hai dây tơ kéo bằng vĩ làm bằng lông đuôi ngựa, mặt bầu cộng hưởng thường bịt da rắn(6). Như vậy là ông Nguyễn Quảng Tuân đã cho Thúy Kiều kéo đàn nhị từ năm Gia Tĩnh triều Minh, một hình ảnh rất khác lạ mà chưa thấy họa sĩ tranh minh họa Truyện Kiều nào thể hiện. Hơn nữa, nếu Thúy Kiều kéo nhị bằng mã vĩ thì làm sao xảy ra cảnh “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” được. Ngoài ra, chúng tôi cũng không tán thành cách đoán của ông Ngô Quốc Quýnh về nguồn gốc của hai chữ “Cầm trăng” là: Nhưng để được một chữ có thể vần đi với hai chữ “vâng” và “nâng” rất hay, không thể thay được (theo cách đã làm cho hai từ cam, quýt). Cụ đã “dịch chuyển khái niệm” như sau: từ hồ cầm, cụ đảo thành Cầm hồ, rồi từ chữ hồ là họ Hồ, cụ chuyển sang chữ đồng âm là dây cung vì cung hay đi với trăng (như cam đi với quýt), cuối cùng Cụ được chữ “trăng” bắt vần được với “nâng”. Thế là từ “hồ cầm”, cụ đã chuyển thành “cầm trăng”.

Quả tình nếu chỉ cần để được một chữ có thể vần đi với hai chữ “vâng” và “nâng” rất hay không thể thay được, thì có thể chỉ cần thi hào đổi câu thơ là:

     Hồ cầm treo sẵn hiên trăng,

Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày

Nhưng nếu chữa như thế thì câu thơ lại không hàm ẩn được những kỉ niệm tình cảm thời trai trẻ của thi hào. Chúng tôi suy đoán đơn giản là: Khi viết về cảnh Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe, thi hào đã liên tưởng đến người tình một thuở của mình là nữ sĩ Hồ Xuân Hương chăng!(7). Khi nhớ lại Hồ Xuân Hương đã từng chiết tự chữ Hồ thành Cổ nguyệt để đặt tên cho căn nhà của bà ven hồ Tây là Cổ nguyệt đường, thì nay thi hào cũng làm việc tương tự: Hồ cầm thành Cổ nguyệt cầm. Cây đàn Hồ cầm = Cổ nguyệt cầm đó lại treo sẵn ở hiên sau đang được “vầng trăng vằng vặc giữa trời” chiếu tới. Mọi vật trong buổi đàn địch thơ mộng đó cũng đang tắm trong ánh sáng của “Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần”. Trong cảnh “Gió mát trăng trong”, “dải là hương lộn, bình gương bóng lồng”, “Nhặt thưa gương gối đầu cành”, chan hòa ánh trăng như thế thì việc thi hào gọi cây đàn tì bà (một tiểu loại của hồ cầm - tức cổ nguyệt cầm) đang đẫm ánh trăng treo sẵn ở hiên sau thành “cầm trăng” cũng là một điều dễ hiểu.

Như vậy, cây đàn “cầm trăng” mà Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe không phải cây “đàn nguyệt” mà chính là cây “đàn tì bà”, một tiểu loại của cây hồ cầm.

 

Chú thích:

1, 6. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, trang 273, 695.

2. Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Truyện Kiều, Tạp chí Văn học, 3 - 1997

3. Truyện Kiều đối chiếu, Nguyễn Đình Diệm dịch, Phạm Đan Quế in tại Nxb, Hà Nội, 1991, trang 102.

4. Theo bản Từ Hải in năm 1989.

5. Các tranh vẽ trên theo bộ sưu tập của Trần Văn Chánh in trong Truyện Kiều tập chú, Nxb, Đà Nẵng, 1999.

7. Xem bài: Chuyện tình Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương của NKB trên An ninh thế giới cuối tháng, số 1, tháng 9, năm 2001.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online