Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Bàn thêm về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông (GS Lê Cung)
Bàn thêm về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông (GS Lê Cung) PDF In E-mail
Người viết: GS Lê Cung   
07/12/2013

BÀN THÊM VỀ SỰ NGHIỆP CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG
GS.
Lê Cung 

Xuyên suốt lịch sử dân tộc, đã có biết bao nhiêu nhân vật với tư cách là người đứng đầu đất nước đã có những kỳ tích lẫm liệt đối với đất nước. Có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp dựng nước, lại có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp mở nước, hoặc có một số nhân vật có cả hai hoặc ba lãnh vực đó. Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế mà sự nghiệp nổi hẳn trên cả ba mặt : Giữ nước, dựng nước và mở nước. Trên cả ba lãnh vực này, Trần Nhân Tông đã có những đóng góp hết sức đặc biệt. Tuy nhiên, cho đến nay trong chính sử cũng như trong hiện thực xã hội, sự nghiệp của Trần Nhân Tông và một số vấn đề liên quan đến thời đại Trần Nhân Tông vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng. 

 

Sự nghiệp giữ nước của Trần Nhân Tông

Thời Trần Nhân Tông ở ngôi hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung hãn nhất của thời đại: Giặc Mông - Nguyên. Trong vòng nửa thế kỷ, bộ tộc Mông Thát đã mở rộng chiến tranh xâm lược và làm chủ nhiều vùng đất đai rộng lớn ở hai lục địa Á - Âu, lập nên một đế chế kéo dài từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương. Thế nhưng cả ba lần xâm lược Đại Việt, đội quân "bách chiến bách thắng" đó đều bị đánh bại, trong đó có hai lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông. Vậy vai trò của Trần Nhân Tông, với tư cách là người đứng đầu đất nước trong hai cuộc kháng chiến 1285 và 1288 được thể hiện như thế nào? 

Phải chăng vai trò của Trần Nhân Tông đã bị "che khuất" sau Thượng hoàng Thánh Tông và tài thao lược của Hưng Đạo vương? Việc Thượng hoàng Trần Thái Tông và Hưng Đạo vương tham gia chỉ đạo chiến tranh và đã có những quyết sách tối ưu đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi là điều không thể phủ nhận, nhưng phải khẳng định rằng thực quyền lãnh đạo hai cuộc chiến tranh vẫn thuộc về Trần Nhân Tông. Xin được nêu một số sử liệu để minh họa cho lập luận này.

Để chuẩn bị cho chiến tranh, Trần Nhân Tông ý thức rất sâu sắc về "thế trận lòng dân" hạt nhân để làm nên chiến thắng. Trần Nhân Tông đã tổ chức hội nghị Bình Than (1282), gồm tướng sĩ để bàn kế giữ nước. Đặc biệt, đầu năm 1285, Trần Nhân Tông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng, gồm các bô lão đại diện cho thần dân khắp cả nước, để rồi từ điện Diên Hồng vang lên tinh thần quyết chiến. Rõ ràng là mỗi khi sức mạnh nhân dân vào trận thì không một thế lực nào có thể vượt thắng được. Với cách hiểu như vậy, chúng ta mới thấy được tầm cao của Trần Nhân Tông trong việc huy động sức dân vào hai cuộc chiến tranh giữ nước 1285 và 1288. 

Vai trò tối cao của Trần Nhân Tông còn thể hiện trong chính sách dùng người. Việc Trần Nhân Tông giao cho Hưng Đạo vương chỉ huy trực tiếp toàn quân, hoặc trọng dụng các tướng lĩnh tài năng dù họ có lỗi lầm trong quá khứ như Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được giao làm Phó tướng, phụ trách toàn bộ thủy quân; hoặc như Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật tuổi đời còn rất trẻ vẫn được cử trông coi cả một vùng Tây Bắc rộng lớn,... Nhà sử học đời Lê là Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, không chỉ có chuyện về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông ... Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm”(1). Còn Lê Quý Đôn tỏ ra hết sức thán phục: "Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không thẹn hổ với trời, dưới không thẹn với đất. Ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được”(2). 

Chúng ta cũng thấy những ứng xử ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn của Trần Nhân Tông với triều Nguyên trước, trong và sau chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, khi quân Nguyên sắp vào nước ta, Trần Nhân Tông cho sứ đưa thư đến Thoát Hoan, từ chối việc cho mượn đường Đại Việt đánh Champa: "Từ nước tôi đến Champa, đường thủy đường bộ đều không tiện”(3); hoặc nhắc tới Tờ chiếu năm 1261 của Hốt Tất Liệt: "Trước đây, được vâng thánh chiếu nói rằng: ‘Sắc riêng cho quân ta (quân Nguyên - TG) không vào bờ cõi nhà ngươi’, thế mà nay thấy ở Ung châu doanh trạm cầu đường nối nhau san sát...”(4). Phương sách ngoại giao của Trần Nhân Tông dầu không cản được chính sách xâm lược của triều Nguyên, nhưng nó có tác dụng giúp triều Trần có thêm thời gian chuẩn bị để ứng phó với chiến tranh mà biết trước sẽ diễn ra; mặt khác, nó góp phần quán triệt tư tưởng trong nhân dân về bản chất hiếu chiến của kẻ thù để mà dốc lòng cứu nước. Vì vậy, điều không phải ngẫu nhiên khi quân lính, mỗi người đều thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát” trước lúc ra trận.

Khi chiến tranh diễn ra, Trần Nhân Tông có mặt hầu như khắp mọi mặt trận để cùng với tướng lãnh có những quyết sách tối ưu trước những tình thế hiểm nghèo, nổi bật nhất là những quyết định lui quân hoặc phản công chiến lược. Trong cuộc kháng chiến năm 1285, khi nghe tin Nội Bàng thất thủ, quân ta phải rút lui trong thế bất lợi, Trần Nhân Tông bỏ ăn sáng, đi thuyền suốt ngày ra Hải Đông để gặp Hưng Đạo Vương để bàn cách giải quyết. Việc quyết định lui quân ở Hải Đông sau khi Nội Bàng thất thủ, rời bỏ Thăng Long, thực hiện "vườn không nhà trống", ... nói lên sự sáng suốt của Trần Nhân Tông trong việc nắm bắt tình hình và đánh giá tương quan lực lượng; trong trận thủy chiến (14-2-1285) ở Bình Than, các trận Trường Yên, Hàm Tử tiêu diệt đạo quân của Toa Đô, đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng (1288) chôn vùi ý chí xâm lược của Hốt Tất Liệt,... Trần Nhân Tông, người vừa hoạch định kế sách, vừa đốc binh ngoài mặt trận. 

Sau cuộc kháng chiến năm 1285 thắng lợi, để nắm được tiềm lực của quốc gia, ngỏ hầu đối phó với nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm lược mới của triều Nguyên, Trần Nhân Tông cho thực hiện ngay việc điều tra dân số. Đại Việt Sử Ký Toàn thư cho biết: "Mùa đông, tháng Mười (1285), xuống chiếu định hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân vừa lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp. Vua nói: ‘Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét (tình trạng) hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?’. Quần thần đều khâm phục”(5). 

Sau ngày khải hoàn, việc Trần Nhân Tông không phong Đỗ Hành tước cao vì khi bắt được Ô Mã Nhi đã dâng lên Thượng hoàng (mà không dâng lên Trần Nhân Tông); hoặc không thăng trật cho Hưng Trí vương, vì khi đã có chiếu của Trần Nhân Tông cho người Nguyên về nước, không được cản trở, mà Hưng Trí vương cứ còn đón đánh; trong lúc đó Trần Nhân Tông cho "Man trưởng Lạng Giang Lương Uất làm trại chủ Quy Hóa. Hà Tất Năng làm Quan phục hầu vì đã chỉ huy người Man đánh giặc”(6), ... 

Nhìn lại những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân ta đã đương đầu với biết bao kẻ thù hung bạo và đã lập nên biết bao chiến công lừng lẫy, song điều cần khẳng định là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông - Nguyên thắng lợi ở thế kỷ XIII là một trong hai chiến công vĩ đại của dân tộc ta mang tầm thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. "Lịch sử thế giới đánh giá chiến thắng này (chiến thắng chống đế quốc Mông - Nguyên - TG) là thần kỳ, độc nhất vô nhị” (7). Tổng Bí thư thư Lê Duẩn khẳng định: "Dân tộc ta hơn các dân tộc khác ở chỗ ngay từ buổi đầu giữ nước dân tộc ta có bà Trưng, Bà Triệu; ở chỗ đã hai lần đánh bại những tên sen đầm quốc tế: Mông - Nguyên và Hoa Kỳ”(8). 

Dĩ nhiên, "chiến công hiển hách này thuộc về cả dân tộc, trong đó nổi bật lên những danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão... Song vai trò của Trần Nhân Tông với tư cách là người Tổng chỉ huy tối cao phải ở vị trí hàng đầu, bởi lẽ nếu ‘vua không hiền’ thì dù tôi giỏi mấy cũng không thể nào phát huy được sở trường của mình trong việc điều quân ngoài mặt trận. Hơn thế nữa, chính Trần Nhân Tông cũng tự mình thống lĩnh binh mã, xông pha trận mạc”(9). Điều đó càng cho chúng ta thấy tầm cao của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp giữ nước.

Sự nghiệp dựng nước của Trần Nhân Tông

Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Trần Nhân Tông, công cuộc tái thiết đất nước diễn ra trên nhiều lãnh vực. Do giới hạn của bài viết, đoản khúc này chỉ đề cập về sự nghiệp văn hóa của Trần Nhân Tông. 

Một la, Trần Nhân Tông tái dựng về một quá khứ huy hoàng của dân tộc bằng việc phong thần cho những người có công với nước, như Phù Đổng Thiên Vương, Triệu Quang Phục, Lý Nam Đế, Phùng Hưng, Lý Thường Kiệt,... Thực ra, việc phong thần cho những anh hùng, liệt nữ và những người có công với dân tộc đã được thực hiện từ thời Lý Thái Tổ, song chỉ đến thời Trần Nhân Tông, việc làm này mới được tiến hành một cách đầy đủ và có hệ thống hơn.

Căn cứ vào những ghi chép của Lý Tế Xuyên trong Việt điện u linh tập, trong những năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) và Trùng Hưng thứ 4 (1288) đã có tới 27 vị được phong thần. Các vị thần Việt Nam đến thời Trần Nhân Tông đã lên tới con số không phải ít. Việc làm này của Trần Nhân Tông có một ý nghĩa cực kỳ lớn lao trong việc tạo dựng truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, một thần điện Việt Nam được hình thành với những con người cụ thể, sống bằng xương bằng thịt trong quá khứ, có sự tích, có hành trạng, chứ không chỉ gồm những vị thần, vị thánh từ nước ngoài đưa vào, hay được tưởng tượng ra ở trong nước. Giáo sư, Tiến sĩ Lê Mạnh Thát khẳng định: "Trần Nhân Tông gầy dựng một quá khứ anh hùng và thần thánh cho dân tộc ta, dùng những tấm gương anh hùng liệt nữ và thần thánh đó để giáo dục cho nhân dân ta sống xứng đáng với tổ tiên, đất nước mình. Có thể nói chủ nghĩa yêu nước và anh hùng Việt Nam đã được phát huy cao độ vào thời đại Trần Nhân Tông... Không có quá khứ đó, việc phát huy không thể dễ dàng. Đây có thể là một đóng góp to lớn về đời sống tư tưởng của Trần Nhân Tông với dân tộc ta”(10). 

Hai là, Trần Nhân Tông là một trong rất ít người đi tiên phong trong việc sử dụng quốc ngữ (chữ Nôm) kể cả trong công việc triều chính, trong đời sống xã hội và trong sáng tác văn học. 

Ngày 27 tháng Ba năm Mậu Tý (1288), chỉ ít ngày sau khi trở về Thăng Long, Trần Nhân Tông ban chiếu, tuyên bố lệnh đại xá cho thiên hạ, Trần Nhân Tông buộc các quan phải đọc chiếu bằng hai thứ tiếng: Hán và Quốc ngữ. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: "Vua dụ ty Hành khiển giao hảo với viện Hàn lâm. Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho Hành khiển để giảng tập trước. Đến khi tuyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu”(11). Với Trần Nhân Tông, ý nghĩa của việc làm này là cốt để cho quần thần và dân chúng nghe được nội dung chiếu chỉ, bởi trong số họ đa số không biết chữ Hán hoặc có biết cũng chưa đạt đến trình độ thông hiểu hết; mặt khác còn là ở chỗ Việt hóa ngôn ngữ trong dân gian lẫn chốn cung đình. 

Trong đời sống xã hội, những lúc xa giá, tiếp xúc với chốn thôn dã, Trần Nhân Tông sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, vừa thể hiện sự hòa quyện quân dân, vừa có ý nghĩa đề cao tiếng mẹ đẻ, cổ xúy nhân dân chăm lo gìn giữ tiếng Việt. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: "Vua từng ngự chơi bên ngoài, giữa đường, hễ gặp gia đồng của vương hầu thì tất gọi chúng mà hỏi: ‘Chủ mày đâu?’, rồi răn các vệ sĩ không được thét đuổi. Đến khi về cung, bảo tả hữu rằng: ‘Ngày thường thì có thị vệ tả hữu, khi quốc gia lắm hoạn nạn thì chỉ có bọn chúng có mặt’”(12).

Trong văn học, Trần Nhân Tông là một trong số rất ít người đi tiên phong trong việc sử dụng chữ Nôm. Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca là hai tác phẩm được viết bằng chữ Nôm của Trần Nhân Tông. "Hai tác phẩm này thuộc loại văn học luận đề. Chúng là những bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận. Chúng đã dùng chữ Nôm như một ngôn ngữ để biểu hiện những tư tưởng tương đối khó một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó chữ Nôm đã trở thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng nào vào trong một tác phẩm. Nhờ thế, các tác phẩm ấy không những đã lôi cuốn được sự chú ý của người đương thời, mà còn có sức hấp dẫn đối với hậu thế. Đây chính là một trong những cống hiến lớn, mà hai tác phẩm này đã mang lại cho văn học Việt Nam”(13). 

Cư trần lạc đạo phu và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca(14) của Trần Nhân Tông, được xem như là những tác phẩm đầu tiên, hoàn chỉnh trong việc sử dụng chữ Nôm. Những tác phẩm này thực sự đã tác động sâu rộng đến truyền thống dân tộc, chứ không chỉ đối với Phật giáo. Với thời gian đi qua hàng mấy thế kỷ cùng với sự phá hoại của kẻ thù, bao nhiêu tác phẩm ra đời cùng thời, bây giờ đã thất truyền hoặc lắm chỉ biết đến tên, chứ nội dung là gì thì không rõ, song Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông vẫn được giữ gìn và trao truyền qua bao thế hệ cho đến tận ngày nay và chắc chắn mãi mãi sẽ được giữ gìn và phát huy giá trị. Điều này giải thích tại sao "trong ánh hào quang của nền văn học dân tộc, sáng ngời những tác phẩm của Trần Nhân Tông”(15). 

Một vị hoàng đế, một vị thiền sư, rất giỏi chữ Hán, mà lại buộc quần thần đọc chiếu với hai thứ tiếng, giao tiếp với dân bằng quốc ngữ, đặc biệt là sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm, trong đó diễn đạt những tư tưởng triết lý cao siêu của Phật giáo, như Cư trần lạc đạo phú. Đây không phải ngẫu nhiên mà là một tất yếu trong tính thống nhất giữa tư tưởng và hành động của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc. Từ kinh nghiệm giữ nước trong những thời kỳ trước đó; đồng thời là người lãnh đạo tối cao dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đầy cam go và ác liệt trước một đội quân hung bạo như quân đội Mông - Nguyên, Trần Nhân Tông ý thức sâu sắc rằng việc bảo vệ độc lập dân tộc không tách rời với việc xây dựng và phát huy chiều sâu của nền văn hóa dân tộc. Rõ ràng, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác "đối với Trần Nhân Tông không chỉ dừng lại ở chỗ ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’ mà còn là và chính là ‘nghệ thuật vị nhân sinh’, tức là phải đáp ứng được yêu cầu phát huy tính độc lập dân tộc ngay cả trong văn tự”(16). 

Ba là, Trần Nhân Tông đã sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đây được xem như là mặt nổi bật nhất trong sự nghiệp văn hóa của Trần Nhân Tông. Đầu thế kỷ XII, ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần thống nhất, trên cơ sở đó hình thành phái Thiền Trúc Lâm. Đây là thiền phái đầu tiên do một người Việt Nam sáng lập. Thiền phái Trúc Lâm đề cao sự tự ngộ, sự nỗ lực rèn luyện của hết thảy mọi người. Dù xuất gia hay tại gia, sống trong chùa hay ở ngoài đời, miễn là biết tu tập, cải tạo tâm từ ác chuyển thành thiện, từ xao động chuyển thành bình lặng, định tĩnh, biết phá trừ vô minh, tham dục thì đều đi đến con đường giác ngộ. Trong Cư trần lạc đạo phu, Trần Nhân Tông viết:

"Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng kim cương

 Dừng hết tham sân, mới làu lòng màu viên giác.

 ......
 Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc

 Sơm lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công” .

Điều quan trọng nhất là Thiền phái Trúc Lâm đã thể hiện tinh thần nhập thế hết sức mãnh liệt. Bản thân Trần Nhân Tông, khi xuất gia vẫn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Trần Nhân Tông đã chọn Yên Tử làm trung tâm của Giáo hội Trúc Lâm. Tại đây, trên đỉnh núi Yên Tử, cùng với việc tu chứng, Trần Nhân Tông có thể quan sát được sự động tĩnh của các cánh quân xâm lược từ phương Bắc xuống. Mặt khác, Trần Nhân Tông đi khắp các chốn thôn dã, khuyên dân bỏ những hủ tục, mê tín và thực hành giáo lý Thập thiện. Theo Trần Nhân Tông, "sống mà không giúp gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”. Ngay cả đến thời điểm trước lúc viên tịch, Trần Nhân Tông vẫn căn dặn các đệ tử rằng: "Các người hãy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việc nhàn”. Tiêu biểu hơn cả là việc Trần Nhân Tông đã đến tận Champa, tạo được mối quan hệ thân thiện láng giềng, đặt cơ sở cho việc Ô, Lý trở thành một bộ phận của Đại Việt sau đó. 

Cuộc đời của Trần Nhân Tông thể hiện một cách sinh động về tinh thần nhập thế mãnh liệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Khi làm vua thì thu phục được nhân tâm, "dĩ nhân tâm, vi kỷ tâm” để đạt cho được mục đích tối hậu: "Non sông muôn thuở vững âu vàng”. Khi trở thành thiền sư, Trần Nhân Tông, không chỉ chuyên lo việc "kinh kệ”. Thực ra việc “kinh kệ” đối với Trần Nhân Tông cốt để trí tuệ bừng sáng nhằm phục vụ nhân quần với một hiệu quả cao nhất. 

Trần Nhân Tông với sự nghiệp mở nước

Nói đến mở nước là nói đến "Công cuộc Nam tiến” của dân tộc ta. Khi nghiên cứu "Công cuộc Nam tiến” của dân tộc ta, Trần Nhân Tông phải được đặt ở vị trí cao nhất. 

Đối với Đại Việt, việc yên ổn "vùng phên dậu” phía Nam có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giữ vững nền độc lập dân tộc trước chính sách xâm lăng có tính thường trực của phong kiến phương Bắc. Vấn đề này đã được lịch sử đặt ra ngay từ các triều đại độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Năm 979, khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị ám hại, vua Champa nghe theo lời xúi giục của Ngô Nhật Khánh (phò mã của nhà Đinh) đã cho thủy quân, định xâm chiếm phía Nam Đại Cồ Việt. Song dường như "thiên thời” không chiều ý, hạm thuyền Champa bị bão tố đánh đắm, vua Champa buộc phải chạy về nước. 

Năm 980, sau khi lên ngôi, Lê Đại Hành đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Champa đặt quan hệ hòa hiếu, nhằm yên mặt Nam để lo việc chống Tống ở phía Bắc. Vua Champa ỷ vào thế mạnh, đã bắt giữ các sứ thần của ta. Năm 982, sau khi đánh bại quân Tống, Lê Đại Hành quyết định đem quân chinh phạt Champa, tiến thẳng đến kinh đô, phá thành trì rồi rút quân về. Quan hệ Việt - Champa tạm yên.

Dưới triều Lý, quan hệ Việt - Champa trở lại căng thẳng. Năm 1044, Lý Thái Tông đem quân tiến vào kinh đô Champa là Vijaya (Trà Bàn, Bình Định), giết vua Champa là Xạ Đẩu, bắt nhiều cung nhân và vũ nữ,... Bị thất bại nặng nề, Champa bề ngoài tuy phải thần phục, chịu cống nạp cho nhà Lý, nhưng bên trong lại mưu tính trả thù Đại Việt. Vào giữa thế kỷ XI, vua Champa là Rudravarman III (sử ta chép là Chế Củ) thường khiêu khích, ra sức chuẩn bị binh lực để chờ thời cơ đánh úp Đại Việt. Năm 1065, Rudravarman III cắt đứt hẳn quan hệ với nước ta. Được nhà Tống ủng hộ, Rudravarman III càng khiêu khích. Năm 1068, quân Champa xâm lấn biên giới, vượt biển tiến vào Nghệ An. Vua Champa còn cử sứ đoàn sang Trung Quốc cầu phong. Chính tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch đề ra kế hoạch lôi kéo Champa và Chân Lạp vào cuộc xâm lược Đại Việt. Vương An Thạch viết: “Chiêm Thành và Chân Lạp có huyết thù với Giao Chỉ, (vua Tống) cần sai sứ Hứa Ngạn Tiêu và Lưu Sơ mộ bọn buôn biển dăm ba người đi dụ các nước này cùng tham dự vào việc (đánh Giao Chỉ), cùng hiệp lực với Vương sư (chỉ quân Tống) công thảo. Sau khi bình định xong sẽ phong thưởng tước”(18). 

Để đẩy lùi mối nguy phía Nam, phòng họa phía Bắc, năm 1068, Lý Thánh Tông thân chinh đánh Champa. Trong cuộc xuất chinh này, Lý Thường Kiệt làm đại tướng quân đi tiên phong và kiêm chức nguyên soái. Kết thúc chiến tranh, Champa thua trận, Rudravarman III bị bắt. Để chuộc mạng, Rudravarman III phải cắt ba châu: Địa Lý, Bố Chính và Ma Linh(19) cho Đại Việt. Có thể xem đây như là sự kiện mở đầu công cuộc mở nước về phía Nam (Nam tiến) của dân tộc ta.

 Khi triều Trần thành lập, đế quốc Mông - Nguyên đã trở thành một đế quốc hùng mạnh vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ, và lịch sử đã cho thấy trong các chiến tranh xâm lăng Đại Việt, triều Nguyên không thể không tính đến việc sử dụng Champa như là một mũi tiến công từ phía Nam, đặc biệt là dưới thời Trần Nhân Tông.

Thật vậy, từ khi Trần Nhân Tông lên ngôi năm 1278 cho đến trước cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1285 và ngay cả sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh năm 1288, triều Nguyên, đứng đầu là Hốt Tất Liệt, vẫn nuôi tham vọng xâm lăng và trả thù Đại Việt khi có điều kiện. "Vấn đề Champa” vẫn được Hốt Tất Liệt xem như là một trong những "đòn binh pháp” hiệu quả để thôn tính Đại Việt. Nhưng chính sách ngoại giao linh hoạt và mềm dẻo của Trần Nhân Tông đối với triều Nguyên sau cuộc chiến tranh 1288, khiến tham vọng của Hốt Tất Liệt đã không thực hiện được cho đến lúc qua đời năm 1294. 

Năm 1299, Trần Nhân Tông xuất gia ở núi Yên Tử. Từ đây mở ra một bước ngoặt mới trong cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, mà dấu ấn đậm nét nhất của quá trình này là việc đưa hai châu Ô và Lý vào lãnh thổ Đại Việt. Đây chính là sự nghiệp mở nước của Trần Nhân Tông.

Châu Ô chính là vùng đất Ô Mã của Champa. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Champa năm 1283, Toa Đô đã biết đây là vùng đất "nằm gần nước An Nam”, như Nguyên sử đã ghi nhận. Còn châu Lý, tức vùng đất Việt Lý, mà Toa Đô phải đi qua trước khi tiến công vào trại Bố Chính và đất Hoan Ái của Đại Việt. Cánh quân Toa Đô từ phía Nam đánh ra đã gây nên diễn biến chính trị và quân sự phức tạp đến nỗi đích thân Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Thánh Tông đã phải chỉ huy để đối phó lại với chúng và cuối cùng đã chiến thắng vang dội với việc chém đầu Toa Đô và bắt sống gần một vạn quân Nguyên tại trận Tây Kết lần thứ hai.           

Hơn thế nữa, hai châu Ô và Lý vừa có núi cao hiểm trở chắn ngang ra biển (từ Bắc vào Nam phải lần lượt qua các đèo: Phước Tượng, Phú Gia và Hải Vân, cao nhất và nguy hiểm nhất là đèo Hải Vân; vừa có cảng sâu thuận lợi cho thủy quân như cảng Tư Hiền, Thừa Thiên Huế và cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Có thể nói rằng, trên cả ba lĩnh vực giữ nước, dựng nước và mở nước, vùng đất này giữ một vị trí chiến lược xung yếu. Mở nước về phía Nam, trước tiên là nắm lấy hai châu Ô và Lý, đã trở thành một xu thế tất yếu đối với sự sống còn của Đại Việt. Quan điểm này hầu như thống nhất trong chính giới Đại Việt lúc bấy giờ. Song tiến hành bằng biện pháp nào để đạt được "nhân quần hòa hợp, chúng sinh an lạc” đang là một vấn đề thách thức đối với triều Trần, trước hết là Trần Nhân Tông.

Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) thắng lợi, chính lúc này, giới quân sự Đại Việt đã gây sức ép với triều đình trong chính sách mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Song với cái nhìn của một bậc minh quân hòa quyện với một trí tuệ bát nhã của một vị thiền sư uyên thâm Phật học, Trần Nhân Tông đã đi theo một con đường khác, "hầu như nghịch lý với lịch sử”: Con đường hòa bình. Điều cần nhấn mạnh ở đây là để cho con đường này trở thành hiện thực, đích thân Trần Nhân Tông phải "xông pha trận mạc”. 

Tháng Ba năm 1301, với tư cách là một tăng sĩ, Trần Nhân Tông mở cuộc vân du Champa, đến tháng Mười Một cùng năm mới trở về Đại Việt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một vị hoàng đế với tư cách một tăng sĩ đã có chuyến hành trình ngoại giao dài nhất. Cái thời gian dài nhất này là một phần giải thích cho thành quả đạt được của chuyến đi lịch sử này. 

Thời gian ở Champa, Trần Nhân Tông đã được Hoàng đế Chế Mân đón tiếp nồng hậu, bởi trong cuộc chiến tranh chống xâm lược Mông - Nguyên vừa mới kết thúc không lâu về thời gian, Đại Việt và Champa là đồng minh của nhau. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Champa của triều Nguyên năm 1283, Trần Nhân Tông không chỉ không đồng ý cho Hốt Tất Liệt mượn đường Đại Việt xâm lăng Champa, mà ngược lại đã gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện cho nhân dân Champa chống Mông - Nguyên, góp phần giúp nhân dân Champa giành thắng lợi. Trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, Trần Chí Chính viết: "Có lúc Ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía Nam đến tận Champa, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Champa biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn Ngài về nước”(20). 

Chắc chắn với thời gian ở Champa, giữa Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có những cuộc đàm đạo ngoạn mục. Sử liệu không ghi lại đầy đủ nội dung những cuộc đàm đạo này, trừ việc Chế Mân đồng ý dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt để được kết duyên với công chúa Huyền Trân, người con gái duy nhất của Trần Nhân Tông. Trần Chí Chính viết tiếp trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, rằng Chế Mân đã "đem đất hai Châu làm lễ cúng dâng cho Ngài. Ấy là Thần châu và Hóa châu nay vậy”(21). 

Trở lại Thăng Long, Trần Nhân Tông thông báo với triều thần về kết quả chuyến đi, trong đó nội dung quan trọng nhất là việc gả công chúa Huyền Trân cho Hoàng đế Champa, để hai Ô và Lý sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Tháng Hai năm Ất Tỵ (1305), Chế Mân sai sứ là Chế Bồ Đài và hơn một trăm người cùng đi, đem vàng, bạc, hương quý và vật lạ đến Thăng Long dâng để xin sính lễ. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: "Tháng Hai, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ vật cầu hôn”(22). Sử liệu này cho thấy cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân đã được hình thành trên cơ sở tự nguyện từ phía vương triều Champa, chứ không có một sức ép nào từ phía Đại Việt.

Điều này là hợp lý, bởi khi việc cầu hôn của Chế Mân được đặt ra, triều thần Đại Việt hầu hết không đồng ý, chỉ Văn Túc Vương Đạo Tái cho là nên và Trần Khắc Chung tán thành. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép tiếp: "Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành, việc bàn mới quyết”(23). Hẳn là triều thần không hiểu hết ý nghĩa của cuộc hôn nhân mà Trần Nhân Tông đã ra sức vun đắp, tạo dựng; hoặc với họ muốn mở nước nên chăng dùng đến biện pháp quân sự; nhưng chắc chắn trong họ vẫn còn vướng bận sự kỳ thị chủng tộc. Mặc dù vậy, quyết định Trần Nhân Tông trước sau vẫn không thay đổi. Tháng Sáu năm Bính Ngọ (1306), khi đưa công chúa Huyền Trân về Champa, văn nhân trong triều ngoài nội, nhiều người mượn điển vua nhà Hán gả Chiêu Quân cho Hung Nô, làm thơ Nôm để mỉa mai, chê cười: 

"Tiếc thay cây quế giữa rừng, 

Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”.

Còn sử gia Ngô Sĩ Liên thì viết: "Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước...”(24). Một người can trường, “đứng mũi chịu sào”, lãnh đạo nhân dân Đại Việt giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại 1285 và 1288 như Trần Nhân Tông, hơn hết là một vị Tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, không thể cho phép chúng ta nghĩ "đổi lại lệnh” theo cách nghĩ của Ngô Sĩ Liên. Hoặc có ý kiến cho rằng: "Trong khi giải quyết sự kiện này (sự kiện Huyền Trân - TG) Nhân Tông đã dùng biện pháp cổ truyền, tức dùng quan hệ hôn nhân như một thủ đoạn chính trị. Bản thân sự kiện cũng như tư tưởng chỉ đạo không quan hệ gì đến Phật giáo. Đây là một hành động vua do tư tưởng chính trị chỉ đạo”(25). Cách nhìn này không hợp lý bởi xưa nay mọi chính sách, mọi hành động, nhất là của các bậc quân vương, đều phải xuất phát từ một hệ tư tưởng cụ thể. Đối với Trần Nhân Tông, "sự kiện Huyền Trân” là vì mục tiêu tối hậu của đất nước trên cơ sở "hòa hợp nhân quần”. Nó thể hiện rất rõ nét tư tưởng Phật giáo, bởi lúc này chính Trần Nhân Tông là một thiền sư. 

Đúng vậy, vốn là một vị thiền sư uyên thâm Phật học, người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, được tôn xưng là vị Vua Phật Việt Nam, Trần Nhân Tông hơn ai hết đã thấm nhuần sâu sắc tinh thần bình đẳng chứa đựng trong tư tưởng Phật giáo: "Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ; không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”, nên trở lực của sự kỳ thị chủng tộc ở Trần Nhân Tông đã bị loại bỏ một cách tuyệt đối. Và cuộc hôn nhân kỳ thú đó được tạo dựng trong một tinh thần như vậy. 

Và cần thấy thêm rằng, để có được cuộc hôn nhân lịch sử mà chú rể là hoàng đế Champa và cô dâu là công chúa Đại Việt, Trần Nhân Tông đã phải vượt qua nhiều trở lực khác, trong đó cái khó khăn nhất là thắng "cái tự ngã”. Chúng ta biết rằng công chúa Huyền Trân là con gái duy nhất của Trần Nhân Tông. Vượt qua được những vướng mắc tình cảm thiêng liêng của gia đình, Trần Nhân Tông và con là Huyền Trân đã nêu một tấm gương sáng ngời hy sinh vì đại cuộc.

Hai châu Ô và Lý "vuông ngàn dặm” đã thực sự được sáp nhập vào Đại Việt (1306). "Sau cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thắng lợi (1288), thanh thế Đại Việt lẫy lừng khắp cõi Đông Á mà chọn kế sách mở nước bằng con đường hữu nghị và hòa bình thì thật là vĩ đại. Bởi lẽ xưa nay trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới, việc mở nước theo con đường phi binh đao thì hiếm thấy”(26). 

Một thực tế là khi Ô - Lý sáp nhập vào Đại Việt, người các thôn La Ỷ, Tác Bồng, Đà Bồng không chịu phục, song kế sách an dân của Trần Anh Tông đã thuyết phục được họ. Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tông sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến tuyên bố ý đức của triều đình, chọn người trong dân chúng bổ dụng làm quan, cấp ruộng đất và miễn tô thuế ba năm; đồng thời đổi hai châu Ô, Lý làm châu Thuận và châu Hóa(27). Về sự kiện này, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: "Đinh Mùi, (Hưng Long) năm thứ 15 (1307),... Mùa xuân, tháng Giêng, đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên dân hai châu đó. Trước đấy chúa Chiêm Thành Chế Mân đem đất hai châu đó làm lễ vật dẫn cưới, nhưng người các thôn La Thủy, Tác Bồng, Đà Bồng không chịu theo. Vua sai Nhữ Hài đến tuyên dụ đức ý (của nhà vua) chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”(28).

Về sự nghiệp mở nước về phía Nam mà chính Trần Nhân Tông, "người vừa thiết kế, vừa thi công” như đã trình bày có hai vấn đề sau đây đã đến lúc cần phải được khẳng định một cách minh bạch:

Một là, khi bàn đến cuộc đời và sự nghiệp Trần Nhân Tông có quan điểm cho rằng sau khi xuất gia tu Phật, Trần Nhân Tông chỉ tập trung lo việc đạo mà quên đi việc đời. Theo Lê Mạnh Thát, ngay cả "trong giới xuất gia của Phật giáo đã hình thành một quan niệm là khi vua Trần Nhân Tông xuất gia cũng là lúc nhà vua ‘bỏ ngôi báu, vào cửa thiền, quên mình vì đạo, vừa khi cơ thiền đáp ứng, thì quả nhiên gương sáng chẳng nhọc’ như Diệu Trạm đã viết trong lời tựa in lại Tam tổ thực lục tờ 1a5-6 vào năm Thành Thái thứ 9 (1897)”(29). Cách nhìn trên đây về sau tiếp tục được lặp lại ở một số tác giả: "Nhưng thắng giặc không lâu, Nhân Tông nhường ngôi cho Anh Tông để đi tìm một cuộc sống tĩnh tại trong cảnh tu hành, trở thành ông tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm và gửi hơi thở cuối cùng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử tĩnh mịch lúc mới 51 tuổi”, rằng "Ông muốn dứt bỏ những bận rộn thường tình của xã hội để tìm lẽ huyền vi chi phối cuộc sống con người”(30). Chắc chắn rằng cách nhìn này không còn có sức thuyết phục khi chúng ta nhìn vào sự nghiệp mở nước của Trần Nhân Tông với việc hai châu Ô, Lý sáp nhập vào Đại Việt là lúc Trần Nhân Tông đã khoác trên mình áo cà sa. 

Hai là, "việc mở nước vượt qua đèo Hải Vân, một dãy núi cao và hiểm trở nhất, chắn ngang con đường thiên lý Bắc - Nam mà không bằng con đường đao binh; và chắc chắn nếu lịch sử không chọn cuộc hôn nhân Chế Mân - Huyền Trân mà bằng con đường khác thì xương máu đồng loại cũng phải chất thành sông núi”(31). Mặt khác, vượt qua đèo Hải Vân đem lại cho Đại Việt hai cửa biển: Tư Hiền và Đà Nẵng vừa sâu, vừa thuận lợi cho thủy quân; kết hợp với núi cao hiểm trở không chỉ góp phần bảo vệ biên cương phía Nam mà hơn thế nữa nó đã mở ra bước phát triển mới về phía Nam của Đại Việt. Thật vậy, từ đây dòng Nam tiến của người Việt ngày càng dồn dập như một cơn hồng thủy đang cuồn cuộn dâng lên. Chưa đầy một trăm năm sau khi Ô Lý đã thành châu Thuận và châu Hóa, thì Hồ Quý Ly đã có thêm Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Thêm nửa thế kỷ nữa, Lê Thánh Tông đã cắm mốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên. Với ý nghĩa như vậy, nên khi đề cập đến sự nghiệp mở nước của dân tộc ta, Trần Nhân Tông phải được đặt ở vị trí cao nhất. 

Tóm lại, sự nghiệp của Trần Nhân Tông đối với dân tộc trên cả ba lãnh vực: Giữ nước, dựng nước và mở nước, thật là vĩ đại. Một vấn đề đặt ra là phải chăng lịch sử đã chưa có một cái nhìn toàn diện về sự nghiệp của Trần Nhân Tông? Với tư cách là người nghiên cứu lịch sử, tôi tin không như thế. Nếu điều tôi tin là sự thực thì tại sao nhiều thành phố, thị xã, thị trấn trong cả nước, tên đường phố Trần Nhân Tông ít xuất hiện? Và nếu có chăng cũng chưa tương xứng với sự nghiệp vĩ đại của vị vua Phật Trần Nhân Tông. Có điều đáng nói là Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Đà Nẵng và Hội An là những nơi mà dấu ấn mở nước của Trần Nhân Tông rất đậm nét, lại không có một con đường nào mang tên Trần Nhân Tông.

Viết đến đây tôi rất lấy làm cảm kích khi những năm gần đây, Nhà nước đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc trùng tu, tôn tạo thắng cảnh Yên Tử (Quảng Ninh) và hiện nay Công ty cổ phần Du lịch Hương Giang đang đi đến những ngày cuối cùng cho việc hoàn thành công trình với qui mô lớn: "Đền thờ vua Trần Nhân Tông” tại núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế(32), công trình kỷ niệm 750 năm ngày sinh của Trần Nhân Tông (1258-2008). Công trình này một mặt thể hiện đạo lý: "Uống nước nhớ nguồn”; mặt khác, cũng là một trong những việc làm thiết thực góp phần khẳng định sự nghiệp vĩ đại của Trần Nhân Tông đối với dân tộc; lại càng cảm kích hơn nữa khi được Nhà nước đồng ý, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ trì tổ chức "Đại lễ tưởng niệm và Hội thảo khoa học 700 năm, ngày mất của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông” hôm nay. Bài viết này được xem như một nén nhang để tưởng nhớ một ngôi sao sáng rực trên bầu trời Đại Việt ở thế kỷ XIII. 

Lê Cung (*)

(Giác Ngộ)

(*) PGS. TS. Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP, Đại học Huế. 

(2) Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký Toàn thư. Bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Ấn bản điện tử, năm 2001, tr.200. 

(3) Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập 2, Kiến văn tiểu lục, Hà Nội, 1977, tr.258-259. 

(4) Nguyên sử, Quyển 209, An Nam truyện, t.5b-6a. 

(5) Nguyên sử, Quyển 209, An Nam truyện, t.5b-6a. 

(6) Lê Văn Hưu, ... Sđd., tr.195. 

(7) Lê Văn Hưu, ... Sđd., tr. 199 - 200. 

(8) Phạm Quế Dương. Tư tưởng đạo Phật đời Trần một nguyên nhân trọng yếu ba lần đại thắng Nguyên Mông thế kỷ XIII trong “Trần Nhân Tông vị vua Phật Việt Nam”. Nxb. Tổng hợp TP.HCM, 2003, tr.44. 

(9) Lời phát biểu của Tổng Bí thư Lê Duẩn tại Hội thảo khoa học “100 năm lịch sử Huế (4-7-1885 - 1995)” tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Huế tháng 6-1995, trong Lê Cung, “Trần Nhân Tông Anh hùng, Thi sĩ và Thiền sư ...”. Đại học Huế, số 44-45, Tháng 1 & 2, 2004, tr.96. 

(10) Lê Cung. “700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế, nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 175, tháng 7, 2006, tr.24. 

(11) Lê Mạnh Thát. Sđd., tr.171. 

(12 & 13) Lê Văn Hưu, ... Sđd., tr.198 -199, 202. 

(14) Lê Mạnh Thát, Sđd., tr. 274. 

(15) Sau Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông, trong nền văn học chữ Nôm của nước ta có thể kể đến Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang (1254-1334) và Giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361). 
(16) Nguyễn Hồng Dũng. Văn học đời Trần và thơ văn Trần Nhân Tông. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc gia “Thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông (1258 - 1308)”, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, tháng 12-2003, tr.114. (18) Trương Hữu Quýnh (Chủ biên). Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập I. Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, tr.135. (19) Hai châu Bố Chính và Địa Lý là đất Quảng Bình, châu Ma Linh là phần đất Bắc Quảng Trị, từ Đông Hà trở ra. (20) & (21) Lê Mạnh Thát, Sđd., tr.202. 

(22) Lê Văn Hưu, ... Sđd, tr.218. 

(23) & (24) Lê Văn Hưu, ... Sđd, tr.219. 

(25) Nguyễn Duy Hinh. Trần Nhân Tông - Vua Bụt tư tưởng và hành động trong “Trần Nhân Tông vị vua Phật Việt Nam” (Nhiều tác giả). Nxb. Tổng hợp TP.hcm, 2003, tr.70-71. 
(26) Lê Cung. "Thêm một số suy nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông". Nguyệt san Giác Ngộ, số 97, tháng 4, 2004, tr.59. 

(27) Châu Thuận gồm thị xã Đông Hà (Nam sông Hiếu), huyện Triệu Phong, thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị và các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay; châu Hóa gồm các huyện Hương Thủy, Phú Vang và huyện Phú Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng và thành phố Hội An và các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay. 

(28) Lê Văn Hưu, ... Sđd, tr.219. 

(29) Lê Mạnh Thát, Sđd., tr.309-310. (30) Trần Lê Sáng. Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần - Hồ trong Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học, 1960 - 1999, Tập 2, Nxb. TP.HCM, 1999, tr.232. 
(31) Lê Cung, Tạp chí đã dẫn, tr.26. 

(32) Trong một số bài viết trước đây như: “Trần Nhân Tông Anh hùng, Thi sĩ và Thiền sư ...”. Đại học Huế, số 44-45, Tháng 1 & 2, 2004; “Thêm một số suy nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”. Nguyệt san Giác Ngộ, số 97, tháng 4, 2004; “700 năm Thuận Hoá - Phú Xuân - Huế, nghĩ về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 175, tháng 7, 2006, ở lời kết, chúng tôi đã có đề nghị: “... Huế, thành phố lịch sử - văn hoá - du lịch, tên đường Trần Nhân Tông, chúng tôi cho rằng vẫn chưa đủ mà còn cả tượng đài vua cha Trần Nhân Tông và công chúa Huyên Trân”. “Lý luận thì màu xám, mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi”. Quả vậy, thực tế đã vượt xa hơn đề nghị của chúng tôi. Năm 2007, để tiến tới kỷ niệm “750 năm ngày sinh của Vua Phật Trần Nhân Tông (1258-2008)”, Công ty Cổ phần du lịch Hương Giang Thừa Thiên Huế đã đầu tư giai đoạn I, xây dựng Đền thờ Công chúa Huyền Trân và tháp chuông Hòa Bình tại núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế. Công trình này đã được khánh thành vào ngày 26-03-2007. Hiện nay, Công ty được lãnh đạo Tỉnh cho phép đầu tư giai đoạn II, xây dựng “Đền thờ vua Trần Nhân Tông và đúc pho tượng vua bằng đồng đỏ nguyên chất cao 3 mét, nặng 2.000 kg”. Công trình này sẽ được khánh thành vào dịp kỷ niệm “750 năm ngày sinh của Vua Phật Trần Nhân Tông (1258-2008)” ngày 8-12-2008 (ngày 11 tháng 11 năm Mậu Tý). Cả hai đã thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, bày tỏ lòng tôn vinh của nhân dân Thuận Hóa trước đây và Thừa Thiên Huế hiện nay đối với Đức Vua Phật Trần Nhân Tông, thực sự góp phần nâng cao vị trí thành phố Huế với tư cách là một thành phố Festival của cả nước và chắc chắn sẽ tạo ra một trung tâm du lịch văn hoá tâm linh thú vị, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Giá như thành phố Huế có một tên đường Trần Nhân Tông chạy từ Đàn Nam Giao đến Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, thay cho tên đường Trần Nhân Tông tại phường Tây Lộc, một con đường vừa ngắn, vừa hẹp không tương xứng với sự nghiệp vĩ đại của Trần Nhân Tông, thì trọn ven biết bao!

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online