Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tâm tịnh quốc độ tịnh (Nguyên Hoa - Nguyên Minh)
Tâm tịnh quốc độ tịnh (Nguyên Hoa - Nguyên Minh) PDF In E-mail
Người viết: Nguyên Hoa - Nguyên Minh   
11/11/2013

Tâm Tịnh Quốc Độ Tịnh

*Nguyên Hoa – Nguyên Minh

Tâm lý học thường kết luận rằng “Suy tư của bản thể là nguyên nhân khởi đầu của một hành động”, nên ai cũng có năng lực và hành động riêng của mình. Đứng về mặt thế gian đây là một phương thức để con người học hỏi, mổ xẻ, phân tích, khi họ đã gặp, đang gặp phải những hiện tượng, kết quả của bản thân, hoặc những cá nhân trong xã hội cần đến sự cố vấn, giải quyết về mặt tinh thần ở đời sống. Dòng suy tư là biển cả có tính chất biến thái, đa dạng, trước sau không đồng thể, ngược lại quan niệm về tâm lý của con người hoàn toàn dựa trên những hành động kinh nghiệm góp nhặt từ muôn thuở, rồi con người lại dùng trí phân biệt để kết luận “thương-ghét hoặc đúng-sai“.

 

 Nhưng suy tư vẫn là một dòng tư tưởng tiếp diễn không ngừng trong dòng sanh diệt, kẻ đang suy tư mang tâm hồn đẹp đẽ, hành động và khung cảnh trong tầm mắt khối óc của người nầy đẹp đẽ, nếu gặp một dòng suy tư điên đảo thì hành động và cảnh vật của người nầy đều nằm trong điên đảo. Sự kết tụ bằng yếu tố tâm và sinh qua ngưỡng cửa nhận thức đã trở thành một định nghiệp, có khả năng lôi kéo con người trôi lăn trong vòng sanh tử. Suy tư là một kết hợp của niệm khởi, và niệm khởi nầy khi được chúng ta nuôi dưỡng thì nó chính là một hạt giống đã gieo vào trong dòng đời sanh diệt, đã sanh diệt thì đẹp xấu, cao thấp, từ cõi thấp như địa ngục đến cõi trời vô sắc giới cũng chỉ là giả tuớng do nhân duyên kết tụ, khác biệt là niệm ác chúng sanh đọa vào đường dữ, niệm thiện chúng sanh được thác sanh vào cõi lành, phước báo hoặc ác báo tùy ở nơi nhân người tạo tác.

Trên phương diện khách quan, nhân loại cho rằng con người được hình thành do tinh cha huyết mẹ, khác biệt về hình tướng, đời sống, tánh tình của con người, thì không ai dám quả quyết là nguyên nhân nguồn gốc từ đâu để có? Thế giới văn minh, khoa học tiến bộ, cũng không giải thích được tại sao có sự dị biệt nầy, nên con người đành chấp nhận đời sống cá nhân, gia đình như một dòng định mệnh đã được ban bố và sắp đặt sẵn bởi đấng tối cao vô hình. Thật ra đấng tối cao nầy chính là “ Ta “ , vì “ ta ” hôm nay là nhân vun trồng từ tiền kiếp. “ Ta “ tương lai tức nhân vun trồng của đời nay. Lời Phật dạy ở Pháp Cú Kinh rằng: “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị. Dục tri lai sinh quả, kim sinh tác giả thị.” Muốn biết “ Ta “ trong tiền kiếp đã gieo nhân gì, thì hãy nhìn cái quả hiện tại, và muốn biết “ Ta “ đời sau như thế nào hãy nhìn vào cái mình đang vun trồng ngày hôm nay. Lời nói hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng vẫn tồn tại, không bị mai một bởi thời gian, không gian. Suy gẫm câu nầy chúng ta không còn gì để thắc mắc về sự không công bằng của đời sống mình và nhân loại. Cội nguồn sanh tử hay nguồn gốc của vạn pháp do bởi tâm niệm của chúng sanh mà kết cấu, bởi thế kẻ làm người ắt phải biết mình đã vun trồng hạnh nhân thừa trong tiền kiếp. Người tu Thập thiện tạo hạnh Thiên thừa đến khi mạng chung thọ sanh ở các cõi trời, kẻ không tu hành sống theo tập khí thói quen kết cấu từ muôn thuở, thói quen nầy sẽ sống dậy và biến thành hành động tạo nghiệp, tùy vào nghiệp thiện hay ác để thọ sanh trong kiếp vị lai. Kẻ thượng ác đi vào đường địa ngục, kẻ trung ác đi vào đường ngạ quỷ, kẻ hạ ác làm thân súc sanh. Bởi tâm niệm mà chúng ta phải mãi trôi lăn trong vòng lục đạo sanh tử, cứ hụp lặn trong biển đời đau khổ, ta đang ở trong gia đình quý phái sang trọng, không có nghĩa không có ngày tàn tạ, tàn tạ không phải chỉ sanh, già, bệnh, chết, mà ngay khi đang sống trong nhung lụa thì ngày mai ta cũng có thể trở thành một người nhà tan cửa nát, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Vật chất phương tiện như cơ khí, điện tử, y khoa, kể cả hãnh diện lớn lao của nhân loại như thành quả vượt khỏi không gian tìm kiếm thế giới bên ngoài, những công cụ giết người như máy bay, bom đạn, v..v.. tất cả cũng từ tâm chúng ta khởi niệm rồi hành động bước theo, và kết quả là những gì chúng ta muốn có. Nếu ý niệm khởi dậy ở người đạo đức kết quả sẽ đem đến sự an lạc cho nhân loại, nếu ý niệm kết từ một tâm địa độc ác, kết quả sẽ là niềm thương đau cho thế giới loài người, điều nầy đã chứng minh được một cách rất cụ thể qua lịch sử thăng trầm chuyển biến của nhân loại.

Một thế giới muôn màu muôn sắc của khổ đau, nên chư vị Bồ tát đã hoá thân đến, kẻ thì dùng trí, kẻ thì dùng đức, kẻ đang thuyết pháp giảng kinh để hoá độ. Quý Ngài không che hình dấu tướng nhưng chúng ta không thấy được, bởi sáu căn của chúng ta đang bị tâm không thật sai khiến, tâm nầy là một linh hồn đã trôi lăn triền miên trong đau khổ sanh tử, một đời sanh ra là một đời chồng chất thêm tham, sân, chấp ngã. Kinh Thập Thiện, Phật dạy rằng: “ Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai “, chỉ một khởi niệm sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh, huống hồ chúng ta đã bao nhiêu đời nổi trôi trong lục đạo, niệm sân đã chồng chất còn hơn số cát sông Hằng. Vấp ngã quá nhiều nhưng chúng ta vẫn sống trong hoài nghi chấp ngã, chết cũng mang theo chấp ngã hoài nghi, đời nầy qua kiếp nọ, loại độc nầy đã tích tụ trở thành một khối vô minh che đậy cái thật có của chúng ta, chúng ta không phân biệt được thực hư, mình không biết mình là ai, sống trong cái giả tướng, giả tánh, tham sân chấp ngã nên chùa chiền, thánh tăng, chư vị Bồ tát có hiện hữu thì chúng ta cũng không thấy và biết được. Chuyển hóa là do tâm niệm của chúng sanh, các Ngài khai thị chúng ta, dùng Pháp, dùng phương tiện, chỉ chúng ta con đường trí tuệ nhưng chúng ta không chịu quay lại thì dù Pháp Phật có nhiệm mầu, Bồ tát, Thánh tăng đang ở bên ta cũng đành chịu.

Khi niệm dấy khởi mà chúng ta không nhìn lại để biết nó là hư vọng, chắc chắn rằng chúng ta sẽ bước vào con đường tạo nghiệp, còn niệm tức còn pháp, vô niệm tức pháp không sanh, đây cũng là then chốt để Thượng tọa Minh được khai ngộ khi cầu Pháp với Lục Tổ, câu nói thật đơn giản “ Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? “, Thượng tọa Minh đã bừng tỉnh , nhận ra được tâm chân thật hằng tri hằng giác mà bao ngày bị vùi chôn bởi những vọng niệm sanh diệt. Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng dạy rằng người tu là phải quay lại nhìn mình, câu nầy ai cũng biết nhưng kẻ thật sự quay lại nhìn mình lại có mấy ai. Người xưa cũng đã nói: “ Các nhân tư tảo môn tiền tuyết, bất quán tha nhân ốc thượng sương.” Tuyết ngập đầy nhà mình không lo quét dọn, cứ lo chỉ trích nhà thiên hạ phủ sương. Tạo hóa cho mình đôi mắt, nhưng điều đáng buồn là khi nhìn mặt mình thì phải trông cậy đến tấm gương, đôi mắt xác thịt hòa lẫn với tham dục hư dối ở nơi ta, nên cuộc đời tu hành thường gặp phải gian truân. Quay lại nhìn mình tu hành thì chúng ta phải sử dụng đôi mắt trí tuệ, chỉ có mắt trí tuệ mới thấy và nhận được ta. Ví như một kẻ đang du hành mà đường đi không biết, lạc đường chẳng hay thì ngày nào mới quay trở lại. Cuộc hành trình điều đầu tiên là phải xác định mục tiêu mình muốn đến, nếu chưa biết đường đi phải kiếm bản đồ, đây là một tiến trình nhìn lại mình để thấy và biết về mình, mình đang ở đâu, đang muốn về đâu, phương tiện nào sẽ phụ trợ thích hợp cho chuyến hành trình mình muốn. Phật nói đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, vì Ngài biết được căn cơ của chúng sanh khác biệt, kẻ thấp người cao, kẻ trí người mê, các Pháp Ngài nói tuy nhiều nhưng chung quy chỉ là một, đó là phương tiện để đưa chúng ta tìm lại cái chơn tâm hằng hữu ở nơi ta. Pháp Phật, ý Tổ, lời Thầy, nhưng điểm then chốt vẫn ở nơi mình, chỉ có mình mới có đủ tư cách quyết định quá khứ, hiện tại, tương lai của mình. Ngài Nam Sơn dạy rằng khi “Ba nghiệp khởi lên do tâm hư vọng sai khiến, trước lấy giới luật bắt, kế lấy thiên định mà trói, rốt sau lấy trí huệ mà sát, thứ lớp như vậy mới được”. Điều chủ chính của chúng ta trước tiên phải thấy được ta đang bị ba nghiệp bủa vây, sau đó mới tùy duyên tìm kiếm phương tiện thích hợp cho mình. Tịnh độ, Thiền tông, Mật tông, phương cách nào chăng nữa cũng phải đến chỗ vô niệm mới diệt được mầm mống sanh diệt của vạn pháp.

Tôi được phước báu nhân duyên nghe và đọc được một số kinh sách giảng giải của Hòa Thượng Trúc Lâm, gần một năm trước mới được phúc duyên học phương cách ngồi thiền tại Ni viện Quang Chiếu. Bước đầu học và hành thiền thật lắm gay go, như mắt đau, nước bọt chảy, đáng buồn hơn nữa là niệm vẫn khởi, tâm vẫn đảo điên, lắm lúc chỉ ngồi chưa đầy mười lăm phút mà tưởng như một ngày đã trôi qua. Tôi thắc mắc tại sao loạn tưởng cứ mãi dấy lên trong khi hành thiền, đến một chiều kia sau giờ làm việc về nhà, tôi đã tụng một biến kinh, điều khác biệt là chiều nay tôi tụng kinh không phân tâm như những lần trước, khi tụng đến câu “Tội từ tâm khởi đem tâm sám. Tâm tịnh tội liền tiêu. Tội tiêu Tâm tịnh mới thật là chơn sám. Nam mô cầu sám hối Bồ Tát Ma Ha Tát”. Những câu sám nguyện nầy đã là một cơ duyên cho tôi bừng tỉnh, tôi thấy được tội lỗi từ tâm, do ở tâm mình, muốn diệt trừ cũng phài bắt đầu từ tâm, và cũng có nghĩa là tâm tịnh tội liền tiêu. Nhịp cầu nầy đã cho tôi cảm nhận về thiền sâu thêm một bước nữa. Tôi hiểu rằng Tịnh độ, Thiền tông hay bất cứ một pháp môn nào mà Phật đã dạy vốn là một, vì tất cả đều tiến đến một cứu cánh là tâm tịnh, niệm không khởi tội lỗi và nghiệp chướng tự nó tiêu trừ, vì không sanh thì có đâu để diệt. Những ngày hành thiền kế đến tôi hoàn toàn theo lời dạy của Hòa Thượng và quý Cô ở Quang Chiếu, đừng ngăn chận vọng niệm mà chỉ quán rằng niệm khởi là hư dối, là sanh diệt không thật, từ đây khi hành thiền tôi thấy thoải mái an ổn hơn, thời gian tọa thiền không còn dài lê thê như trước nữa. Tôi nhận ra tôi là chủ nhà và niệm là mấy tên trộm đã vào nhà hoặc đang rình rập, kẻ có ý đồ đang bủa vây hoặc rình rập gia sản quý báu của mình, nhưng mình thấy và biết được âm mưu và hành động của họ, tất nhiên họ phải chùn chân, tránh né. Càng hành thiền tôi lại càng thấy được tôi, không còn là một chủ nhà bình thường, mà là quốc vương của một nước, quốc độ của tôi tuy vẫn còn trong cảnh đao binh, loạn lạc, nhưng tôi luôn có một niềm tin, khi đã thấy được xứ sở mình không yên ổn, và cũng đã biết ở đâu có loạn lạc, ai bạn ai thù, không còn lẫn lộn như xưa nữa. Chắc chắn sự an lạc chỉ là thời gian ngắn hoặc dài ở ngay hiện tại, bằng không đây cũng là một hạt nhân thanh tịnh cho đời vị lai. Nhất định rằng như Pháp Phật, ý Tổ, lời Thầy đã dạy: “Tâm tịnh thì quốc độ tịnh”.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online